CHƯƠNG I · IXPhần 9

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Mấy hôm nay làng Kim-Đôi vào đám.

Nhất niên nhất lệ, làng này cũng như nhiều làng khác tại vùng quê Bắc-Việt, tháng tám nhân dịp Thu tế thường mở hội để dân làng mua vui.

Người dân quê quanh năm bận bịu với đồng ruộng, hàng năm chỉ được nhàn-rỗi về vụ giêng hai và tháng tám. Giêng hai ngày rộng tháng dài, lúa chiêm đã cấy xong, việc làm mùa cũng vãn, người ta chỉ chờ ngày gặt hái.

Tháng tám lúa mùa cũng đã cấy, vụ nước lớn đã qua, người dân cũng rỗi rãi chờ vụ gặt. Bởi vậy, các làng xã nhiều nơi mở hội vào đám trong những tháng giêng tháng hai và tháng tám, gọi Xuân tế và Thu tế. Trong ngày hội có tế lễ, rước xách và có nhiều trò vui để dân làng giải-trí và dân các làng lân-cận tới mua vui.

Làng Kim-Đôi mở hội từ mồng Mười tới Mười Lăm tháng tám. Các bô-lão, các vị chức-sắc được làm chủ-tế hoặc phụ-tế hoặc phụ-tế đều phải lo sắm-sửa quần áo cho chỉnh-tề để dự tế. Đó là một vinh dự lớn tại nơi thôn xã, khi ra chốn đình-trung.

Các trai làng từ 18 tuổi trở lên được cử vào chân đi rước, khiêng kiệu, cầm cờ hoặc chơi âm-nhạc. Các chàng được cử đi rước cũng phải sắm y-phục cho thật đẹp, thật mới, vì ngày hội có nhiều gái làng và gái thiên-hạ tới xem rước, xem tế. Đám rước thường đi từ đình tới chùa, hoặc từ đình xã tới đình thôn. Ban ngày thì rước tế, ban tối thì có hát chèo ngay ở sân đình, có các cụ cầm trống thờ. Mỗi tiếng tung, cắc vào mặt trống hoặc vào thành trống đều có ý nghĩa thưởng, phạt, và khi chi tiền hát chèo, có thêm tiền thưởng, theo với số tung, cắc.

Ngày hội, trai gái làng nô nức đi xem, và trai gái thiên-hạ cũng kéo tới.

Đó là một thông-lệ tại đồng quê, khi làng này kéo hội người làng khác rủ

nhau tới xem, và đến khi làng khác vào đám người làng này cũng kéo nhau đến xem lại.

Đó là những dịp duy nhất để trai gái trong làng cũng như trai gái thiên hạ gặp nhau, đấy là những dịp duy nhất để các cô thôn nữ thoát khỏi sự kiềm

tỏa của câu « nam nữ thụ thụ bất thân ».

Có lẽ người ta thấy sự quá khắt-khe đến khô-khan của đạo-lý không cho trai gái được gần gũi truyện trò với nhau, cho nên trong những ngày hội-hè đình đám người ta cố tình quên sự khe-khắt đó đi, để cho bọn nam nữ

mới lớn lên có dịp gặp-gỡ nhau trao đổi đôi ba câu chuyện. Lẽ tất nhiên có cả chuyện yêu đương, nó đã làm đầu mối cho nhiều cuộc lương-duyên tốt đẹp.

Nhân dịp làng mở hội, học trò lớp học ông đồ Ngư đều được nghỉ học.

Các trò con trai lớn trên mười tám phải tham dự các cuộc tế rước còn các trò nhỏ cũng như các nữ-sinh được dịp đi xem hội.

Khoan và Đáp cũng có chân đi rước. Và cả Thúc nữa.

Nhà Thúc sẵn tiền, bộ quần áo đi rước của chàng sang trọng lắm.

Đầu chàng chít khăn lượt tàu đen lánh, áo the ba-chỉ phủ ngoài áo dài trắng, quần lụa mở gà. Chiếc thắt lưng điều thắt ngoài áo the đỏ chói bằng nhiễu Kỳ-Cầu, một thứ nhiễu rất tốt. Khoan và Đáp cũng ăn mặc chỉnh tề

đúng lệ làng. Hai chàng phải cắt vào chân khiêng kiệu, còn Thúc nhờ thế-lực của cha được làng cử vào ban âm-nhạc.

Trong lúc đi rước, các chàng trai tuy khiêng kiệu, hoặc cầm cờ, hoặc phụ trách công việc khác, nhưng mắt vẫn không rời khỏi đám khán giả đi xem rước, trong đó có các cô gái làng má đào yếm thắm, yểu-điệu thanh-tân, dáng điệu dịu-dàng khả-ái, với những nụ cười kín-đáo đáng yêu. Và chính các cô đi xem rước, không phải để xem cờ hoặc để nghe đàn nghe địch, nhưng cốt để cho các chàng trai đi rước ngắm mình, và mình cũng ngắm lại.

Các cô thường đi một bọn đôi ba cô. Có đi như vậy, mới vui, mới khỏi ngượng-ngùng e-lệ. Các cô rúc-rích cười cùng nhau khi một chàng trai trong đám rước nhìn mình bước hụt, rồi các cô cùng góp ý kiến về trai làng ở thôn trên xóm dưới.

Thảo và Hoài cũng ở trong đám các cô đi xem rước. Mắt Thảo không rời khỏi Thúc, tuy thỉnh-thoảng nàng cũng có ngắm các chàng trai khác.

Trông Thúc có vẻ sang trọng hơn những bạn cùng đi rước, với bộ quần áo

đẹp và đắt tiền. Thúc cũng để ý nhìn ra bên đường. Chàng cốt ý tìm kiếm Tiệp trong đám các cô đi xem hội, nhưng chỉ thấy các cô gái khác, cô nào cũng trang-điểm mỹ-lễ quần áo mới, yếm đào, giải lụa. Mắt chàng gặp mắt Thảo. Chàng mỉm cười Thảo cũng mỉm cười theo.

Thảo chỉ cho Hoài : « Anh Thúc kia kìa ! Anh ấy đánh đàn ».

Hoài ngó theo tay Thảo chỉ. Nàng bắt gặp Thúc đang nhìn về phía mình và Thảo. Trông Thúc sang-trọng lịch-sự lắm. Vậy mà sao, ông đồ lại từ chối không gả Tiệp cho Thúc.

Hoài bảo Thảo : « Trông anh Thúc ăn mặc sang quá ! »

- Nhà ông Chánh-Tổng thiếu gì tiền.

Đám rước rầm-rộ đi. Hôm nay rước từ đình thôn Kim-Đôi đến chùa làng. Theo tín-ngưỡng của dân làng, ngày hôm nay đức Thành-Hoàng tới yết-kiến đức Phật.

Đi đầu đám rước là trống làng, một chiếc trống cái to do hai người rước khiêng và một ông quan viên cầm dùi đánh từng tiếng một. Sau đó là mấy thanh niên thập bát vác cờ đuôi theo ngũ hành, màu sặc-sỡ xanh, đỏ, trắng, tím, vàng. Những lá cờ phấp-phới bay trước gió như mừng nền thái-hòa thịnh-trị của đất nước.

Hết đoàn cầm cờ, tới đoàn thanh-niên mang những tự-khí gồm đao kiếm, bát-bảo, lộ-bộ sơn son thếp vàng. Họ xếp thành hàng đôi, bước đi hùng dũng theo nhịp trống.

Một tiếng trống, hai tiếng trống ! Họ bước đều !

Sau đoàn vác đao kiếm côn chùy là ban âm nhạc.

Có những chàng trai phồng mép thổi sáo, có những nhạc sĩ dẻo tay đánh đàn, và lại có những chàng chơi sinh tiền hoặc đánh trống bưng. Sinh tiền là một nhạc khí gồm những đồng tiền cổ, lồng vào một chiếc cán bằng sắt. Chơi sinh tiền phải biết cách rung chiếc cán để những đồng tiền chạm vào nhau gây nên những âm thanh hòa nhịp với tiếng đàn, tiếng nhị, tiếng trống bưng, tiếng sáo.

Rồi một cụ già áo thụng khăn lam cầm hương đi trước kiệu. Hai bên cụ

già có hai quan-viên hoặc chức-sắc khác đi kèm, cũng khăn lam áo thụng.

Ba người này được hai thanh niên đi sau vác lọng che nắng. Những chiếc lọng mặt ngoài màu đen, nhưng bên trong màu sặc-sỡ với những ngù kim-tuyến óng-ánh bên những mảnh kính long-lanh. Lọng xòe rộng đến hai sải tay. Cán lộng bằng tre được sơn đen bóng nhoáng. Vác lọng xem chừng nặng, chốc chốc lại có hai thanh niên khác tới thay phiên nhau.

Kế bên cụ già cầm hương là kiệu của đức Thành-Hoàng. Chiếc kiệu sơn màu đỏ chói có dát những hoa bạc điểm vàng rực rỡ. Kiệu hình một ngôi đền nhỏ, bốn góc uốn cong. Trên đỉnh kiệu có vành nguyệt lấp lánh dưới ánh nắng thu theo đà khiêng của đám thanh-niên khỏe mạnh. Trong kiệu, về mé sau có kê bài vị của Đức thần linh. Ngay trước bài vị là bát hương khói trầm nghi ngút. Mé trước và hai bên có rèm chỉ ngũ-sắc. Những dây tua xanh đỏ treo mé trên tăng màu sặc-sỡ cho những chiếc riềm lung-lay trước gió.

Tám thanh-niên khỏe mạnh khiêng chiếc kiệu. Hai thanh niên khác vác hai chiếc quạt lông thật lớn áp vào hai bên kiệu. Lại có thêm hai thanh niên vác hai chiếc tàn bằng nhiểu nhiều màu, hoa sặc-sỡ đi theo che kiệu.

Chiếc kiệu tiến đủng-đỉnh. Các quan viên trong làng và các bà các cô đi sau vừa đi vừa lâm-râm cầu-nguyện.

Có những chàng trai đội đồ lễ đi theo. Những đồ lễ này dùng để đức Thành-Hoàng vào lễ Phật.

Đám rước kéo dài trong đường làng, người trong làng đi xem rước rất đông. Họ đi ở hai bên đường để nhìn ngắm người đi rước, nhưng cũng còn nhiều người đi sau kiệu, tiếp vào các vị quan-viên thành một khối.

Những con trẻ chạy tung-tăng sung-sướng hớn-hở. Các cô gái làng miệng tươi như hoa, mắt sáng ngời cười nói chỉ trỏ.

Hoài và Thảo vẫn đi bên cạnh đường nhìn theo ban âm nhạc trong đó có Thúc.

Chiếc kiệu thần lướt qua trước mặt các cô.

Một em nhỏ đứng cạnh nói với một em khác : « Kìa anh trưởng tràng đang khiêng kiệu. Cả anh Đáp nữa mày ơi ! »

Hoài và Thảo nhìn vào quả nhiên thấy Khoan và Đáp, kẻ trước người sau đang bước đều chân theo nhịp bước của các bạn đồng-hành. Hai cô không thấy hai người nhìn ra, nhưng chính ra cả hai người đã thấy rõ hai cô đang chỉ trỏ về phía họ.

Hoài bảo Thảo : « Hai anh ấy đi nghiêm-chỉnh quá, không thèm nhìn ra bọn mình ».

Thảo chưa kịp trả lời thì bỗng có một người đi len vào giữa hai cô. Hai cô quay lại là Tiệp. Tiệp cũng cần đi xem rước để được thấy mặt Khoan, để

được nhìn điệu bộ Khoan trong lúc làm bổn-phận trai làng.

Tiệp bảo hai cô : « Hai chị cũng đi vui nhỉ. Em vừa ở nhà ra đây, may quá vừa kịp xem rước ».

Hai cô cùng cười. Hoài chỉ Khoan và Đáp nói : « Kia kìa, anh Khoan và anh Đáp đang khiên kiệu, chị thấy chưa ? Và cả anh Thúc ở ban âm nhạc, trông lịch-sự lắm ».

Tiệp nhìn vào đám kiệu. Vừa lúc ấy Khoan cũng nhìn ra. Bốn mắt gặp nhau. Đôi lòng cùng rung-động.

Ba cô dắt nhau đi theo đám rước tới tận chùa. Ở cổng chùa, sư cụ đã đứng đón kiệu thần.