CHƯƠNG THỨ TƯPhần 5 · trang 207–276

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 207CHƯƠNG THỨ TƯ TỔNG QUÁT VỀ NẾP SỐNG SINH HOẠT CỦA ĐỒNG BÀO THƯỢNG A. Các sắc dân - Số lượng - Địa vực cư trú Núi rừng Cao Nguyên xưa nay vẫn là giang sơn của đồng bào Thượng.

Đa số chúng ta ít có ý niệm rõ rằng về chủng tộc trong các bộ lạc đồng bào Thượng. Nói đến đồng bào Thượng, bao giờ người Kinh cũng hình dáng ra một người đàn ông nước da rám nắng, mình đóng khố, lưng đeo gùi, miệng ngậm tầu thuốc dài bốc khói.

Thật ra, trong cái khối người mà mới nhìn qua thấy có một sự thuần nhất về hình thức và trình độ khai hóa đó, lại có nhiều sự khác biệt phức tạp về ngôn ngữ, tập quán, tính tình.

Trong đoạn sau, chúng ta sẽ bàn đến những tương đồng và dị biệt đó. Ở đây chúng ta thử tìm xem có bao nhiêu sắc dân đã cấu tạo nên toàn khối người Thượng ?

Theo bảng thống kê năm 1967 thì ở miền Nam Việt Nam có 642.855 đồng bào Thượng, nhưng theo những tài liệu không chính thức thì con số đó lên tới 900.00o người.

Tổng số đó bao gồm trên 20 sắc dân khác nhau. Nếu kể từ Bắc xuống Nam chúng ta thấy có những bộ lạc quan trọng như sau :

I. Người TEU gồm các chi nhánh sau đây :

Trang sách 208- Người VÂN KIỀU còn ghi là BRU, ước lượng 22.500 ở Quảng Trị.

- Người TÔI-IO còn gọi là PACOH, ước lượng 6.500 ở Quảng Trị và Thừa Thiên.

- Người KHATU còn gọi là TEU, PHƯƠNG, ước lượng 22.800 ở Thừa Thiên, Quảng Tín, Quảng Nam. 2. Người HRÉ gồm 2 nhánh :

- Người CÙA còn gọi là CÀ GIÒNG, TRẦU, ĐỚT, ước lượng 11.500 ở Bắc Quảng Ngăi.

- Người HRẾ còn gọi là Đá Vách ước lượng 43.000, ở phía nam Quảng Ngãi. 3. Người DIẾ ước lượng 7.000 ở Quảng Tín và cực Bắc Kontum với 2 chi nhánh :

- Người DUAN 3.500.

- Người STRIÊNG 1.000 4. Người SEDANG ước lượng 50.000 ở phía Nam Kon- tum, còn có 2 chi nhánh sau đây :

- Người REGAO (9.000 người) do sự pha giống giữa người SEDANG và BAHNAR.

- Người HALANG (3.000 người) do sự pha giống giữa người SEDANG và JARAI. 5. Người BAHNAR ước lượng 58.000, ở Kontum (8.000), Pleiku (5.000), Bình Định (43.000). 6. Người JARAI ước lượng 134.000, ở Pleiku (96.000), Kontum (10.000), Phú Bồn (22.000). 7. Người RHADÉ còn gọi là Ê-DÊ ước lượng 80.000, ở Darlac (63.000), Khánh Hòa (6.000), Phú Bồn (8.000), Quảng Đức (1.000). Ở giáp ranh Phú Bốn và Darlac còn có người HA- ROI (7.000 người) do sự pha giống giữa JARAI và RHADÉ.

Trang sách 2098. Người MNONG ước lượng 14.000 ở Quảng Đức. 9. Người KOHO ước lượng 43.000 người gồm có những chi nhánh :

- Người OLL hay CHIL gồm 1o 00o người ở Tuyên Đức - Người LAT ước lượng 1.000 người ở Tuyên Đức.

- Người SRÊ ước lượng 17.000 người ở Tuyên Đức, Lâm Đông.

- Người MA ước lượng 24.000 người ở Tuyên Đức, và Lâm Đồng Quảng Ngãi.

- Người NOP ước lượng 1.coọ người ở Tuyên Đức. 10. Người ROGLAI ước lượng 30.000 ở Bình Thuận (4.000), Ninh Thuận (11.000), Khánh Hòa (9.000), Lâm Đồng (2.000) với chi nhánh người RAI ở Bình Tuy (2.000).

I1. Người CHAM ước lượng 32.000, ở Ninh Thuận (15.000), Bình Thuận (1I.000), Bình Định (5.000), Bình Tuy (1.000): 12. Người CHURU ước lượng 5.000, ở Tuyên Đức (4.000), ở Ninh Thuận (1.000). 13. Người STIÊNG ước lượng 36 000, ở Phước Long • (21.000), Bình Long (13.000) và Long Khánh (1.500). 14. Người CHROO ước lượng 6.500, ở Long Khánh (6.000) Bình Tuy (500).

I. Đặc tính I. Hình dáng Nếu mới nhìn sơ qua, chúng ta khó phân biệt được các sắc dân Thượng. Người nào ta cũng thấy giống người nào. Vẫn

Trang sách 210nước da rắm nắng, bụi bậm, vẫn cặp mắt ngơ ngác đậm nét núi rừng. Tuy nhiên, qua nhiều làng Thượng nếu chú ý quan sát về hình dáng thế chất của dân trong các bộ lạc, chúng ta thấy có mấy loại người đặc biệt.

Có khi ta gặp những người có những đặc điểm của giống Inđonésien : tóc uốn gợn sóng, mặt hình bầu dục, mắt và lông mày thẳng ngang chứ không xếch, sống mũi cao. Có khi ta gặp những người có đặc điểm Mélanésien : tóc quăn, mũi to, chân mũi sâu, sống mũi cong. Có khi ta lại gặp những nét Mongo- loide trong con người sơn cước : tóc thẳng, gò má cao, mắt xếch... và cũng có khi ta thấy nhiều người có màu da, nét mặt như những thô dân ở Mỹ Châu.

Người Thượng ở Việt Nam không thuộc giống da vàng, rất khác người da đen ở Châu Phi, họ được xếp vào loại chủng tộc da màu xám đồng (Race cuivrée) bà con với loại da vàng.

Tuy nhiên vì phải dãi nắng dầm mựa nhiều cho nên nước da của người Thượng thường ngả nhiều sang màu đen cũng như tóc họ thường bị pha thành màu nâu.

Ngày nay vào nhiều làng Thượng thỉnh thoảng chúng ta gặp một vài người tóc vàng gợn sóng, mũi cao, mắt xạnh, da trắng hòa với một chút màu đen tạo thành màu ngà đặc biệt, đó là di tích của thời Pháp thuộc và của quân đội viễn chinh còn để lại cho các bộ lạc núi rừng. Và ngày nay, gần đây lại thêm dì tích của 500.000 quân Mỹ.

Nói chung thì người Thượng có tầm vóc trung bình cao hơn người Việt, đàn ông cao hơn đàn bà. Nhưng thân thể họ thường gầy yếu vì thiếu ăn và làm việc lam lũ. Nếu những người này được sống trong một hoàn cảnh vật chất đầy đủ hơncó thể trở thành một giống người hùng mạnh dẻo dai. Tiếc rằng trải qua nhiều thế hệ, người Thượng đã kéo dài cuộc sống lây lất, nghèo nàn nên thế chất cũng như tinh thần của họ không phát triển được.

Trang sách 211Ảnh Trần Võn Châu Làng Thượng

Trang sách 212Thiêu nữ BAHNAR đàn ông Ảnh Trần Văn Châu

Trang sách 213B. Tính tình của đồng bào Thượng.

Nói chung tính tình của đồng bào Thượng đều mộc mạc, thật thà. Tính nết đó thay đồi tùy địa phương. Khí hậu, điều kiện sinh sống, những tiếp xúc với bên ngoài có ảnh hưởng rất nhiều đến lối sinh hoạt cũng như tính tình của con người.

Ở những làng nhỏ sống heo hút trong vùng núi xa, dân chúng ít tiếp xúc với người lạ, nhất là người Kinh hay người ngoại quốc, dân trong các làng này thường rút vào trong trạng thái thủ thế, đợi chờ, do dự. Do đó, trong những cuộc tiếp xúc, nếu xảy ra một chút hiểu làm, hay vài điều bất mãn gây nên bởi những va chạm đến phong tục, tín ngưỡng của dân trong « buôn » cũng đủ làm cho họ nổi gận, có khi đến hằn thù độc ác.

Một khi những con người chất phác đó nổi giận thì họ không còn hiền hòa nữa. Một người khởi xướng, cả làng ùa theo, sự bồng bột của đám đông khó kiềm chế nổi. Cũng vị vậy ta gọi họ là những người dã man, hiếu sát. Vụ án Prosper-Oden- d'hal, năm 1904 là một bằng chứng về những điều đó.

" Vào khoảng tháng 3 năm 1940, viên quan lại người Pháp tên Prosper-Odend 'hal được. Pháp quốc Viễn Đông học viện cử tìm các cổ tích ở Cao Nguyên Trung Phần trong bộ lạc người • Djarai ở Cheo-Reo. Ngoài mục đích khoa học. Odend'hal còn nhằm mục đích chính trị : Odend'hal muốn bắt liên lạc với vị thủ lãnh Djarai là Hỏa Xá (Pateau-pui). Một khi Hỏa Xá chịu liên kết thì bộ lạc Djarai cũng theo người Pháp luôn, khỏi phải nhọc công bình trị.

Ban đầu Hỏa Xá đã có ý muốn liên kết vì được Oden- d'hai tặng nhiều phẩm vật. Nhưng về sau thái độ của Oden- d hal có nhiều điều làm cho người Djarai nghi ky, bất mãn :

- Hỏa Xá mời Odend hal uống rượu, ăn cơm và chia cho Odend hal một nửa con gà đã được cúng làm lễ, cũng như trao

Trang sách 214đổi vòng tay tượng trưng sự liên kết. Nhưng Odend'hal đã từ chối không chịu cầm những đồ tặng của Hỏa Xá và lại đưa cho người theo hầu. •- Odend'hal nhất định vào trong làng ngay tức khắc, vì vậy đã làm cho người Djarai càng thêm nghi ngại.

- Odend'hal khăng khăng đòi xem những bảo vật của Hỏa Xá, đó là thanh gươm thần mà chỉ Hỏa Xá mới được xem xét mà không bị sợ chết. Và mọi người vẫn tin rằng nếu để người lạ xem gươm thần đó thì sẽ xảy ra nhiều tai họa cho người Djaral.

- Odend hal lại vội vã viết một lá thư để kể lại những kết quả của công việc đã làm cho viên quan cai trị, đồn trưởng ở gần đó, và lại dùng một người Djarai mang thư. Người dẫn đường này liền đi báo cho dân làng là Odend'hal gửi thư xin quân đội đến để uy hiếp Hỏa Xá và dân Djarai.

Thế là chuyện rắc rối bắt đầu. Hỏa Xá và các bô lão cùng dân chúng nao nức, căm phẫn. Khi Odend'hal được mời đến nhà một bô lão Djarai, dân làng được hiệu ùa vào đập chết Odend hal và bọn tùy tùng rồi thiêu xác ở ven rừng. Vụ án đã gây nhiều xúc động cho chính quyền Pháp thời đó. (1) Câu chuyện cho chúng ta nhận xét : sở dĩ Odend hal thất bại vì là thiếu tế nhị, không tìm hiểu rõ trước về tính tình, phong tục của dân trong bộ lạc lại thêm thái độ kẻ cả, hống hách, đã gây nhiều bất mãn cho dân chúng. Không thể bằng vào một vài trường hợp như trên để cho rằng người Thượng dã man, hiếu sát hay là ghét người lạ, người ngoại quốc. Bất cứ ai nếu có thái độ mềm dẻo, tế nhị đều có thể làm cho đồng bào - Thượng tin yêu, mến phục được. Người Pháp tên Marie de (1) Theo tài liệu của Bác sĩ B.Y Jouin và Giáo sư Nghiêm Thầm.

Xem chi tiết ở phần tài liệu đọc thêm.

Trang sách 215• Mareyna đã cùng với một thông dịch viên và 20 người tùy tùng khác từ Qui Nhơn tìm đến vùng rừng núi của người Sédang. Mareyna khôn ngoan, tế nhị nên đã dẫn dụ mua chuộc được một số làng Sédang rồi tự xưng lấy, danh hiệu là Marie Premier, Roi des Sédangs. De Mareyna tự thảo ra sắc lệnh, tách rời vùng bộ lạc Sédang thành một quốc gia độc lập. De Ma- reyna cũng có vợ và con người Sédang. Nhưng lâu dần vì chán cảnh núi rừng, Mareyna đã một mình bỏ ra đi tiếp tục cuộc đời lưu vong vô định của mình. Dè Mareyna bỏ dở sự nghiệp vì buồn chán chứ thật ra Mareyna đã thành công đối với bộ lạc Sédang, dân mến yêu Mareyna rất nhiều. Sở dĩ, Mareyna thành công với bộ lạc Sédang xưa nay có tiếng hung dữ, hiếu sát vì Mareyna có thái độ ôn hòa, sống hòa mình với dân, chiều theo phong tục, tín ngưỡng của dân, hơn nữa Mareyna còn tỏ ra có nhiều anh hùng tính (vì đánh kiếm rất giỏi dân Sédang không ai đánh lại nổi).

Hai trường hợp chúng ta vừa nêu lên đề suy nghĩ trong lúc tiếp xúc, khai hóa đồng bào Thượng.

Đồng bào Thượng có tính hiếu khách. Nhưng ở các làng xa bản tính đó không bộc lộ rõ ràng bồng bột như ở các làng gần gũi để liên lạc giao thông. Bao giờ họ vẫn giữ e ngại trong lúc sơ kiến. Sở dĩ họ có thái độ thận trọng e dè lúc ban đầu chẳng qua là do bản năng tự vệ của những con người tự cảm thấy mình yếu kém đứng trước những kẻ xa lạ mà mình không biết tiếp xúc với họ rồi sẽ có những hậu quả tai hại như thế nào.

Đa số đồng bào Thượng sống trong tình trạng đó, thành thử nếu chúng ta khéo léo, mềm dẻo giải thích hướng dẫn thì họ sẽ dễ dàng trở thành những người bạn trung thành, đắc lực giúp đỡ ta, miễn chúng ta phải thực tình. Một đặc tính khác của đồng bào Thượng, mà cũng là tính chung của những dân tộc sơ khai là thích sống và hoạt động tập thể. Trong các bộ lạc Thượng, chúng ta không thấy có các buổi lễ riêng tư trong phạm

Trang sách 216vi gia đình. Các lễ tế tự thường là lễ chung cho cả làng. Ngay cả đến việc tang ma, mồ mả cũng trở thành lễ chung của mọi người. Lúc đến chia buồn với tang chú, người dân sơn cước đã thật tình buồn thương, khóc lóc với gia đình người quá cố chứ không chia buồn trện đầu môi chót lưỡi.

Trong vấn đề giao thiệp gái trai, chúng ta thấy người thanh niên thiếu nữ sơn cước có vẻ dễ dàng cởi mở, nhưng không vì thế mà chuyện luyến ái trở thành lộn xộn bừa bãi.

Mang sẵn bản chất mộc mạc đơn thuần, sống gần gũi thiên nhiên, người dân sơn cước còn giữ nhiều tính chất sơ khai trong lối sống cũng như trong địa hạt tình cảm hôn nhân. Thêm vào đó phong tục tập quán của họ thường kết án khắt khe những. chuyện ái tình vụng trộm giữa trai gái, những chuyện thông dâm giữa những kẻ đã có vợ chồng. Kẻ phạm tội thường bị phạt vạ trâu heo... cho cả làng. Do đó mặc dù vấn đề luyến ái có vẻ tự do mà nơi đây chúng ta ít thấy xây ra những chuyện đồi bại phong tục.

Ngày nay những tập tục đó còn nghiêm ngặt ở các bộ lạc Sédang, Bahnar, nhưng đã thấy lỏng lẻo bừa bãi ở bộ lạc Djarai và Rơngao.

Đồng bào sơn cước rất quyến luyến làng xóm, nương rẫy, nhà của mình. Mặc dù địa phương sinh sống của họ có khi rất nghèo nàn nhưng họ không chịu rời bỏ đi tìm nơi khác màu mỡ hơn. Như người Dié ở miền Daksut thường sống trên các đỉnh núi cao đất đai hiếm hoi, đo đó đời sống của họ rất chật vật nghèo túng. Mặc dù biết những thung lũng phía dưới màu mỡ hơn nhưng họ thà phịn đói một chút còn hơn phải bỏ núi rừng cao để xuống thấp.

Bản tính này được cấu tạo nên bởi nhiều yếu tố :

I) Di truyền : từ bao nhiều đời tổ tiên ông bà họ đã sinh

Trang sách 217sống và thích ứng với hoàn cảnh khị hậu trong một cao độ nào đó, bây giờ thể chất của họ đã quen với loại khí hậu và cao độ đó hay ở một vùng tương tự. Nếu di chuyền đến một nơi khác sẽ có nhiều xáo trộn xây ra cho tâm lý cũng như thể chất họ.

Nhiều quân nhân người Bahnar ở Kontum lúc hành quân • lên vùng Dakto (địa phương của người Sédang) cách Kontum 50 km, thường tỏ ra vẻ uề oải, bần thần, hay khai đầu mệt mỏi và nếu ở lâu, họ sẽ đào ngũ. Nhưng sau khi trở về lại Kontum thì những người đó trở lại trạng thái bình thường : hăng hái, linh hoạt. Điều ta nên để ý là các quân nhân này rất thật thà, không biết nề hà công việc khó nhọc. 2) Tính lười biếng : Lười biếng và không lo xa là bản tính cố hữu của người Thượng. Cũng vì thế mà họ thích an nhàn, không ưa hoạt động nhiều, do đó đời sống quân ngũ thường làm cho họ cảm thấy tù túng bực bội. Ngựời Thượng lại không cầu lợi nhiều, vì ít nhu cầu, chỉ mong đủ ăn, có thiếu thốn một đôi chút cũng không sao, miễn thảnh thơi, nhàn nhã là được. 3) Câu nệ tập lục : Phong tục dị đoan có từ ngàn xưa đã khiến họ luôn luôn bám víu vào với làng rẫy. Họ không dám rời bỏ ra đi vì sợ các vị thần linh giận dỗi mà tác hại cho họ. 4) Tình cảm : Tảng đá, thửa đất, khu rừng, hay dòng suối quen thuộc đã gợi cho người dân sơn cước niềm lưu luyến quê hương. Không riêng gì người Thượng, hầu hết con người đều có thứ tình quê hương đó. Nói rộng ra hơn, đó chính là tình yêu nước, yêu quê hương.

Bấy nhiêu yếu tố đã ràng buộc người dân sơn cước vào với mảnh đất quê hương, dầu chỉ là một sườn núi đá khô khan. Đi đâu họ cũng mong cho chóng được trở về, họ thấy nhớ « cái làng, cái nhà, cái rẫy». Ngay ở trong quân đội, nhất là ở bên Bảo an, người Thượng lên gặp cấp Chỉ huy xin gửi lại súng để về thăm « cái làng ». Nếu không cho họ đi họ cũng để

Trang sách 218súng lại lén về làng. Năm, mười hôm sau lại nhận súng và xem như không có chuyện gì xầy ra. Họ chưa ý thức rõ rệt về kỷ luật, khuôn phép. Với bản tính chân thật, thích phóng túng tự do, họ chỉ hành động theo sở thích. Do đó việc rên luyện đề người chỉ huy khép họ vào đời sống quân ngũ đòi hỏi ở nhiều kiên nhẵn, mềm dẻo và tế nhị.

Bản tính đồng bào Thượng không thích suy nghĩ xa xôi, đầu óc họ thực tế hướng về cụ thể hơn là trừu tượng: Muốn huấn luyện hay hướng dẫn họ chúng ta phải dùng những sự kiện cụ thể, những hình ảnh, thay thế cho những ý tưởng hay. danh từ trừu tượng. Người Thượng đa số có óc phân tích hơn là tổng hợp. Làm một bài luận học sinh Thượng phải khó khăn khi thảo trước một dàn bài. Họ không thể hệ thống hóa những ý tưởng của mình trong khuôn khồ nhập đề, thân bài và kết luận. Người Thượng cũng khó phát triển về lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Họ biết sử dụng một loại máy, một khẩu súng nhờ tập lâu ngày thành thói quen, nhưng họ không ý thức được những cơ hành, vận chuyền của các bộ phận để có thể diễn tả lại rõ ràng.

Các nhà giáo dục đều cho rằng giáo dục người Thượng phải tốn nhiều công phu. Ngay các Sư huynh ở mấy trường dòng miền Cao Nguyên là những nhà mô phạm kiên nhẫn và đạo đức cũng nhận là khó giáo dục người Thượng. Thường thường các học sinh Thượng học đến lớp Đệ ngũ, Đế tứ thì khả năng phát triển dừng lại. Nhưng nói như vậy không phải là không có những người Thượng có thể học cao hơn nữa. Ví dụ một số học sinh người Rhadé và Djarai (Cheo Reo) có học lực tú tài và đa số các Sĩ quan Thượng cũng ở hai miền đó.

Sở dĩ đồng bào Thượng chậm phát triển vì đã bao nhiệu thế hệ, tinh thần của họ phải dừng lại ở trạng thái sơ khai tạo thành một tính chất di truyền. Do đó không thể nào đốt giai đoạn đề tạo ngay ra một xã hội văn minh trong các bộ lạc

Trang sách 219Thượng liền được. Vấn đề đòi hỏi nhiều thời gian. Những cải tiến vội vàng chỉ đem đến kết quả về hình thức.

Bởi đầu óc thực tế, với những nhận định gần gũi nên đồng bào Thượng thường có những phán đoán vội vàng .chất : phác về những người văn minh mà họ được tiếp xúc giao thiệp.

Nhiều đồng bào Thượng thích người Pháp hơn người Việt vì người Pháp đối đãi họ rộng rãi hơn. Hỏi một đồng bào Djarai tại sao thích sống với người Pháp, họ trả lời : vì thường ngày gặp xe của người Tây đi giữa đường có thể đi nhờ, còn xe người Kinh không được đi, hay đi phải tốn tiền (xe đò).

Những điểm nhỏ nhặt đó trong tâm lý đồng bảo Thượng mới xét qua thì không quan trọng gì, nhưng thật ra lâu ngày chúng trở thành những thành kiến khó di chuyển trong tâm hồn người Thượng. Muốn tranh thủ nhân dân Thượng có kết quả, cần lưu ý ở những điểm đó hơn là những lý thuyết trừu tượng.

Trên kia chúng ta chỉ nêu lên một vài đặc điểm trong bản tính của đồng bào Thượng. Ngày nay một số lớn các làng người Thượng sống gần các trục giao thông, thường ngày giao thiệp với đồng bào Kinh, với người Pháp trước kia hay với người " nên dạn di và nhiễm được nhiều Hoa Kỳ bây giờ, họ đã trở lối sinh hoạt của người văn minh. Tuy nhiên, chúng ta phải thật tình nhận xét rằng : đồng thời với những văn minh cải tiến mà đồng bào Thượng thụ hưởng được họ cũng bị nhiễm ít nhiều tật xấu của nền văn minh đó. Ngày xưa tính họ giản dị, không bao giờ biết cờ bạc đàng điểm, lừa lọc. Ngày nay vài nơi đồng bào cũng chập chững đánh bạc, chế độ phạt vạ những vụ ái tình lăng nhăng không còn hiệu quả nữa, trong lúc mua bán đổi chác, đồng bào Thượng nhiều nơi đã biết lừa lọc hay bắt chẹt khách hàng vì cần nên phải mua giá cao. Quân nhân Thượng cũng vậy sau một thời gian quân ngũ cũng bắt chước đòi được phát gạo trắng, quần áo tốt, đi lính Cộng Hòa.

Trang sách 220Nhân vấn đề này chúng ta nhớ đến câu chuyện người bộ lạc HUNZA trên một thung lũng cheo leo của Hy Mã Lạp Sơn.

Hunza ngày xưa là một bộ lạc gồm toàn những người dân hùng mạnh, dẻo dai, đời sống của họ rất dài vì luôn luôn vui vẻ, mặc dù một năm chỉ đủ ăn trong những tháng đầu mùa: Các nhà nhân chủng học đã gọi họ là những « con người trong thung dĩ họ luôn thảnh thơi vì lũng của mùa xuân » trường cửu. Sở' họ không bận bịu với nhiều vấn đề phức tạp, họ biết tiết chế dục vọng và luôn luôn vui vẻ trong sự thiếu thốn của mình.

Những « mùa xuân trường cứu » đó mất đi khi các nhà thám hiêm tìm ra được bộ lạc này và đem văn minh đến cho họ. Bây giờ người HUNZA đã biết rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, lừa lọc, bệnh tật đủ thứ. Đời sống của họ thu ngắn lại và ảm đạm như mùa đông.

Ở đây chúng ta không lạm bàn về hậu quả tốt hay xấu của một nên văn minh, chúng ta chỉ nêu ra những nhận xét để suy nghĩ và thận trọng trong lúc cải tiến xã hội miền Thượng. Theo các nhà xã hội học thì những nền văn hóa khác nhau mà một bộ lạc sơ khai lần lượt tiếp nhận thường không bồ túc cho nhau để hoàn bị tốt đẹp mà lại làm thành những thứ hỗn tạp, lộn xộn, đủ màu sắc. Có thứ sau này có thể trở nên có lợi, có thứ bất lợi. Thành thử người khai hóa cũng như kẻ tiếp nhận phải gạn lọc cân nhắc nhiều.

II. Nếp sống cá nhân I. Ăn uống Món ăn chính của người Thượng là cơm nấu bằng gạo tẻ hay gạo nếp, những ngày giáp hạt không còn gạo họ cũng ăn bắp trừ bữa. Bắp có thể giã nhỏ nấu chín như cơm, hay là nấu nguyên hạt, có nhiều nơi chỉ ăn toàn gạo nếp và ít thích gạo tẻ, như người Dié ở Kontum, người Diarai ở Pleiku... Về

Trang sách 221Người JARAI

Trang sách 222Ảnh Nguyễn Cao Đàm Rượu cần

Trang sách 223cách nấu cơm, một vài nơi không dùng nồi niêu, nhưng họ thường cho gạo vào những ống tre hay lồ ô để nguyên hay đã chẻ mỏng bớt lớp cật xanh ở bên ngoài, sau đó họ đổ nước vào cho đủ ấm gạo, xong lấy lá cây bịt kín dầu ống tre rồi cho vào bếp lửa để nướng. Khi ăn, họ chẻ ống tre ra. Lối nấư cơm này tương tự như cơm lam của các dân tộc thượng du Bắc Việt.

Nhiều nơi dùng nồi bằng đất. Nồi của người Thượng kiểu giống như cái bình, miệng lớn không có quai, không có nắp đậy. Nồi làm bằng đất sét nung chín. Ngày nay đa số đã biết nấu cơm trong những nồi đồng hay soong mua của người Việt.

Phương pháp nấu cơm trong những ống tre chỉ dùng vào những lúc cần phải đi xa không thể đem gạo đi theo nấu nướng được, họ nấu cơm sẵn trong ống tre rồi bỏ trong gùi mang theo ra rẫy bái hay về phố chợ, gọn gàng tiện lợi.

Thức ăn thông dụng nhất của người Thượng là muối sống đâm nhỏ, những làng gần sông, gần suối hay hồ cũng biết đánh cá để làm món ăn, gần rừng thì săn thịt thú rừng, có nơi ăn thịt cóc, thịt rắn, rết. Lẽ dĩ nhiên những người sung túc giàu có thì món ăn nhiều hơn, ngon hơn, họ ăn thịt trâu, bò, dê, lợn vào những lúc tế tự, ăn thịt gà, cá... vào những ngày thường. Người Thượng có tám cách nấu thịt làm món ăn, họ rất thích ăn thứ phân non trong ruột thú vật. Đó là những thức ăn thông thường, ngoài ra vào những lúc túng lắm họ cũng ăn cả đến sâu bọ như người Strieng thường ăn một loại sâu trong cây cọ dừa (vers palmistes). Đồ gia vị chính thức của người Thượng là ớt và tiêu, họ cũng ăn kiến và mối để làm gia vị : kiến đỏ, chân dài được chia nhiều loại, có loại ăn vào vị chua như dấm, có loại ngọt, có loại mặn. Còn mối đất thì rang lên cho rụng cánh, ăn thấy có vị bùi bùi thơm thơm.. Ở những làng xa xôi khó mua muối, người Thượng thường đốt một thứ lá lấy tro để ăn thế muối. Dĩ nhiên loại tro này có vị hơi mắn mặn thôi, họ chỉ dùng để chấm cơm ăn chứ không thể dùng làm gia vị nấu thịt cá được. Về các thứ rau trái dùng làm món ăn thì người Thượng thích ăn măng, cà, mướp nấu

Trang sách 224với muối, những lúc túng lắm họ dùng các thứ lá khoai, mướp thái nhỏ nấu với nước cho vào nhúm muối cũng thành một món ăn. Cơm hay món ăn họ thường nấu một lần buổi sáng để dành ăn cả ngày, có khi để ăn cho hai ba ngày sau. Lúc ăn họ chỉ dùng tay để bốc, không dùng đũa hay bát chén. Tuy nhiên ngày nay có nơi đã biết bắt chước người Kinh mà dùng bát đũa trong lúc ăn ; có nơi dùng những mảnh trái bầu khô thay thế chén bát. 2. Uống rượu Rượu cần là một món ưa thích nhất của người Thượng.

Rượu ủ bằng cơm gạo tẻ hay gạo nếp, khi không có gạo có thể ủ bằng ngô, củ mì (sắn), khoai lang, người Bahnar có một loại rượu làm bằng thứ hạt gạo khá ngon, người Dié có thứ rượu làm bằng hạt cỏ như hạt kê rất ngon tuy không được tinh khiết.

Có nơi ủ rượu với hạt bo bo. Mẹn rượu làm bằng bột bắp củ riềng và vài thứ lá rừng. Vài miền ở Daksut, chỉ có đàn ông mới được làm men rượu, chỗ làm men rượu ky không cho đàn bà đến.

Rượu ú trong những vò cao màu cánh dán hay màu nâu, những vò cũng là tài sản của người Thượng, có những chiếc vò trị giá rất đắt. Khi uống rượu, họ chỉ việc múc nước suối đô vào đầy vò, cắm vào những chiếc cần bằng ống trúc đã thông mắt rồi hút.

Rượu cần có vị chua chua ngọt ngọt nhưng uống nhiều rất say.

Khách đến nhà bao giờ cũng được chủ nhân mời uống rượu cần. Thường bao giờ họ cũng uống trước hay ăn trước món mời khách để tỏ rằng món ăn hay uống không có thuốc độc rồi mới trao qua cho khách. 3. Hút thuốc Hút thuốc là một thói quen của người Thượng cũng như uống rượu. Đàn bà, đàn ông, trai gái cho chí những em bé

Trang sách 225mới vài tuổi cũng biết hút thuốc. Có lẽ vì thời tiết miền Cao Nguyên lạnh cho nên họ thích hút thuốc cho ấm cổ. Thông thường người Thượng hút thuốc bằng những ống điếu, có loại ống điếu rất dài, chạm trổ tỉ mỉ, cầu kỳ, có khi họ chỉ vấn những lá thuốc để hút như ta hút thuốc xì gà.

Người đàn bà Thượng lại thường hay ăn thuốc, thuốc lá họ phơi khô hoặc để tươi đâm nhỏ như bột, giắt sẵn trong mình, lúc nào cần thì lấy ra một ít cho vào dưới nướu răng và cứ ngậm như thế một buồi. Người Thượng có những chiếc ống đựng thuốc làm bằng những lóng trúc phơi khô, chạm trổ tỉ mỉ rất xinh. 4. Y phục Về y phục và trang sức của người Thượng nếu không chú ý ta tưởng rằng người Sédang hay Bahnar, người Rhadé hay Djarai không có gì khác biệt. Có chăng thì những màu sắc đậm nhạt, kiếu ăn vận biển đổi tùy theo sở thích và sự giàu nghèo của từng bộ lạc. Còn nhìn chung thì người đàn ông ở đâu cũng đóng khố bằng một dung vải hẹp, sang lăm thì mặc thêm chiếc áo cánh cụt tay rộng, và tay choàng chiếc chăn đơn về mùa lạnh ; đàn bà thì mặc áo cánh cụt hay dài tay với những vệt sọc ngang màu trắng, đỏ thắm hay tím. Áo không . có nút cài mà chỉ là một kiểu áo mặc luồn đầu, tuy nhiên những bộ lạc lân cận với người Lào như người TEU ở Quảng Trị thì kiểu áo phụ nữ giống như kiểu áo của người phụ nữ Lào : có cánh tay dài, có hai hàng nút ở chính giữa.

Người đàn bà con gái Thượng đều mặc váy làm bằng một tấm vải rộng màu đen hoặc có viền đỏ, khi mặc giao hai múi lại đàng trước rồi giắt cho chặt. Ngoài ra người đàn bà Thượng thường hay khoác một tấm khăn choàng để che thân hay che con. Đa số người đàn bà Thượng đều biết dệt vải để may mặc, sợi chỉ thường mua của người Kinh, ngày xưa chỉ dệt họ tự làm lấy bằng sợi trái cây gạo hay vỏ cây đang ở trong

Trang sách 226rừng, loại vải dệt bằng các thứ sợi sau này xấu và không mịn.

Cũng có khi họ dùng nguyên cả tấm vỏ cây tràm hay dẻ gai tước được trong rừng và đập cho mềm rồi kết thành áo hay khố chứ không xe thành chỉ hay dệt.

Người Thượng ít đội nón, tuy nhiên họ cũng có một loại nón đặc biệt rất to, vành rộng tròn hay vuông, đan bằng tre và mây bên ngoài sơn một lớp dầu rái. Kiều nón này trông từa tựa như nón của người Thượng Việt Bắc thường dùng hồi xưa, Người Halang, Djarai, Sédang, Rhadé và nhiều bộ lạc khác hay dùng loại nón này. Người Thượng sinh sống gần người Kinh, thích dùng ô (dù) nhưng chỉ sử dụng trong những ngày lễ bái.

Vào những ngày lễ bái hội hè, người Thượng mặc những lễ phục hoa hè, sặc sỡ trông cũng vui mắt. 5. Trang sức Lõi trang sức làm đẹp của người Thượng rất phức tạp, trước hết ta phải nói đến tục cà răng căng tai mà hình như hầu hết các bộ lạc Thượng Trung phần đều có :

Ca răng :

Thanh niên thiếu nữ Thượng đến tuổi trưởng thành đều phải cà răng. Việc cà răng này vừa là để chứng tỏ sự trưởng thành của người thanh niên vừa là để biểu lộ lòng can đảm chịu đựng được gian khổ của các thanh niên thiếu nữ.

Ngoài ra theo khiếu thầm mỹ của người Thượng thì một hàm răng đẹp phải là một hàm răng được mài nhẵn đến tận nướu chứ không phải là một hàm răng ngà ngọc đều đặn.

Cô cậu nào đã lớn mà răng vẫn còn để dài sẽ là một đề tài cho chúng bạn châm chọc đàm tiếu. Hơn nữa sống trong một xã hội mà ai cũng ngắn răng cả, người có hàm răng dài tự nhiên

Trang sách 227sinh ra một thứ mặc cảm tội lỗi bứt rứt. Cho nên biết rằng mài răng là đau đớn khổ sở, người thanh niên vẫn xin cho được cưa răng để được nhập vào xã hội những người lớn, can đảm và đẹp.

Người ta thường cưa răng bằng một lưỡi cưa nhỏ rất bén, cưa xong họ lấy đá mài cho phẳng. Có khi không có cưa họ chỉ dùng đá mài lần. Chỉ cần mài sáu cái răng cửa ở hàm trên là đủ.

Căng tai :

Để phụ họa cho vẻ đẹp của hàm răng, người Thượng còn có tục căng tai thành những lỗ thật rộng, càng rộng nhiều càng đẹp.

Lúc đầu người ta chỉ dùi ở trái tai của đứa trẻ một lỗ nhỏ rồi luồn vào đó một cọng tre hay một khúc ngà nhỏ. Thế rồi mỗi ngày họ thay vào lỗ đó một khúc ngà lớn hơn. Đến khi trưởng thành thì người thanh niên đã có hai lỗ ở trái tai rất lớn có thể đút nguyên một khoanh ngà hay một chiếc vòng đồng to và nặng.

Bởi phong tục cà răng căng tai đó mà ngày trước người kinh thường gọi đồng bào Thượng là người Mọi cà răng căng tai.

Đầu tóc :

Người Thượng không bao giờ cắt tóc. Tóc đàn ông thường búi lên giữa đầu, đàn bà thì tóc để xả ngang vai, đôi khi dùng chuỗi hạt cườm ngũ sắc mà ràng tóc cho chặt, có khi không có cườm họ dùng một dung vải màu. Người Djarai thích cắm trên búi tóc những lông chim rừng.

Những đồ trang sức :

Không riêng gì đàn bà con gái, người đàn ộng Thượng cũng thích đeo những đồ trang sức, tuy nhiên họ đeo ít hơn.

Trang sách 228Đàn bà con gái thường đeo ở hai tai những khoanh ngà lớn, có khi là những chiếc vòng bằng kim loại, hay những khúc tre, gỗ chạm trổ tỉ mỉ. Thường những vòng đồng rất nặng mà lỗ ở trái tái căng quá rộng, nếu chạy nhảy mạnh hay bị vướng víu vào một vật gì có thể làm đứt vành tai, cho nên họ thường hay lật ngược vòng đồng đeo tai lên cho gài vào mép tai trên.

Ở cô, đàn bà Thượng thích quấn những chuỗi cườm ngũ sắc hay những chuỗi hạt ngà đẽo rấtc ông phu. Người Dié thích đeo những vòng bạc rộng. Ngoài ra họ còn đeo tất cả những gì mà họ cho là đẹp : Những chuỗi hạt bằng kim loại của người Kinh dùng để cột chìa khóa, và hạt nút, chiếc chìa khóa bằng đồng họ nhặt được giữa đường...

Đồ trang sức ở cổ tay là những chiếc vòng đồng mà người Kinh thường gọi là vòng Mọi. Những chiếc vòng này có thể được chạm trổ cần thận hoặc là để trơn nguyên như một sợi đồng.

Lối đeo vòng này thay đổi khác nhau tùy từng vùng. Có nơi họ đeo rất nhiều, từ cườm tay lên đến khửu tay toàn là những chiếc vòng đồng sắp lớp theo thứ tự nhỏ lớn. Có khi tất cả những vòng đó chỉ gồm một sợi đồng được quấn quanh cánh tay, có khi gồm nhiều chiếc vòng rời nhau. Những chiếc vòng đông này là tượng trưng cho sự giàu có của người Thượng. Có nơi họ chỉ đeo một vài vòng ở cườm tay. Lối đeo vòng tay của người Thượng Trung Phần giống như của người bộ lạc OUGANDA ở Trung Phi. Tuy nhiên người QUGANDA đeo cả ở chân và cánh tay trong.

Ngày nay lối ăn mặc và trang sức của người Thượng đã có ít nhiều thay đổi, tuy nhiên những biến dạng đó rất lộn xộn; nhiều khi lố lăng vì người Thượng chưa biết biến chế đề dung hòa kiểu y phục của người Kinh cho thích hợp với mình. 6. Ăm nhạc Âm nhạc của người Thượng rất đơn giản thường là kết

Trang sách 229hợp bởi những âm thanh man dại của núi rừng. Sống trong vị trí cách biệt hẳn mọi giao tiếp đổi thay của thế giới bên ngoài, âm nhạc cũng như văn hóa người Thượng ít bị ảnh hưởng ngoại lai mà vẫn giữ bản chất nguyên vẹn buồi ban đầu. Những bài ca của người Thượng thường là những điệu hát thần thoại được kết dệt tự ngàn xưa, hoặc để kết lại nguồn gốc của bộ lạc, ca ngợi đời sống anh hùng của những tù trưởng can đảm, hay để mơ tưởng một cuộc sống thanh bình sung túc hoặc ca tụng những mối tình thơ mộng của núi rừng. Những lời ca đó không được ghi chép bằng văn từ mà chỉ được lưu truyền qua cửa miệng của loài người trải qua nhiều thế hệ.

Âm điệu của những bài hát rất đơn sơ, chất phác, mô phỏng tiếng nói của núi rừng : tiếng gió lách qua chòm lá, tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng thác đồ rạt rào... Tất cả những âm thanh kết hợp thành nhịp điệu chi phối hình thức diễn tả. Do đó âm điệu của những bài ca miền núi thường trầm trầm nhè nhẹ như gió thoảng, như thác reo không có những âm thanh cao vút hay dồn dập rộn ràng. .

Nhạc cụ :

Nhạc cụ dùng phụ họa cho lời ca cũng để diễn tả những âm điệu mô phỏng của thiên nhiên với những tiếng ngân nhỏ nhẹ trầm buồn như tiếng thì thào của tâm hồn những người sơn cước.

Người Bahnar, Sédang hay chơi một loại đàn bàu giản dị.

Ta gọi là đàn bầu vì thùng đàn bên dưới làm bằng một quả bầu khô, cái đàn là một ống tre nhỏ, bên trên cắm 12 cái chốt để cột dây đàn. Dây đàn ngày trước làm bằng sợi dây gấc nên tiếng trầm và nhỏ, ngày nay thay thế bằng những sợi thép của dây điện thoại. Những sợi dây đàn được cột dài ngắn theo thứ tự vào những chốt trên cán đàn đối với thận bầu. Những sợi dài cho âm trầm, những sợi ngắn cho âm cao, tiếng rúng của dậy đàn sẽ được chuyển vào quả bầu và phát ra những âm thanh

Trang sách 230tràm trầm nho nhỏ. Muốn nghe tiếng đàn phải đứng rất gần người đánh đàn vì tiếng nhẹ như gió thoảng.

Người Sédang cũng thường thồi một loại ống sáo có 6 lỗ, thồi bằng cách ngậm vào một đầu ống. Ống sáo này cũng phát ra những tiếng nho nhỏ buồn buồn. Những thiếu nữ Bahnar thường chơi loại đàn ống. Nếu một hay hai người chơi thì đàn gồm có 8 ống, nếu nhiều người cùng đàn có thể nhiều ống hơn.

Những ống này làm bằng thân cây lồ ô đã thông mắt, các ống dài ngắn khác nhau. Những ống dài cho âm trầm, những ống ngắn cho âm bổng. Muốn đàn người ta gác dọc những ống này trên hai thanh tre nằm ngang trên mặt đất, ống dài nhất ở bên phải rồi theo thứ tự đến ống ngắn nhất bên trái. Nếu chỉ một người chơi đàn thì người này phải quì ngồi ngay dưới đất ở giữa các ống đàn, dùng hai tay vỗ vào nhau để phát ra hơi gió ở trước mỗi ống, hơi gió luồn vào trong ống chạm vào thành ống tạo nên tiếng ngân rồi thoát ra thành một âm ở đầu kia của ống. Người đánh đàn phải thuộc âm điệu trầm bồng của từng ống, mỗi ống cho một âm khác nhau, nhưng người chơi đàn có thế đánh những bán âm bằng cách vỗ ở giữa hai ống gần nhau, hơi gió sẽ chia vào hai ống và phát ra một âm trung bình giữa hai âm. Thường bao giờ cũng có một người ngồi ở phía đối diện để đánh nhịp. Người đánh nhịp chỉ vỗ vào ống có âm trầm thứ nhì, ống này được kê cho cao phía bên người đánh nhịp. Tiếng ồn này rất ấm và trầm, thoang thoảng âm vang hòa điệu với những lời ca âm điệu hiền lành.

Người Rhadé, Stiêng, người Teu có một loại kèn ghép bằng nhiều ống hóp nhỏ theo thứ tự cao thấp như hình bậc thang, tiếng kèn cho những âm thanh thanh đều đều có vẻ man dại và buồn.

Người Thượng ở miền Nam Cao Nguyên lại còn có một loại đàn ghép bằng hai thanh tre hay gỗ chuốc mỏng, tùy theo độ mỏng hay dầy, mỗi thanh tre cho một âm thanh khác nhau Những thanh này được nối lại với nhau bằng hai sợi dây song

Trang sách 231Ảnh Trần Văn Châu Cà răng, căng tai

Trang sách 232Ánh Đức Thịnh Thiếu nữ JARAI

Trang sách 233song. Người chơi đàn cầm một thanh tre hay gỗ mỏng khác gỗ vào đàn.

Có nơi loại đàn này biến đồi thành hai hình thức khác, người ta không kết những thanh tre lại để cầm mà đàn nhưng lại gạt chúng lên trên miệng một đường mương nhỏ rồi dùng cây gõ lên những thanh tre đó sẽ có được những âm thanh trong trẻo và nhẹ.

Ngoài những loại đàn và kèn đặc biệt của đồng bào Thượng thay đổi cho từng bộ lạc, ta còn thấy đồng bào Thượng có một nhạc cụ thông dụng cho mọi nơi đó là những chiếc goòng và trống. Goòng hay chiêng và trống gồm có nhiều loại lớn bé khác nhau. Đánh goòng, gióng trống cho hòa hợp là cả một nghệ thuật. Người Thượng thường xử dụng các loại nhạc khí sau này vào những lúc có lễ lạc tế tự long trọng.

Người Thượng cũng có những vũ khúc bình dị, bình dị như âm nhạc và tâm hồn của họ. Vũ điệu thường đơn giản ít động tác và nhẹ nhàng hòa hợp với lời ca tiếng nhạc. Họ rất thích ca hát, nhất là các cô thiếu nữ, lời ca ngân nga đều đều như không bao giờ thay đổi. Ngày hay xen lẫn với những điệu dân ca cổ truyền, người Thượng cũng đã biết hát những bản nhạc cải cách của Phạm Duy, Nguyễn văn Đông... Vào một vài • buôn Thượng, thỉnh thoảng chúng ta được nghe điệu nhạc trầm buồn vi vu qua tiếng đàn ống lẫn lộn với những âm thanh dồn dập hay thanh thót của Tây-ban cầm. 6. Kiến trúc nhà cửa Nhà ở thường : Vào một làng Thượng chúng ta thấy nhà cửa được cất lộn xộn không theo đường lối với thứ tự nào cả.

Tuy nhiên ngày nay những làng gần các trục lộ hay trong các ấp Chiến lược, nhà cửa đã được sắp đặt có hàng lối sạch sẽ.

Mỗi nhà thường không có hàng rào chung quanh, không có vườn ' tược như nhà của người Việt « thôn quê hay người Thái,

Trang sách 234Mèo, Mán... » ở Bắc Việt. Nhà cửa của đồng bào Thượng cất theo hai kiểu chính : nhà sàn và nhà trệt. Tuy nhiên đa số đều là nhà sàn, trừ một vài vùng ở trên cao hay nghèo nàn, ít nhân công nên đồng bào mới cất nhà trệt, thấp như vùng người Dié, Halang ở phía Bắc Daksut...

Tuy phân biệt nhà ở của người Thượng làm hai loại nhưng trong mỗi loại chúng ta còn thấy nhiều hình thức khác nhau.

Kiếu nhà sàn thông thường cao cách mặt đất vào khoảng Im5o đến 2m, chiều cao trung bình của nhà là 4m50, dài 7m. Mái nhà rất dốc có khi lên đến 80° so với mặt đất. Nhà thường chỉ có hai mái chụm vào nhau, có kiểu nhà làm bốn mái như kiếu nhà của người Việt ở thôn quê gồm có hai mái chính và hai mái phụ. Kiểu nhà sau này thường hình vuông như của người Sédang ở Dakto và Daksut. Ở những làng sống trên cao như địa phương của người Dié cũng cất nhà sàn rất thấp có khi chỉ cách mặt đất không đến om5o. Có một kiểu nhà sàn khác chúng ta thường gặp ở các làng người Rongao. Những nhà này rất dài, mới nhìn ở ngoài ta tưởng là kiếu nhà trệt vì phên vách làm sát liền với mặt đất, nhưng vào bên trong nhà đó lại là một kiêu nhà sàn, trong nhà chia ra nhiều phần, mỗi phần cho một gia đình sinh sống. Ta có thế gọi kiêu nhà này là nhà sàn dựng ở trong nhà trệt.

Nhà của đồng bào Thượng thường gồm có một hành lang ở trước cửa ra vào nhà, có khi không có. Bên trên hành lang, ngày xưa người Thượng không dám lợp mái để che mưa năng, ngày nay nhiều nơi đã biết lợp mái. Đây là chỗ hàng ngày đàn bà con gái Thượng giã gạo, dệt vải. Vài làng người Rơngao ở Dakto họ làm những hành lang chạy dọc quanh nhà xung quanh có lan can, gần như kiểu nhà sàn của người Thượng bên Lào.

Kiểu nhà trệt sát đất chúng ta ít gặp hơn, vài làng người Dié, Halang, Duan ở Daksut vì phải sống ở trên cao, gió nhiều và vì lại nghèo nàn nên họ không thể cất những ngôi nhà sàn cao, vững chãi được, đo đó họ phải sống trong những ngôi

Trang sách 235nhà thấp hay những chòi nhỏ. Người Dié ở miền cực Bắc Kontum sống trong những nhà dài thấp, có nhiều khi cả làng chỉ gồm một hay hai nhà. Trong mỗi nhà sống nhiều gia đình, mỗi gia đình qui tụ quanh một bếp lửa. Có khi nhà thấp rất tối tăm, họ trổ những cửa ở trên mái, ban đêm đậy lại. Người nghèo lắm thì sống trong những chòi nhỏ thấp, bên trong kê một lớp sàn gần sát đất để làm chỗ ngủ. Cả gia đình chui rúc trong chòi nhỏ chật chội và thiếu vệ sinh nên họ hay đau ốm.

Cũng cùng một kiểu nhà sàn đó, nhưng ở những bộ lạc giàu có như người Bahnar ở Kontum, người Djarai ở Cheo-reo, người Rhadé ở Banmêthuột, nhà làm rất vững chãi kiên cố, có khi còn đẹp và vững hơn nhiều nhà của người Việt. Vật dụng dùng để cất nhà thường là cây rừng, tranh, tre lá... Mái nhà lợp bằng tranh, những nơi không có tranh lợp bằng lá, có khi họ lợp bằng thân cây lồ ô đập dập và cán cho bằng thành những tấm mỏng. Ngày nay đa số trong những làng gần thành phố đã biết lợp mái bằng ngói hay tôn.

Vách nhà làm bằng tre hay lò ô đan thành phên, có nơi tô thêm đất sét hay bùn. Ngày nay nhiều nơi đã biết xây bằng vôi, gạch, xi-măng và cát.

Muốn lên nhà sàn, người ta phải leo qua một chiếc thang làm bằng thân cây đẽo thành từng bậc. Có nơi họ để nguyên cả thân cây và chỉ đẽo những bậc sơ sài, có nơi đẽo gọt công phu thành những bậc vững chãi chắc chắn hơn. Thang được gác từ đất lên đến sàn của hành lang bên trên có một cái móc để bám vào sàn nhà. Đó là một loại thang cổ truyền, đơn giản và nhẹ, dễ di chuyền. Ngày xưa làng mạc của đồng bào Thượng đều ở cạnh rừng rậm, để tránh nạn thú dữ đêm đêm về làng leo lên nhà, ban đêm họ rút thang để ở trên sàn ban ngày thả xuống. Ngày nay nhiều nơi đồng bào đã biết làm những chiếc thang ghép bằng nhiều tấm ván đóng lại thành bậc tam cấp, nhất là chiếc thang ở nhà Rông.

Trang sách 236Nhà Rông :

Người Việt chúng ta gọi là nhà làng. Nhà Rông nói chung là chỗ hội họp sinh hoạt của dân làng. Nhà Rông thường làm rộng, cao và vững chãi hơn mọi nhà khác. Ở phía Bắc Cao Nguyên trong các bộ lạc Sédang, Rongao, Bahnar, Djarai nhà Rông thường cất cao, mái nhà làm theo hình lưỡi búa cao vút và hẹp. Đến thăm một làng, từ xa đã thấy mái nhà Rông sừng sững vươn lên giữa những đám nhà thấp và rừng cây. Bên trong nhà Rông rất rộng, hai mặt lớn hơi gồ ra như hình bầu dục. Cũng như mọi nhà khác, nhà Rông thường ít cửa, bên trong có nhiều bếp lửa. Mái nhà gồm hai mái chính cao và dốc và hai mái phụ nhỏ hẹp. Vật dụng làm nhà vẫn là tranh, tre và gỗ.

Bên trên đỉnh mái nhà thường trang hoàng bằng những hình.

đan đặc biệt bằng mây hay bằng gỗ đẽo.

Ở những làng người Sédang-Rợngao cạnh sơn biên Lào-Việt, hình thức nhà Rông biến dạng rất nhiều. Ở đây nhà Rông có hình vuông, bốn mái chụm lại và cao vút như hình mái chùa Cao Miên, bên trên đỉnh là một hình gỗ đẽo thành những bầu tròn tận cùng bằng một mũi nhọn như lối trang hoàng đỉnh các mái chùa Thái Lan hay Lào. Hình thức kiến trúc này chịu ảnh hưởng rõ rệt của Ai Lao.

Trong nhà Rông người ta để những dụng cụ của làng như trống. chiêng, giáo mác. Đây là nơi làm việc chung của làng, nơi tụ họp của các thanh niên, nơi nhóm bàn việc làng. Ở bộ lạc Sédang, Bahnar... ban đêm thanh niên phải đến ngủ tại nhà Rông, người Sédang ở phía Bắc mỗi làng có đến hai nhà Rông nhà Rông con trai và nhà Rông con gái.

Người Thượng lo tu bồ sửa sang nhà Rông hơn cả nhà riêng của mình, nhà Rông to lớn đẹp tức là làng giàu có, đông dân. Người Thượng hãnh diện về nhà Rông của làng mình như người Việt chúng ta ở thôn quê hãnh diện với vẻ đồ sộ của đình làng.

Trang sách 237III. Đời sống xã hội 1. Hôn nhân Ngày nay, mỗi lần nghiên cứu về chế độ gia đình và xã hội của đồng bào Thượng, chúng ta thường căn cứ vào hình thức hôn nhân để cho rằng bộ lạc này theo chế độ mẫu hệ, bộ lạc kia theo chế độ phụ quyền.

Chế độ mẫu hệ là chế độ gia đình của những bộ lạc so khai. Vào thời nguyên thủy khi con người còn sống cuộc đời du mục lang thang, hợp nhau thành từng nhóm, những người đàn ông luôn di chuyền để tìm miếng ăn thức uống, người đàn bà yếu đuối ần náu trong hang đá chờ đợi người đàn ông đem lương thực về. Trong thời gian đó những đứa trẻ sinh ra chỉ biết có mẹ và không biết cha chúng là ai cả. Vì con cái chỉ biết có mẹ, nên người đàn bà trở nên là kẻ có uy quyền trong gia đình. Đó là nguồn gốc của chế độ mẫu hệ.

Dần dần xã hội bành trướng và tiến bộ họ đã biết định cư và chế độ du mục tàn tạ, tuy nhiên vì theo truyền thống, chế độ mẫu hệ vẫn duy trì ở những bộ lạc mà hoàn cảnh đã chặn họ lại trong tình trạng sơ khai nguyên thủy.

Đồng bào Thượng trong các bộ lạc Cao nguyên miền Nam đang ở trạng tình trạng đó, tuy nhiên hình thức mẫu hệ ở đây 'đã biến dạng ít nhiều..

Ngày nay chúng ta có một nhận xét là các bộ lạc ở phía Nam như Djarai, Rhadé, Koho, Maa, Churu, Sré, M'nong.., còn duy trì nhiều tính chất mẫu hệ, các bộ lạc phía Bắc như Bahnar Sédang, Dié, Strieng, Rơglai, Teu đã dần hướng về chế độ phụ quyền.

Có người cho rằng các bộ lạc Bahnar, Sédang, Dié đang ở trong tình trạng lưng chừng giữa mẫu hệ và phụ hệ. Vì khi nghiên cứu đến vấn đề hôn nhân, chúng ta thấy tục lệ không qui định rõ là người con trai hay người con gái phải đi hỏi trước

Trang sách 238bên nào thấy có đày đủ phương tiện cưới xin thì đến đánh tiếng trước rồi xin cưới.

Tuy nhiên, có người lại cho rằng người Sédang và Dié theo chế độ mẫu hệ, vì sau khi cưới người con trai thường phải đến ở nhà người con gái và từ lúc đó người đàn ông quên dần những ràng buộc liên hệ với cha mẹ ruột mình. Nhưng nếu tìm hiểu kỹ chúng ta nhận thấy rằng đó không phải là một hình thức của chế độ mẫu hệ mà do hoàn cảnh sinh sống tạo nên. Nói chung, trong mọi gia đình của đồng bào Thượng, mỗi người con là một kẻ góp phần đắc lực cho mọi hoạt động gia đình nhất là con gái. Thêm vào đó các bộ lạc Dié Sédang lại nghèo nàn chỉ trông cậy vào mức làm viêc của mọi người trong nhà. Do đó, nếu mất một người con tức là mất đi một phần gia sản, nên cha mẹ nào cũng muốn giữ con mình lại, vì vậy mới có chế độ bắt rế. Tuy nhiên, vài năm sau hai vợ chồng có thể tách riêng gia đình bố mẹ vợ để thành lập một tiêu gia đình. Trong gia đình nhỏ này, người đàn ông vẫn là kẻ có quyền, là chủ gia đình. Như vậy người Dié, Sédang theo chế độ phụ hệ chứ không phải mẫu hệ.

Ngay trong các bộ lạc theo chế độ mẫu hệ, địa vị của người đàn ông cũng quan trọng đối với xã hội. Những vị chủ làng, thầy mo, những người đại diện cho dân chúng bao giờ cũng là đàn ông. Người đàn bà chỉ có ảnh hưởng với con cái trong phạm vi gia đình.

Dưới đây, chúng ta sẽ xét sự tô chức hôn nhân và gia đình của các bộ lạc theo chế độ mẫu hệ và những bộ lạc phụ hệ để thấy rõ hơn sự khác biệt giữa hai chế độ.

Chúng ta đã nói trên kia, bộ lạc Rhadé, Djarai, Koho, Maa Chru, Sré, M'nong, Rơglai theo chế độ mẫu hệ. Trong lúc đó bộ lạc Bahnar, Sédang, Dié, Strieng, Teu, theo chế độ phụ quyền.

Tuy phân biệt hai chế độ gia đình, như vậy, nhưng trong các bộ lạc cùng một chế độ vẫn có nhiều điểm khác nhau tùy

Trang sách 239theo vùng: Chế độ phụ hệ thuần túy rõ rệt nhất ở dòng Stieng ở Bình Long và dòng Teu thuộc Quảng Trị và Thừa Thiên.

Chế độ mẫu hệ :

Trong vấn đề hôn nhân, theo phong tục mẫu hệ, người đàn bà bắt chồng. Người con gái ưng thuận đám nào thì về thưa với cha mẹ để nhờ mai mối đến hỏi ý kiến bố mẹ nhà trai. Ông bà thông gia tương lai sẽ hỏi ý kiến người con trai. Nếu người con trai đồng ý hai họ sẽ làm lễ trao vòng như người Rhadé, M'nong hay trao những cườm, nhẫn như người Koho, Maa. Về tồn phí cưới hỏi thường do nhà gái đài thọ cũng có khi do nhà trai.

Trong vấn đề hôn nhân của chế độ mẫu hệ, người con trai thường đóng ở địa vị " phái yếu», thụ động, tuy nhiên với với bản chất thiên nhiên, dù sao người đàn ông cũng không đến nỗi e thẹn, mềm yếu như người đàn bà, và ngay trong phút ban đầu tìm hiểu, thường người đàn bà vẫn e lệ nên nhiều khi chính người đàn ông là kẻ khởi xướng với ý trung nhân. Rồi khi đã quyến luyến nhau, người con gái mới đóng vai trò chủ động cưới hỏi. Ví dụ như đòng Rơglai ở Khánh Hòa, Lâm Đồng là một bộ lạc mẫu hệ, nhưng người con trai là người ngỏ ý trước. Yêu một cô gái nào cậu trai có thể đem đồ đạc đến trú ngụ ngay nhà người yêu, miễn là phải được sự đồng ý của người con gái và tự xem như người nhà để cùng phát hương, dọn rẫy với người yêu. Cha mẹ người con gái không hề phản đối hay ngăn cấm con gái tiếp xúc đàm thoại với chàng trai. Sau một thời gian ăn ở như thế, chàng trai tỏ tình bằng cách trao cho nàng một tặng vật (bông tai, vòng...) Nếu nàng thuận sẽ nhận tặng vật, không thì trả lại. Người con gái sau khi đã nhận đồ biếu nhà trai mới bàn chuyện hôn nhân. Lúc bấy giờ mới đến giai đoạn người con gái chủ động.

Trái lại, ở bộ lạc Koho thì người con trai chịu thủ phận " yếu kém » của mình. Người con trai Koho cũng ngượng ngùng, e thẹn mỗi khi có người nhà gái đến đánh tiếng xin cưới.

Trang sách 240Có khi chàng trai cũng vùng vằng từ chối bai bải lấy lệ, nhà gái phải mượn mai mối đến năm, bảy lần chàng mới bằng lòng.

Người con trai trong chế độ mẫu hệ lúc đi lấy vợ cũng được gia đình chia của hồi môn để đem theo về nhà gái.

Sống với gia đình cha mẹ người con gái độ vài ba năm, hai vợ chồng có thể xin ra ở riêng và thành lập một tiểu gia đình.

Thường thường vì tính giản dị, mộc mạc nên nếu người con trai đi lấy vợ ở một làng khác lâu dần quên mất những ràng buộc thân tộc của mình mà nhận cha mẹ vợ là cha mẹ mình, làng vợ là làng mình. Muốn hỏi những người con trai đó về gia tộc cha mẹ ruột, hay làng xóm nơi sinh của họ chúng ta phải đặt những câu hỏi gợi ý dẫn họ trở lại ngày họ ra đi theo vợ, họ mới nhớ lại và có thể trả lời được xuất xứ của mình.

Những bộ lạc người Thượng ở phía Nam như Koho, M'nong, thường mỗi họ sống chung với nhau trong một ngôi nhà dài, cầm đầu họ đó có một tộc trưởng. Trong làng có hai ba họ thì có hai ba vị tộc trưởng. Mỗi khi có việc gì, các vị này sẽ hợp nhau lại để cùng thỏa thuận. Nếu cần liên lạc với chính quyền thì họ bảo chủ làng đi liên lạc.

Danh từ « Họ » chúng ta vừa dùng trên có vẻ gượng ép, thật ra người Thượng ở Cao Nguyên miền Nam không có họ mà chỉ có tên. Cách tổ chức gia đình và xã hội của các bộ lạc mẫu hệ gần như chế độ Tô Tem của các bộ lạc ở Châu Đại Dương, Nam Mỹ và Phi Châu.

Trong xã hội Djarai và Rhadé, « mỗi tôn tộc (Clan) lấy tên một thú vật hay cây cối, cũng có khi lấy tên một vật hay một việc để gọi một tên tộc.

Có tôn tộc lấy tên « Seo » (con mối đất) hoặc Rama (tê giác) hoặc O' (một loại tre có gai) hoặc Rachơm (Khô ráo) hay Kasor (nương hoang)...

Trang sách 241Anh Frazier Dựng nhà Rông

Trang sách 242Người S'TIENG

Trang sách 243« Mỗi tôn tộc phải giữ sự kiêng ăn một thứ thực phẩm không có liên lạc với tên của tôn tộc. Như người tôn tộc Seo phải kiêng ăn thịt cóc, người tôn tộc Kapa (ngay thẳng) và Rama phải cữ ăn thịt kỳ đà... Nếu không họ tin là sẽ mắc bệnh ». (1) Như vậy, họ của người bộ lạc mẫu hệ tức là tên của tôn tộc.

Chúng ta nhận thấy chế độ xã hội này hơi khác chế độ Tô Tem chính thống. Theo Maurice Besson thì đặc điểm của chế độ Tô Tem chính thống là :

I) Có những tập đoàn của các giống người còn dã man hoặc sơ khai mang tên một vật hay một thú vật: Đó là Tô Tem của tập đoàn. 2) Những tập đoàn đó phải tôn trọng Tô Tem của họ, tránh giết Tô Tem, hay tiêu diệt những thú, những cây cõi, những vật cùng một loại hay tương tự như Tô Tem. 3) Những tập đoàn đó cho là có một liên hệ huyết thống giữa họ và Tô Tem của họ. Do đó những người trong tập đoàn tự xem là có liên hệ huyết thống với tất cả những người cùng mang tên Tô Tem và họ tôn trọng đồ vật hay loài thú tượng trưng Tô Tem cho tập đoàn của họ. Những tập đoàn này trở nên một gia đình lớn, trong đó có mối liên hệ giữa anh em cùng một gốc ». (I) Trở lại những bộ lạc mẫu hệ ở Việt Nam, tóm tắt là ở những bộ lạc này quyền lợi và địa vị của người đàn bà được tôn trọng hơn đàn ông. Người đàn ông trong xã hội mẫu hệ giữ một vai trò phụ thuộc đối với gia đình con cái. Khi người vợ chết, các con ở lại với gia đình người mẹ, còn người chồng phải trở về gia đình mình, được mang theo của riêng mình. Có khi vợ chết để lại con còn nhỏ tuổi, người chồng phải đem về gia đình mình nuôi cho lớn rồi đem con trả lại cho gia đình vợ. (I) Tìm hiều đồng bào Thượng của Nghiêm Thầm.

Nguyệt san Quê Hương số 28.

Trang sách 244• Chẽ độ Phụ quyền :

Phụ quyền là chế độ gia đình thông thường ở những xã hội văn minh khai hóa. Nhiều bộ lạc ở Cao Nguyên miền Nam theo chế độ này. Tuy nhiên ở các bộ lạc Bahnar, Sédang, Dié... hình thức phụ quyền không rõ ràng.

Chế độ phụ quyền rõ rệt nhất ở bộ lạc Stieng vùng Bình Long và bộ lạc Teu ở Quảng Trị.

Trong chế độ gia đình phụ quyền, địa vị và uy quyền người đàn ông được ưu đãi. Người đàn ông là chủ gia đình, con cái lấy họ cha làm họ nội.

Chúng ta hãy xét sơ qua chế độ gia đình trong hai bộ lạc.

Stieng và Teu.

Bộ lạc Stieng : Hôn nhân Trong bộ lạc Stieng, người đàn ông tự do chọn lựa người bạn trăm năm của mình.

Người con trai ưng thuận đám nào, nói với cha mẹ nhờ mai mối đến hỏi. Nếu nhà gái bằng lòng, đôi bên sẽ bàn chuyện tổ chức hôn lễ.

Sau lê cưới, người con gái về ở nhà chồng nếu nhà trai nghèo chưa trả đủ sính lễ thì phải ở rể trong mật thời gian.

Trong bộ lạc Stieng người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ, nhưng phải được sự thỏa thuận của người vợ cả. Nếu người này không bằng lòng có thế xin ly dị và phải trả lại những sính lễ cho người chồng.

Ly dị :

Nếu người chồng khởi xướng việc ly dị, người vợ bằng lòng thì người chồng phải đền vạ một con lợn và một vò rượu.

Trang sách 245Nếu người đàn bà này lại đi lấy chồng khác thì gia đình phải trả lại nhà trai phân nửa đồ sính lễ trong ngày cưới, người đàn bà có quyền bắt con cái theo mình.

Nếu bên khởi xướng ly dị là người đàn bà thì gia đình nhà gái phải trả lại hết những sính lễ cùng phí tồn cưới xin và đền vạ cho nhà chồng một con lợn và một vò rượu, con cái sẽ theo cha.

Tội Ngoại tình :

Nếu người chồng ngoại tình, người vợ bắt được quả tang thì cũng không có quyền xin ly dị chỉ có thể bắt phạt vạ một con gà.

Nếu người vợ ngoại tình, người chồng bắt được quả tang sẽ trừng trị theo phong tục, người vợ bị giáng xuống hàng nô lệ và nếu tái phạm sẽ bị ly dị, người tình nhân hay gia đình người đàn bà phạm gian phải lo trả lại của cải cho người chồng.

Nếu người chồng chết sớm, người vợ có quyền đi lấy chồng khác, có hai trường hợp :

- Nếu người chồng chưa nộp đủ sính lễ thì góa phụ có quyền tự do đi lấy chồng khác mà không phải đền bồi gì cho nhà chồng cũ.

- Nếu người chồng đã trả đủ sính lễ rồi góa phụ phải lấy người em chồng, có khi phải làm lẽ, nếu người đàn bà không bằng lòng thì phải trả lại của vật cho nhà chồng cũ.

Chế độ gia đình của bộ lạc Teu :

Đại khái, chế độ hôn nhân và gia đình của người Teu cũng gần giống như người Stieng, tuy những nghi thức thì khác nhau nhiều.

Người con trai đóng vai trò chủ động trong vấn đề hôn

Trang sách 246nhân, việc cưới hỏi rất tốn kém ; chế độ đa thê cũng rất thịnh hành ở bộ lạc này.

Ở đây cũng có tục nếu anh chết trước thì để vợ lại cho em, cha chết trước để vợ lẽ lại cho con hoặc người thân.

Nếu quả phụ không hứng chịu thì phải trả lại tất cả những sính lễ cho nhà chồng.

Việc cưới hỏi rất tốn kém và phiền phức nên nhiều chàng trai nghèo, khó cưới vợ được, trong lúc các cụ già giàu có nhiều vợ còn mua thêm những cô gái nhỏ về nuôi cho lớn để sau này làm tì thiếp.

Tóm lại, trong chế độ gia đình phụ quyền địa vị của người đàn bà thấp kém, họ đóng vai trò phụ thuộc trong gia đình. 2. Tang lễ của đồng bảo Thượng Đồng bào Thượng tin rằng linh hồn con người bất diệt.

Người Sédang tin rằng chúng ta có nhiều linh hồn trong một thể xác. Khi người ta chết, có nơi tin là linh hồn sẽ lên sống ở trên mặt trời, có bộ lạc tin rằng linh hồn sẽ lên trời hay sống lảng vảng trong không gian. Người Sédang cho là linh hồn những người bơ vơ sinh sống trong những cây cổ thụ giữa rừng.

Bởi tin có linh hồn, tin tưởng ở cuộc sống mai sau nên đồng bào Thượng thường săn sóc đến người chết và mồ mả rất chu đáo.

Tùy phong tục tập quán của mỗi bô lạc mà hình thức tang lễ thay đổi khác nhau, tuy nhiên nhìn tông quát ta thấy trong việc tang ma, người Thượng đều có những điểm tương đồng.

Trước khi chôn cất.

Khi trong làng có người chết, cả làng đến giúp đỡ và chia

Trang sách 247buồn cùng tang chủ; họ ăn thịt, uống rượu, có nơi cùng khóc lóc với gia chủ.

Hòm đựng người chết bao giờ cũng làm bằng thân cây đục rỗng ruột như hình chiếc mõ lớn. Có nơi (Bahnar, Diarai) làm hòm sẵn để trong nhà. Người Rhadé lại kỵ không dám làm quan tài để sẵn.

Khi liệm, họ quấn vào mình xác chết tất cả quần áo, khố váy của người đó lúc sinh thời, họ cũng bỏ vào trong áo quan những đồ dùng hàng ngày và của cải chia cho người chết.

Khi chôn.

Người chết được đem chôn trong vùng nghĩa địa là một khu ven rừng ở cạnh làng.

Ở đây chúng ta thấy phong tục có nhiều dị biệt.

Người Sédang, Bahnar và nhiều bộ lạc khác chỉ chôn trong mỗi huyệt một người chết mà thôi, trong lúc đó người Djarai lại chôn nhiều người chung một hòm. Người Koho chôn nhiều hòm chung trong một huyệt lớn.

Mồ của người Rhadé, Koho thường đắp nấm lớn, người Bahnar, Djarai đấp nấm bằng gần sát mặt đất.

Sau khi chôn cất và đắp nấm xong, người Thượng thường giết trâu, heo hoặc gà tùy theo nhà giàu hay nghèo để thết đãi dân làng và cúng tế cho linh hồn người chết. Sau đó họ thường làm một chòi nhỏ trên ngôi mộ để cho linh hồn người chết có chỗ trú nắng che mưa. Chiếc chòi nhỏ dựng trên mồ trong giai đoạn này thường được làm sơ sài, mái lợp tranh hay lá, không có phên vách. Đây không phải là ngôi nhà mồ vĩnh viễn mà chỉ là chòi tranh tạm trú của linh hồn trong lúc tang gia còn đang săn sóc cúng bái linh hồn người chết. Trong giai đoạn này tang chủ lo quét dọn sửa sang ngôi mộ rất chu đáo, hàng ngày

Trang sách 248đem cơm rượu ra cúng cho người chết. Trong chòi này, họ đặt những đô dùng hay của cải chia cho người chết. Những của cải này có thể để nguyên hay làm cho hư xấu đi, như có nơi đập những chiêng đồng chia cho người chết và đặt lên trên mồ.

Thời gian để bỏ mồ thay đổi tùy theo phong tục của mỗi bộ lạc. Thường thường thì vài ba năm sau khi chôn cất, người có tang lo cất một ngôi nhà mồ thật hẹp thế cho ngôi nhà tranh tạm thời trên mò, sau đó họ giết trâu, heo, dân làng tụ họp ăn uống nhảy múa tưng bừng. Người Djarai tổ chức lễ bỏ mồ vào đầu mùa xuân và biến những ngày này thành hội mùa xuân trong bộ lạc.

Riêng phong tục của bộ lạc Sédang lại khác, sau khi chôn cất xong một vài ngày hay một tuần họ làm lễ bỏ mồ luôn. Người Sédang cũng dựng nhà mồ vĩnh viễn để cho linh hòn trủ ngụ. Nhà mồ của người Sédang chỉ là một chòi lá sơ sài. Sau khi bỏ mồ, nếu thân quyến còn thương tiếc vẫn có thể hàng ngày ra nhồ cỏ dọn rác cho ngôi mộ trong một thời gian nữa.

Nhà mồ của người Diarai, Bahnar thường làm đẹp, kiên cố, chung quanh có hàng rào bằng những thân cây ngắn. Có nơi trang hoàng quanh mồ bằng những thân cây tạc hình tượng người đàn bà ngồi khóc, những người lính Pháp cưỡi ngựa...

Sau khi làm lễ bỏ mồ, người Thượng thường không săn sóc đến nhà mồ nữa, họ tin rằng linh hồn đã ở yên trong thế giới của họ hay đã đi ra khỏi vùng đất quê hương lên ở trên mặt trời. Do đó ngôi mộ bị lãng quên cũng như hình ảnh của những người nắm dưới mồ. Thời gian, mưa gió đã làm cho nhà mö xơ xác hoang tàn.

Lúc này cũng là thời gian mãn tang cho người chồng hay vợ kẻ quá cố. Họ có thể lại đi lấy vợ lấy chồng, dựng lập một gia đình khác.

Trang sách 249Ở phần sau, chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn về tục lệ tang ma của riêng từng bộ lạc sơn cước.

C. Giáo dục Tình trạng giáo dục của đồng bào Thượng hiện nay rất thấp kém và còn lạc hậu.

Đồng bào Thượng xưa kia không có chữ viết và con số để ghi, nên việc huấn luyện và giáo dục trẻ Thượng đều bằng cách bắt chúng đi theo và quan sát những người lớn để bắt chước.

Giai thoại sau đây kể lại tại sao họ không có chữ viết :

« Khi Pơ Thế (Đức Phật) đến vùng Thượng để dạy giáo lý của Ngài cho người Thượng thì tất cả vì vua của các dân tộc lân cận như Cạm Bốt, Lào, Xiêm cũng đến nghe Po-Thê để ngài dạy viết cho. Trong lúc những người trên lấy lá thốt nốt, lá dừa để viết thì người Thượng giết trâu và lấy da ra để viết.

Khi xong lời giảng dạy thì ai nấy về nhà; vốn tính bất cần nên người Thượng không cất kỹ miếng da ấy và nửa đêm con chó leo lên nhà ngửi thấy miếng thịt liền ngậm miếng da mà ăn đi.

Người chủ ngủ mê say nên chẳng biết gì ».

Muốn biết chúng có khả năng gì về sau này, người ta đặt . ở tầm tay đứa trẻ mới sanh đang ngủ ba đồ vật sau đây : một con dao rừng, một cái gậy đi rừng và một cái gậy quyền trượng. Rồi người ta lấy một cái bùa ngoáy nhè nhẹ vào tai nó.

Đứa bé giật mình tỉnh dậy nếu nó sờ vào con dao, lớn lên nó sẽ thành một người làm ruộng, nếu nó chạm tay vào cái gậy đi rừng trong tương lai nó sẽ thành một người thợ săo hoặc người đi buôn bán nhưng nếu nó nắm lấy cái gậy Tù trưởng thì sau này nó sẽ là Tù trưởng.

Khi đứa trẻ bắt đầu lớn lên, mỗi khi đi làm ruộng, vào rừng hoặc đi dự những buổi sinh hoạt tập thể bố mẹ chúng đều dắt chúng đi theo ; phong tục tập quán, đời sống sẽ đào luyện

Trang sách 250đứa trẻ thành một con người có những tập tục của một nhóm người sống giữa rừng sâu, cách biệt hẳn những văn minh tiến bộ của loài người.

Đầu thế kỷ 2o tiếng Thượng được các vị Linh mục người Pháp phiên âm theo mẫu tự la tinh và bắt đầu giảng dạy cho người Thượng. Việc giáo huấn thật khó khăn và vô cùng phức tạp vì bản chất người Thượng ưa sống tự nhiên không chịu bị gò bó, tâm trí không bao giờ chăm chú được lâu không thích suy nghĩ xa xôi, đầu óc chỉ hướng về thực tế, cụ thể ngay từ hồi nhỏ nên việc giáo dục phải nặng về bó buộc, trừng phạt.

Ngay đến trẻ em Thượng hiện nay vẫn còn bị ảnh hưởng di truyền rất sâu xa nên việc học hành của chúng rất sao nhãng, lại thêm phương tiện ăn học hầu như không có, có lắm vùng trong những ngày giáp hạ người Thượng không có gạo ăn chỉ sống bằng lá cây, may lắm thì kiếm được củ măng, bắp chuối cho nên phương pháp hữu hiệu nhất để đào tạo những trẻ Thượng là lập những ký túc xá, bắt buộc chúng ăn ở và học hành ở đấy.

D. Kiện tụng Từ ngày xưa đồng bào Thượng vẫn xử kiện theo tập quán cổ truyền. Họ dựa theo cổ tục và quyền phép thần linh để phán đoán kẻ nào có tội, kẻ nào không. Có những người bị xử oan cũng phải chịu và những người thực sự có tội cũng tưởng mình vô tội và đồng bào cũng chấp nhận như vậy vi họ tin tưởng rằng một khi thần linh đã xử chắc không thể sai lầm được.

Tuy vậy việc xử kiện cũng rất khó khăn và phức tạp vì phải xử làm sao cho hợp với phong tục cố hữu và làm hai bên phải chấp nhận. Bình thường người Thượng rất ít nói, ít tranh luận, luôn luôn tuân theo lịnh của Tù trưởng, của chủ làng nhưngđến khi kiện tụng họ cãi rất hăng và thề bồi rất mạnh.

Trang sách 251Họ đưa ra những bằng chứng, chứng có thể là người đã trông thấy hoặc biết câu chuyện. Có những vụ kiện cả họ, cả làng kéo đi làm chứng.

Chứng còn có thể là một vật và đặc biệt nhất là cây " gậy . chứng ». Cây này có thể làm bằng hai cách : cách thứ nhất là kiếm một cây gậy và buộc ngang một cái que. Cách thứ hai là kiếm một cái gậy và đẽo thành thừng khắc trên cây đó.

Loại trên thường dùng để đánh dấu chỗ đánh cá hoặc khu vực săn thú.

Loại thứ hai dùng để bảo đảm những giao kèo, khế ước hoặc hợp đồng đã làm với nhau.

Có khi những chứng vật là loại rất tầm thường; một người nhặt được một vật ở đường và bị kết tội là anh ta đã đạnh cắp vật đó , nhưng anh ta đưa ra nắm đất nơi anh ta nhặt được vật trên và được khỏi tội.

Tuy đã chưng ra chứng cớ, nhưng có khi đôi bên không bằng lòng và cứ khăng khăng không chịu được thua thì lúc đó sẽ áp dụng phương pháp nhờ đến thần linh xét xử theo những phương pháp dưới đây, sau khi đã làm lễ cúng bái :

Thử lửa: Cầm cục than đang cháy hồng trong tay và dập tắt.

Nước sôi. : Đun một nồi nước nóng sôi lên, thả một đồ vật trong đó và lấy tay vớt lên.

Đồ chì : đun chì cho lỏng rồi để trên lòng bàn tay được lót bằng bảy lớp lá cây.

Trong ba trường hợp này nếu bên nào bị bỏng là bên đó thua, người Thượng tin rằng thần linh không bao giờ bắt kẻ vô tội bị bỏng.

Trường hợp hai người cũng bị bỏng, thì bên nọ biếu bên kia một ghè rượu để giảng hòa.

Trang sách 252Lặn nước : Hai người kiện nhau phải nhảy xuống một cái suối sâu. Người nào trồi lên trước là bị xử thua kiện.

Nhai gạo : Hai người cho gạo vào mồm, nhai thật kỹ rồi nhồ ra bên nào còn hột gạo chưa nhai bên đó bị thua.

Khi người Pháp chiếm đóng miền Cao Nguyên họ vẫn để đồng bào Thượng xử kiện theo tập quán của họ. Đến năm 1947 Cao ủy Phủ Pháp tại Đông Dương đã ký nghị đinh thành lập Tòa án phong tục Thượng để xét xử những ; vụ về dân sự, thương mại và hình sự mà bên nguyên bên bị đều là người Thượng Bộ luât đầu tiên làm cho đồng bào Rhadé vào năm 1940.

Đến thời Chính phủ Ngô Đình Diệm (1954-1963), các Tòa án phong tục Thượng đều được bãi bỏ và những vụ kiện đều được xử như người Kinh.

Nhưng đến năm 1965 thể theo lời thỉnh cầu của đồng bào Thượng, các Tóa án phong tục lại được lập lại và các vụ xử kiện ở cấp buôn ấp đã được cải tiến và trở nên công bình và hợp lý hơn.

IV. Đời sống kinh tế của đồng bào Thượng Rừng núi Cao Nguyên có hai bộ mặt trái ngược, nếu không biết lợi dụng, thì Cao Nguyên là nơi ma thiêng nước độc, là chốn cắn cỗi nghèo nàn. Nhưng nếu biết khai thác thì Cao Nguyên lại là một kho tàng phong phú mênh mông.

Nơi đây, ngày trước đồng bảo Thượng sống lưa thưa trong những buôn nhỏ rải rác ở khắp núi rừng. Mật độ dân chùng rất thấp mà đất đai cùng tài nguyên thiên nhiên lại dòi dào phong phú.

Tuy đất rộng thênh thang mà đồng bào Thượng rất nghèo nàn thiếu thõn họ chỉ hưởng được một phần nhỏ của các gia tài

Trang sách 253đồ sộ bao la đó. Ánh sáng văn minh chỉ mới le lỏi chiếu vào đời sống họ trong thời gian gần đây.

Sở di đồng bào Thượng còn ở mãi trong tình trạng thấp kém vì họ chưa tiếp nhận được những khai hóa thật tình từ cội rễ.

Khả năng kinh tế của Cao Nguyên không phải là nghèo nhưng vì đồng bào chỉ khai thác bằng những phương tiện thô sơ tự ngàn xưa, cho nên họ không tận hưởng được những gì thiên nhiên dành sẵn cho mình.

Canh nông Phương pháp canh tác của đồng bào Thượng ngày nay vẫn là phương pháp cổ lỗ của thời đại sơ khai đốt rừng làm rẫy.

Những nơi gần đô thị hoặc nhiều người Kinh (như ở thị xã Kontum) hoặc ở những nơi căn cứ của Việt Cộng như Bông Hồng (Bắc Kontum) Kon Hamvong (Tây Bình Định) và một vài làng vùng Darlac, Djiring hay vùng Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ, đồng bào Thượng còn biết làm ruộng với những kỹ thuật gần giống như lối canh tác của người Kinh ngày xưa.

Làm rầy tốn nhiều công phu mà hoa lợi không được bao nhiêu.

Thường thường vào đầu tháng chạp, họ dọn rừng đốn cây, . chờ cho nắng khô. Đến khoảng tháng hai, ba họ nồi lửa đốt khu rừng đó. Sau khi đốt rừng xong thường là mùa mưa bắt đầu.

Đồng bào Thượng làm những công tác này theo thứ tự và kinh nghiệm cổ truyền. Thường khi đốn rừng và đợi nắng khô xong, hàng ngày người Thượng ra suối để thăm đò tình hình.

Người nông dân Việt Nam thì nhìn trời, nhìn mây nhìn rễ gì, cỏ gà mọc trắng để đoán điềm mưa nắng, đồng bào Thượng thì nhìn nước suối để đoán mùa mưa sắp về : hế suối súi bọt nhiều là có mưa. Lúc đó họ mới bắt đầu đốt rừng. Mưa làm ấm đất tro, họ đem hạt giống ra gieo.

Trang sách 254Có nhiều cách gieo hạt, nhưng đại khái đều giống nhau - Có thể một người vừa xăm lỗ vừa trỉa hạt. Phương pháp Yà chậm, thường áp dụng trên những thửa này hơi vật vá nương nhỏ và trọng những. gia đình hiếm người.. Người gieo lúa tạy cắp cái gùi nhỏ đựng hạt giống, tay phải cậm cái gậy. ngắn độ vài gạng tạy, đầu vót, nhọn. Xăm xong một lộ, họ, lại bỏ vài hạt vào, vùi đất lại. Có thể vừa đi giật lùi vừa xắm lỗ vừa gieo hạt cho đến hết thửa đất.

- Muốn nhanh chóng, họ dùng hai người, một người xăm đất, một người gieo hạt : Người thứ nhất đi bền phải tay cầm thanh tre vót nhọn (có khi hai tay hai gậy tre) dài hơn một thước, vừa tiến về phía phải vừa xăm lỗ, trong lúc người đi bên trái mang gùi lúa giống, bốc một nhúm lúa bỏ vào những lỗ đó rồi vùi đất lại. Những động tác này họ làm quen thuộc từ năm này sang năm khác cho nên rất nhanh.

Gieo lúa xong họ dựng ngay một chòi nhỏ gần thửa đất để trông coi, hàng ngày lo dọn cỏ, có nơi lo làm rào giậu để ngừa trâu bò, thú rừng đến quấy phá.

Vài vùng của vùng Djarai ở Pleiku hay người Bơnam thuộc Chương Nghĩa đồng bào cũng biết làm ruộng nước trên những thửa ruộng hẹp cạnh bờ suối hay giữa triền hai ngọn đồi. Muốn gieo lúa ở loại ruộng này đồng bào cũng dùng phương pháp trên, nhưng cũng dùng trâu đê gieo lúa: trước hết họ lùa một con trâu cho dẫm lên thửa đất bùn, trâu đi đến đâu để lại những dấu chân lún sâu xuống đất. Sau đó một người mang gùi hạt giống đến gieo vào những lỗ chân trâu.

Phương pháp làm rẫy thật là vất vả công phu, nhưng chỉ được một hai mùa họ lại bỏ sang làm rẫy khác, lại tiếp tục những công tác nhọc nhằn lao lực. Nhiều gia đình không có đủ người nên chỉ khai khần được những thửa đất nhỏ, một năm thu về không được mấy gùi lúa.

Trang sách 255Phương pháp đã cổ lỗ mà phương tiện lại nghèo nàn, nhiều làng ở xa xôi không mua được rựa, rìu đề phát rẫy, đốn rừng nên đành phải bó tay trở lại sống với giai đoạn kinh tế nhặt lượm và săn bắn của thời tiền cổ.

Thêm vào đó nạn thú rừng, hạn hán vẫn thường hăm dọa người sơn cước nghèo nàn ; ngoài ra phong tục tập quán cùng những mê tín dị đoan thường xuyên ràng buộc người Thượng, khiến họ luôn e ngại, hãi hùng không dám cải biến lề lối xưa cũ.

Nhiều làng thuộc bộ lạc Bơ Nam, Jolong tỉnh Kontum hay bộ lạc Hré miền thượng du Quảng Ngãi, mỗi khi đi phát rẫy cũng coi bói, đốt rừng cũng xin quẻ, gieo hạt cũng xin xăm, làm rào phải lễ thần. Nhiều khi trời tốt, mưa thuận gió hòa nhưng xin Yang không cho phép, họ cũng không dám rẫy làm mùa. Đến khi xin quẻ được Yang bằng lòng thời tiết không còn thích hợp nữa, do đó họ phải mất mùa.

Người Thượng lại không dám bón phân vào ruộng rẫy để tăng sinh lực cho thửa đất, họ sợ thần không bằng lòng. Đến khi mùa lúa chín đồng bào Thượng không dám dùng liềm gặt lúa sợ lúa đau và thần giận dỗi. Họ dùng tay truốt lúa. Thường thường họ không truốt hết lúa một lần để mang về nhà. Ra rẫy, thấy lúa chín, họ truốt một ít đem về giã ăn trong ngày, hôm sau lại ra truốt một gùi nhỏ nữa ..

Khi thấy lúa chín đều, họ mới truốt hết mang về cho vào vựa. Đồng bào Thượng chứa lúa trong những chòi nhỏ làm xa nhà, Đồng bào Thượng lại không biết làm mùa phụ. Một năm chỉ làm một mùa lúa. Họ cũng biết trồng bắp, khoai, củ mì, bầu, bí... Nhưng chỉ trồng lẫn lộn trong rẫy lúa và cùng một mùa đó thôi.

Trang sách 256Lía gặt hái được hoa và màu họ lại xài bừa bãi, không biết lo xa, không chịu tính toán để dành. Kinh nghiệm đói kém với cuộc sống lây lất trải qua bao thế hệ không làm họ thức tỉnh để biết lo xa.

Hái được lúa mới, công việc đầu tiên là họ làm ngay những vò rượu để dành nhắm nháp trong năm. Thế rồi những buổi tế thần, những ngày cưới hỏi tang ma, những lúc hội họp bạn bè họ, say sưa trong men rượu. Ít khi họ nghĩ đến những ngày giáp hạ đói kém. Âu đó cũng là một niềm an ủi cho họ.

Có người cho rằng không có rượu, không có những buổi tế thần thì đồng bào Thượng đã héo mòn tiêu diệt từ lâu rồi.

Cuộc sống trầm lặng của đồng bào Thượng trong rừng núi âm u lạnh lẽo có gì cho họ giải trí quên bớt những nhọc nhằn của cuộc sống ? Chỉ có những vò rượu với các vị thần rừng núi đã an ủi họ rất nhiều qua mãy ngàn năm. Muốn cho đồng bào Thượng bỏ bớt tật tống rượu, ta phải đem đến cho họ những thú vui khác, lành mạnh mà hợp với tâm hồn mộc mạc của họ. Muốn đồng bào Thượng từ bỏ những mê tín đị đoan, ta phải thay thế các vị thần rừng núi trong tâm hồn họ bằng một đấng thiêng liêng hay một chính giáo. Đó là những công tác tinh thần rất khó khăn, không thế một sớm một chiều mà thực hiện được.

Hoạt động thương mãi của đồng bào Thượng Ngày trước, những hoạt động thương mãi của người Thượng không phải là một nghề sinh sống mà chỉ là những trao đổi để cung cấp những món hàng hay những đồ vật mà họ không thể sản xuất được.

Người Thượng thường bán cho người Kinh những lâm sản như quế, mật ong, sáp ong, dầu chai, củi, măng rừng, những nông sản như lúa, gạo, bắp, mè, đồ trái, (thơm, mít, chuối, xoài). Họ cũng bán những đồ đan như gùi, mây, phên nứa,

Trang sách 257các loại ghế ngồi hay những sản phẩm mỹ thuật như những kiếu nhà sàn nhỏ, những tấm vải mền dệt đặc biệt theo kiểu Thượng...

Tuy nhiên, đồng bào Thượng mua vào nhiều hơn bán ra.

Họ phải mua của người Kinh muối mắm, cá khô, vải, sợi dệt, nông cụ (cuốc, rìu, rựa...) nồi đồng, thanh la, ghè chứa rượu.

Những sự trao đổi mua bán này có thể thực hiện trực tiếp ở các làng gần phố chợ Sáng sáng họ rủ nhau quầy gùi xuống chợ, trong gùi hoặc đựng dăm ba chai mật, một con gà, chục trứng, vài mụt măng, có khi họ chỉ gùi những gùi củi.

Thường thường vì tính tình chất phác hiền lành, chưa quen với sự mua bán, chưa ước lượng được giá trị của món hàng nên đồng bào Thượng hay bị lầm : mua đắt bán rẻ. Các nhà buôn người Kinh đều nhận là buôn bán với đồng bào Thượng chóng lời. Đối với các làng ở xa, công việc trao đổi hàng hóa thường phải qua sự trung gian của các lái buôn, vì bản tính của người Thượng ít thích đi xa khỏi làng, nhất là những người đàn bà Có nhiều bà lão đã bẩy tám mươi tuổi mà từ bé đến lớn chưa đi chợ lần nào, mặc dù chợ chỉ cách làng không đến Io cây số. Hơn nữa, công việc mua bán nhỏ nhặt không đáng là bao, như mua ký muối, bán con gà, chai mật mà phải lặn lội qua đèo qua suối nghĩ cũng vất vả. Do đó, khi thấy có người mang hàng đến bán, mua thì đồng bào mừng lắm. Những món cần thiết nói giá bao nhiêu cũng mua ; còn những sản phẩm không đem về chợ bán được, nay có người đến, thôi thì bao nhiêu cũng bán đi cho xong. Những người lái buôn này thường chỉ dùng hình thức đổi chác, không giá hàng hóa bằng tiền, chỉ ước lượng hàng hóa này xứng với vật kia, để đổi cho nhau. Ví dụ : con heo đánh đổi chiếc nồi đồng, cái rìu đổi vài chai mật...

Thường thường các người lái buôn này lợi dụng tính khờ khạo của đồng bào Thượng để lừa phỉnh họ.

Trang sách 258Tuy nhiên, ngày nay ở nhiều nơi, vì năng tiếp xúc với người Kinh, đồng bào Thượng đã khôn ngoan dần, họ không để dễ bị lừa như trước nữa.

Có khi những khôn ngoan vặt đó trở thành xảo quyệt, nhất là ở người Diarai. Thấy những món hàng có vẻ đắt khách họ neo giá thật cao, trả bao nhiêu không chịu bán, cuối cùng vì cần khách phải mua với giá họ đưa ra.

Tiêu công nghệ Công nghệ của người Thượng rất thô sơ, quanh quần trong việc đan những gùi mây, các loại đồ dùng bằng tre, hay đan những chiếc nhà sàn, nhà rông kiểu nhỏ đề bán cho khách du lịch làm vật kỷ niệm. Ngoài ra hầu hết, ở các nơi, đàn bà con gái Thượng đều biết dệt vải để mặc hay đổi chác. Vải dệt thô sơ, trang trí, mộc mạc, bình dị ; tuy nhiên có nơi, họ cũng đệt được những loại vải hay mền với những đường viền khá mỹ thuật đẹp mắt. Màu sắc thì không thống nhất, tuy nhiên đa số đều chọn màu đen và chàm, những đường viền và kẻ sọc thường là màu đỏ, trắng. Phương pháp và dụng cụ dệt vải rất thô sơ lạc hậu, do đó mỗi ngày họ chỉ dệt được khoảng vài tấc vải khổ rộng độ 0,50 hay o,6om. Nhiều nơi đồng bào Thượng cũng biết rèn giáo mác, dao và các nông cụ để dùng. Đặc biệt là loại dao của người Bahnar, Sédang trỡi rất bén, vỏ và cán trình bày mỹ thuật.

Nhân công Bởi bản tính tự đo phóng túng, đồng bào Thượng không thích đi làm công. Sau mùa rẫy bái, họ sống với những thú vui riêng, hoặc mang ná vào rừng bắn chim, hoặc đem cần câu ra suối câu cá, cuộc sống an nhàn ít ràng buộc. Do đó rất khó thuê nhân công người Thượng để làm các công tác trong các đồn điền hay cơ xưởng.

Trang sách 259Ánh SFI Thiều nữ MẠ

Trang sách 260Ánh Trần Văn Châu Đan lát

Trang sách 261Ngoài ra, sở dĩ đồng bào Thượng ít thích đi làm công có lẽ cũng do chế độ bắt công trong những đồn điền người Pháp ngày trước. Nơi đó nhân công người Thượng bao giờ cũng chỉ được hưởng tiền công bằng phân nửa của nhân công người Kinh.

Để kết luận, chúng ta nhận thấy rảng mức sống của đồng bào Thượng rất thấp kém vì những sinh hoạt kinh tế chưa được phát triển mở mang.

Về canh nông thì đồng bào Thượng thiếu phương pháp và phương tiện. Về thương mãi, bị trung gian lợi dụng, bóc lột.

Về công nghệ : thô sơ chưa có gì. Để khuyến khích đồng bào Thượng hoạt động sản xuất và tiêu thụ mạnh, cần phải tạo cho họ nhiều nhu cầu, giúp đỡ họ cải thiện lề lối canh tác cung cấp nông cụ. Và một điều quan trọng hơn cả là phải có thị trường tiêu thụ những vật phẩm họ sản xuất được, giúp họ những phương tiện di chuyển để trao đồi mua bán.

Trong lúc mua bán trao đổi cần phải loại trừ những kẻ trung gian xảo trả lợi dụng. Tỏ chức hợp tác xã tiêu thụ để giúp đòng bào Thượng sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.

Khuyến khích nâng đỡ đồng bào Thượng phát triên ngành • tiều công nghệ.

Thuê mướn nhân công Thượng phải trả lương tiền hợp với khả năng của họ.

Nói chung đồng bào Thượng hiện đang cần nâng đỡ rất nhiều về mặt kinh tế.

Một khi những hoạt động kinh tế phát triên mạnh, khả năng kinh tế được khai thác trọn vẹn Cao Nguyên sẽ là một kho tàng phong phú của miền Nam nước Việt. Nơi đây không còn là chốn lưu đày theo quan niệm những người thất chí, mà là

Trang sách 262một niềm hấp dẫn những kẻ phiêu lưu, khai thác, như miền Viễn Tây Hoa Kỳ ngày trước.

" Tiền rừng bạc bể là đây, " Có công khai thác có ngày giàu sang ».

Hai câu ca dao viết trên biểu ngữ trong hội chợ kinh tế Banmêthuột năm 1957, đã nói lên được niềm hy vọng của chúng ta đối với những tài nguyên dồi dào đang tiềm ấn trong lòng đất của núi rừng.

V. Tín ngưỡng của đồng bào Thượng Là một dân tộc mà tình trạng xã hội và tinh thần dừng lại ở giai đoạn sơ khai, thành thử những phong tục, tín ngưỡng cùng những nếp sinh hoạt của đồng bào Thượng đều nặng tính chất mê tín dị đoạn.

Những con người sơ khai cảm thấy mình nhỏ bé, yếu hèn trước vũ trụ bao la. Nhìn xung quanh cái gì đối với họ cũng cao cả đầy hăm dọa. Từ những ngọn núi sừng sững im lìm mà bí hiểm, những thác nước đổ ào ạt, cho đến những gốc cổ thụ um tùm, những đêm mưa bão ì ầm, những ngày nắng cháy thiêu đốt... Tất cả tạo thành một lực lượng siêu nhiên huyền bí rình chực xung quanh, luôn luôn đe dọa, ám ảnh họ.

Do đó, họ phải tìm một nơi nương tựa, tìm một quyền lực để che chở. Từ đó trong đầu óc họ nẩy sinh ra hình bóng những vị thần đầy sức mạnh, đầy uy quyền sẵn sàng giúp họ chống lại những hăm dọa của thiên nhiên.

Bên cạnh những vị phúc thần che chở họ còn có vô số những hung thần, những ác quỉ, yêu ma rình rập ám hại họ. Họ luôn luôn phải cầu xin thần thánh, hối lộ ma quỉ đề mong được sự bình an.

Trang sách 263Nhiều nhà xã hội học cho ráng ý thức tôn giáo đến với loài người hồi nguyên thủy từ những khiếp hãi ngoại vật trong thời thượng cô.

Con người thời đó đã cố gắng tìm hiểu giải thích những hiện tượng xảy ra hàng ngày. Mỗi khi không tìm thấy được những liên hệ nhân quả đê giải thích một hiện 'ượng trong vũ trụ như sấm sét, mưa gió... họ quay về tìm nguyên nhân ở những vị thần. Theo họ, mỗi hiện tượng là do một vị thần tạo ra.

Chúng ta không đi xa hơn trong lĩnh vực tìm hiều nguồn gốc tôn giáo mà chỉ suy luận để nhận thấy rằng tình trạng tinh thần cũng như tín ngưỡng của người Thượng qua mấy ngàn năm vẫn còn dừng lại ở trạng thái sơ khai.

Nói chung, ngày trước đông bào Thượng đẽu là những người đa thần, họ không có một tôn giáo chính thức, không có kinh nghiệm, không giáo lý. Những việc cúng tế của họ chỉ là những hình thức mua chuộc thần linh.

Với tâm hòn đơn giản, họ cho răng các vị thần cũng đầy đủ tình cảm như con người : cũng vui, ghét, mừng, giận. Được cúng nhiều lễ vật thần vui vẻ mà bênh vực, giúp đỡ họ, lỡ làm thần giận phải lo lễ tạ...

Trên hết, đồng bào Thượng đều tin có một vị tỏi cao, uy quyền tuyệt đối, như chúng ta tin tưởng ở Trời hay Thượng đế sau đó đến các vị thần gọi là Yang.

Yang có mọi quyền lực đối với con người, có thể giáng phúc hay gieo họa cho bất kỳ ai. Do đó bất cử làm một công việc gì quan trọng trước hết họ cúng Yang cầu xin phù hộ che chở. Riêng bộ lạc Teu ở Quảng Trị, Thừa Thiên họ tin ở một vị thần là « Ma mui ». Người Stiêng chỉ thờ thần Netta, một vị thần theo tín ngưỡng của người Cao Miên. Họ tạc tượng thần Netta bằng cây và thờ trong những ngôi miếu nhỏ đầu làng hay ở ven rừng.

Trang sách 264Tuy không có hệ thống xếp đặt rõ rệt giữa các vị thần nhưng tùy theo cách lễ bái, cúng tế chúng ta thấy người Bahnar cầu xin như sau : . Tạo hóa Gồm có :

- Bok Kơi: Dơi làm ra mặt trăng, mặt trời và các ngôi sao.

- Iă Kon Keh làm ra bầu trời và trái đất.

- Bok Kơi Dơi và lă Kon Keh lấy nhau sinh ra ba con : một người ở lại trên trời là lă Pom, hai người xuống dưới đất tên là lă Bok, tổ tiên của loài người. 2. Thượng đắng thần Gồm có : Thần Sấm Sét (Bok Glaih) Thần Lúa (Yang Sơri) • Thần Nước (Yang Dak), Thần Núi (Yang Kong).

Các vị thần kế trên là những thần có uy quyền nhiều và liên hệ trực tiếp với đời sống hàng ngày của người dân sơn cước. 3. Hạ đắng thần Là thần thú vật hay các đồ dùng trở thành linh thiêng v.v... như vậy trong hạng này gồm vô số thần, vi dụ: Thần Hồ (Bok Kla) Thần Voi (Roix), Thần Cóc (Ket Droix), Thần Ghè (Yang Xatox), Thần Cây (Yang Long)...

Theo tin tưởng của đồng bào Thượng thì Thần Hổ rất linh thiêng, hỗ có thể giả các thứ tiếng của súc vật hay có thể biến thành hình người.

Thần Voi thường giúp người ta trong lúc chiến tranh, Thân Cóc giúp đỡ được mùa, thần Ghè ở trong những chiếc ghè lớn màu nâu đỏ có nhiều tai.

Trang sách 265Các việc tế tự các vị thần bậc trên được qui định vào những ngày hay mùa nào đó trong năm, còn các vị thần bậc dưới chỉ được cúng lễ theo lời thầy cúng chỉ định trong những lúc có người đau ốm, hoạn nạn.

Những người thầy cúng Thầy cúng là những con người trung gian giữa loài người và thế giới huyền bí của thần linh ma quỉ.

Có nơi gọi là thầy phù thủy, thày Mo, có nơi gọi là Bồi Dâu, Bà Bóng... tuy nhiên tất cả đều chỉ những vị thầy cúng kiêm thầy lang để chữa bệnh cho dân làng. Tất cả các cuộc lễ tế tự lớn nhỏ trong làng đều phải do vị thầy cúng đứng chủ lễ.

Do đó các vị này rất được dân làng tin tưởng tôn trọng và cũng nhờ thế mà thường thường các thầy cúng đều là những người giàu có nhất trong làng.

Mỗi khi trong nhà có người đau ốm người dân sơn cước không lo chạy chữa bằng thuốc men mà chỉ lo mời thầy cúng, sắm sửa lễ vật để cầu xin thần thánh cho con bệnh được chóng lành, hay để yêm trừ ma quỉ.

Người sản phụ sinh nở khó khăn, cô gái chưa chồng lỡ bị cám dỗ... đều phải nhờ thầy cúng cầu xin hay giải trừ uế tạp.

Ngày trước, mỗi khi khách đến ở lại nhà, gia chủ phải mời thầy cúng đến cúng xin Yang cho khách được phép vào nhà và ở lại bình yên.

Buổi lễ cúng hôm đó chủ nhà làm một con gà để thầy cúng xem quẻ ở lưỡi và giò gà. Sau này chủ nhân sẽ đối đãi với thân thiết hay lạnh nhạt tùy theo lời giải đoán của thầy cúng :

- Lưỡi gà ngay thẳng là người khách tốt có thể trở thành bạn thân được.

Trang sách 266- Trái lại nếu lưởi gà hơi cong là khách có tính xảo quyệt chân gà co rúm tức là khách sẽ mang bệnh tật hay điều xấu đến cho gia chủ.

Ngoài ra người Thượng còn có tục coi giò để đoán điềm họa phúc trong nhá. Khi trong nhà có việc gì mà gia chủ thấy cần cầu đảo, chủ nhà bắt con gà giò mới nở được mười hôm để sống cắt lấy hai chân đến đầu gối rồi cột cặp giò lại nhúng vào nước sôi ba lần, xong đem ra để thầy cúng đoán giải. Nếu bốn ngón đều chụm sát vào nhau là điềm tốt cho gia chủ, tai qua nạn khỏi. Nếu ngón út của giò cong queo và các ngón kia không chụm sít vào nhau là điềm chẳng lành.

Sau khi coi giò, tùy trường hợp tốt xấu thầy cúng sẽ chỉ định cho gia chủ phải cúng vị thần nào và phải làm thịt trâu, bò, dê hay heo, gà...

Câu khấn :

Trước khi làm những việc gì hệ trọng, người Thượng thường dâng lễ vật lên thần để cầu xin phù hộ.

Nguyền hứa :

Trong vài trường hợp, họ không dâng lễ vật cho thần mà trái lại hứa rằng khi nào lời khấn nguyện đã đạt được, họ mới mang lễ vật hậu tạ thần sau.

Làm chứng Khi cần một sự làm chứng, họ cũng mang nhau ra trước thần linh để thè nguyền.

Trù rủa Khi muốn trả thù, người Thượng cũng không ngại ngùng nhờ bàn tay các vị thần linh giúp đỡ. Họ có phép « yếm hồn »

Trang sách 267bằng cách nhô tóc của kẻ thù cho vào hòm nhỏ, rồi đem chôn.

Xong họ khấn với thần linh để trù rủa cho kẻ thù của mình chết.

Có nơi họ đẽo một hình nhân bằng cây rồi đánh cắp một vài vật dụng thường dùng của kẻ thù như áo, khố, ống, điếu v v... đem cột vào hình nhân. Sau đó họ kiếm một con gà trắng làm lễ, vừa cúng vái vừa nhìn vào hình nhân, miệng gọi tên hoặc tả hình dáng kẻ thù, rồi lấy máu con gà vấy vào hình nhân và đem đi chôn. Người bị yêm sẽ bị đau ốm hoặc có khi bị chết và muốn tai qua nạn khỏi người đó phải đi kiếm thầy coi giò và cúng giải.

Lễ đâm trâu.

Đa số người Thượng nuôi trâu để cúng tế chứ không phải dùng trong việc canh nông.

Thường thường người Thượng tổ chức lễ đâm trâu vào những dịp lễ lớn quan trọng, có thể là lễ chung của cả làng hay riêng của gia đình như lễ cầu an, tạ thần, xin bệnh chóng lành.

Nếu là lễ riêng của gia đình, trước khi làm lẻ, gia chủ mướn người vào rừng chặt cây tươi và lá đem về. Họ phải ra tận ngõ đón lấy và trả công cho những người đó bằng chuỗi hạt cườm.

Đem cây lá về nhà họ làm lễ cúng trước rồi mới hày ra chạm trổ những hình đặc biệt và cột ở trên ngọn những sợi tua bằng vải như ngọn nêu của người Việt trong lễ Tết Nguyên đán ngày xưa.

Sau đó vị thầy cúng chủ tọa buổi lễ sẽ chọn chỗ để đào lỗ chôn cây nêu, thường thường là ở giữa sân nhà Trong lúc đào lỗ, cả nhà ăn vận sạch sẽ ra đứng chung quanh, vừa la vừa hú vừa khấn vái trời đất, xong họ mới chôn cây cột chính vào lỗ vừa đào, chung quanh có nhiều cột phụ khác thấp hơn để tăng phần vững chắc. Trong những ngày sửa soạn đó gia chủ phải làm gà hay heo để thiết đãi những người đến giúp việc.

Trang sách 268Sau khi dựng nêu xong họ đem trâu đến cột dưới chân nêu, dây cột thường là dây mềm và bền.

Lúc bấy giờ bắt đầu vào lễ đâm trâu. Người trong làng kéo đến vây quanh cây nêu cột trâu, họ khua chiêng, gõ phèng, gióng trống múa hát ê a. Trong lúc đó thầy cúng lấy một chiếc nồi đồng đem đặt trước nhà, đứng hai chân trên miệng nồi làm phép cúng vái : xong lấy giáo đâm một nhát vào đùi trước của trâu, tiếp theo người chủ nhà cầm chiếc dao dài đâm vào cạnh sườn con vật, mọi người trong nhà lần lượt mỗi người bồi thêm một nhát cho đến khi vết thương thấu tim, máu phun thành vòi, con vật hy sinh từ từ quy xuống.

Thường thường người ta chọn người đâm nhát đầu tiên là một kẻ thiện nghệ. Họ chỉ cần một lần khai dao là trúng thấu tim, con vật ngã liền.

Thấy trâu bắt đầu gục xuống, một người chực sẵn mang chiếc nồi đồng lớn trong có đựng ít rượu đến đặt ngay cạnh vết thương của con vật để hứng máu.

Máu hòa với rượu dùng để cúng thần. Người thầy cúng lấy dao cắt một tí tai, mũi, mắt và lông đuôi, lấy máu trâu bôi vào hai que tre nhỏ để xin keo. Tiếp đó ông đem tất cả những thứ nói trên vào nhà làm lễ cúng và đặt hai que tre trên mái nhà.

Lễ xong, mọi người đến dự đều được mời ăn thịt, uống rượu, nếu không đủ, các nhì lân cận bê những vò rượu lớn đến góp phần uống thật say sưa.

Sau chầu ăn uống thì lễ cúng cũng tàn. Ba ngày sau, gia chủ đem sừng trâu treo trước cửa nhà và hai xương hàm cùng với răng trâu treo trong nhà.

Trong ba ngày sau lễ cúng, người trong nhà cữ không được đi đâu ra khỏi cửa và cũng không tiếp đón một ai vào nhà.

Trang sách 269Ảnh Đức Thinh Lễ đâm trâu

Trang sách 270Ảnh Trần Văn Châu Đi chợ

Trang sách 271Thường trước cửa những nhà có cữ, người Thượng treo những dấu hiệu đặc biệt thay đồi tùy nơi. Nếu người lạ không biết mà vi phạm vào những kiêng cữ đó, gia chủ sẽ bắt phạt vạ nặng nhẹ tùy theo vùng.

Ngày nay, thường vào các làng người Thượng chúng ta thấy trước sân mỗi nhà có một vài cây gòn (cây bông gạo) mọc cao thấp không đều, đó là những cây nêu mà một hai năm về trước họ đã cột trâu tế lễ. Những cây đó bây giờ đã đâm rễ, mọc lá và vẫn còn giữ tính cách thiêng liêng, được người nha tôn trọng kiêng nễ.

Thành thử vào một nhà nào chúng ta chớ nên sờ mó, nhất là không được chặt đẽo hay tiểu tiện dưới gốc cây gòn trước sàn nhà. Vào làng nào thấy nhiều cây nêu là làng đó giết nhiều trâu (một cây nêu là một con trâu).

Hỏa Xá và Thủy Xá Hỏa Xá và Thủy Xá là tên gọi hai vị thủ lãnh thần bí của bộ lạc Djarai, tuy nhiên, hầu hết các bộ lạc Cao Nguyên và cả đến Ai Lao và Cam Bốt đều biết tiếng và kính nễ hai vị này.

Vấn đề nguồn gốc và tên gọi Hỏa xá và Thủy Xá rất phức tạp. Mỗi nơi giải thích một khác và gọi bằng một tên khác nhau.

Người Djarai gọi Hỏa Xá là Patau-Pui, (vua lửa), người Bahnar gọi là Bok-Redâu, người Rhadé gọi là Mtau-Pui, người M'nông gọi là Adecht Leh, người Lào gọi là Sadet Fai, người Cao Miên gọi là Sdacht-Phleung, người Pháp gọi là Sadet Feu, Còn Thủy Xá, người Djarai gọi là Patau-Ya (vua nước), người Rhadé gọi là Mtau La, người M'nông gọi là Adecht- Tung, người Lào gọi là Sadet-Nam, người Cao Miên gọi là Sadet Teuk, người Pháp gọi là Sadet de l'Eau.

Về nguồn gốc của Hỏa Xá và Thủy Xá mỗi bộ lạc có một

Trang sách 272thần thoại khác nhau để giải thích. Tuy nhiên thần thoại chỉ nói đến Hỏa Xá, còn Thủy Xá theo đồng bào Thượng đã có từ lâu đời và họ cũng không hiêu tại sao có.

Ngày nay Hỏa Xá và Thủy Xá trở thành một chức vụ lưu truyền theo dòng họ.

Hỏa Xá giữ thanh gươm thần ở làng Plei Ddap, Thủy Xá giữ một cây quyền trượng bằng gỗ ở làng Plei A măng. Hai làng trên đều ở vùng Cheo Reo thuộc tỉnh Phú Bồn.

Theo sự tin tưởng của đồng bào Thượng thì gươm thần có phép làm ra lửa, nước, làm cho trời đất mù mịt và gây bệnh dịch. Về sự lịch sử của thanh gươm này mỗi bộ lạc có một truyện thần thoại giải thích khác nhau.

Về những người kế nghiệp Hỏa Xá thì không phải được lưu truyền theo chế độ phụ truyền tử kế mà là do một sự lựa chọn. Khi Hỏa Xá chết, các cận thần sẽ họp nhau chọn người kế nghiệp thuộc dòng của Hỏa Xá (đòng cha) thành thử người con trai của Hỏa Xá không được kế nghiệp (vì theo họ mẹ) mà thường thường là người em út hay cháu họ của Hỏa Xá mới được thay thế Hỏa Xá. Khi đã chọn được người làm Hỏa Xá mới, các cận thần phải hỏi ý kiến người này, nếu người này bằng lòng người ta lấy một sợi bông buộc vào cổ tay.

Thỉnh thoảng một đôi năm Hỏa Xá lại đi thăm các làng thuộc quyền mình. Hỏa Xá đến làng nào dân làng ấy phải giết một con trâu, một con lợn để cúng và ăn. Ngoài ra mỗi làng còn phải tặng Hỏa Xá một nồi đồng lớn, một con bò, một con lợn còn sống để đem về nhà riêng. Mỗi gia đình còn phải dâng hoặc một chiếc cuốc nhỏ bằng sắt hoặc một ít sáp ong hoặc một chuỗi hạt cườm.

Nhiều khi Hỏa Xá không đích thân đi thăm các làng mà cử một người thân cận đi đại diện. Những lúc đó các lăng chỉ

Trang sách 273cần làm một con lợn để cúng, và gởi tặng Hỏa Xá một con lợn và một cái chén.

Ngày trước, hồi còn cựu triều nhà Nguyễn, mỗi khi hay tin Hỏa Xá mới được chọn lên, các quan tỉnh Phú Yên chọn người lên thăm viếng và tặng Hỏa Xá một chiếc bình bằng bạc.

Chiếc bình này về sau dùng đựng tro thiêu xác Hỏa Xá.

Hỏa Xá không phải là thần linh bất tử nên vẫn không tránh khỏi các bệnh tật và vẫn phải chết.

Khi thấy vị này sắp chết, các cận thần và những người trong gia đình hội họp chung quanh, một người đặt tay lên ngực Hỏa Xá. Khi thấy hết thở, một người cầm giáo đâm vào bụng Hỏa Xá. Có khi các cận thần không đợi Hỏa Xá chết rồi mới đâm, khi thấy Hỏa Xá hấp hối, họ bàn rồi dùng giáo giúp Hỏa Xá chóng chết. Theo người Djarai thì Hỏa Xá không chết tự nhiên như mọi người, mà Hỏa Xá phải bị người ta giết chết.

Khi hay tin Hỏa Xá chết, hầu hết các làng đều cử Đại diện đến dự đám táng. Trong nhiều ngày ta thấy tiếng than khóc, tiếng thanh la, tiếng trống ầm i liên miên. Dân làng và các • làng xa gằn kéo đến, mỗi người mang theo một vò rượu, một con heo hay một con gà. Mọi người uống rượu say sưa.

Trong lúc đó, một số người lo kiếm gỗ làm giàn để đặt xác Hỏa Xá lên đó và bắt đầu làm lễ thiêu xác.

Khi xác đã thiêu xong, các cận thần lấy tro của tim, răng và xương đốt ngón tay đặt vào trong bình bằng bạc mà các người đại diện Việt Nam đã mang từ Phú Yên lên hồi trước. Những phần tro và than còn lại đều được để trong một cỗ áo quan và được đem chôn, trên mồ người ta dựng một ngôi nhà nhỏ tạm thời, bên trong đặt bình bạc đựng tro.

Mỗi lần ra làm lễ bên mồ, người đàn bà góa lại phải lãy

Trang sách 274bình bạc buộc vào lưng, lo quét dọn, châm nước vào chén cúng, đặt gạo trên một chiếc lá... Xong lại đặt bình bạc trên mồ trẻ về nhà. Người vợ Hỏa Xá chịu thời gian tang khó là năm năm.

Sau đó họ cũng làm lễ bỏ mồ, bình bạc được chôn chung vào áo quan. Trên mồ làm một ngôi nhà mồ cao lởn, trang hoàng đẹp. Từ đó, cũng như tất cả ngôi mộ khác nhà mồ của Hỏa Xả bị điêu tàn quên lãng.

Trong phong tục tập quán cùng những sinh hoạt của đồng bào Thượng còn rất nhiều những điểm đặc biệt phức tạp, chúng ta chỉ mới thoáng nhìn qua những nét chung có thể gọi là tiêu biểu nhất cho những tục lệ của đồng bào miền núi.

Ngoài ra, mỗi bộ lạc còn có những phong tục khác biệt, những kiêng cữ cầu kỳ, những lề lối sinh hoạt cũng như đời sống... tinh thần biến chuyền tùy theo địa phương và hoàn cảnh bên ngoài mà chúng tôi sẽ lần lượt trình bày ở phần sau.

Nhìn chung, chúng ta nhận thấy phong tục tập quán của đồng bào Thượng đều cổ lỗ đậm màu mê tín dị đoan. Trong lúc bên ngoài trải qua nhiều biến chuyển đổi thay, bao nhiêu phát minh sáng tạo của loài người họ như vẫn say sưa ngủ kỹ trong rừng già hàng ngàn năm với những nếp sống xưa cũ của thời gian sơ khai. Phong tục tập quán, tín ngưỡng dị đoan đã ràng buộc vây phủ người Thượng trong một tình trạng tinh thần thấp kém. Rừng núi, sơn lam chướng khí, bệnh tật, thiếu ăn cùng những tục lệ dã man đã làm cho dân số của họ cứ dừng lại mãi ở tình trạng thiểu số, có khi đi lùi đến chỗ điệt vong.

Tuy có lõi sống man dại cổ truyền, nhưng họ lại là những con người dễ thương, hiền hòa, an phận.

Lẽ dĩ nhiên những sự xích mích, đụng chạm giữa các bộ lạc do vấn đề mưu sinh gây nên không thể nào tránh khỏi, nhưng khi trở về với bản tính cố hữu, họ vẫn là những người chất phác thật thà, những người còn giữ được nhiệu tính chất

Trang sách 275thiện trong tâm hồn. Người Diarai nồi tiếng biện bác, Sédang hiếu chiến, Bahnar hiền lành, Rhadé thông minh, người Dié trầm lặng...

Ngày nay, chủ trương nếp sống HÒA NHI BẤT ĐỘNG, sức bảo vệ những mỹ tục, ngôn ngữ của đồng Quốc gia hết bào Thượng. Với sự hiện diện của các Dân biểu và Nghị sĩ tại Quốc Hội, với sự thành lập Hội đồng Sắc tộc đời sống của đồng bào Thượng sẽ được nâng đỡ, cải tiến để phù hợp với khẩu hiệu CAO NGUYÊN TIẾN BỘ với sắc thái thống nhất trong dị biệt và cộng đồng đồng tiến.

Trang sách 276Thác Pongour