CHƯƠNG THỨ HAIPhần 3 · trang 38–82

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 38CHƯƠNG THỨ HAI VÀI NÉT ĐỊA LÝ MIỄN THƯỢNG I. Vị trí và Giới hạn Cao nguyên miền Nam ở giữa vi tuyến 1r° và 15°30 Bắc và Kinh tuyến 105°30 Đông, bao trùm trên 450 cây số từ Bắc xuống Nam (gần bằng I/4 nước Việt Nam) và lan rộng từ Đông sang Tây, vào khoảng 150 cây số.

Diện tích, đo được chừng 65.000 cây số vuông, giới hạn phía Bắc bởi sông Bùng (Quảng Nam), Nam giáp với bình nguyên sông Đồng nai và sông Saigon, Đông với duyên hải miền Trung và Tây bởi ranh giới Việt - Lào và Việt - Cam-bốt.

II. Cấu tạo và Đặc tính Dãy Trường sơn được coi là xương sống của nước ta, chạy dài từ sông Mã tới bình nguyên Nam phần, uốn hình chữ S hoa, phần cong hướng ra biến.

Dãy Trường sơn được chia ra làm hai phần :

- Phần Bắc : hẹp chạy từ Trấn Ninh qua Hoành Sơn tới Hải Vân.

Phần Nam : Từ sông Bùng (Quảng Nam) trở đi, dãy núi phình ra và tạo thành cao nguyên miền Nam.

Cao nguyên miền Nam gồm những cao nguyên đá hoa cương,

Trang sách 39che phủ bởi những tảng sa thạch dày. Tuy không bị xếp nếp trong thời kỳ đệ nhất nguyên đại nhưng cao nguyên bị những phun ra chuyền động thẳng đứng làm nứt, đá lửa ở lòng đất. phủ lên lớp đá cũ rồi với thời gian biến thành đất đỏ phì nhiêu.

Hiện nay những hồ lớn tươi đẹp bên những đồi tròn khô khan hình chóp là những di tích những miệng núi lửa cũ và những sườn núi thẳng tắp hùng vĩ ở những cao độ khác nhau bên những thác nước chảy ào ào là những đường nứt xưa kia còn lại. Những chuyển động thẳng đứng lại gây nên những vùng đất sụp ở ven bề, tạo thành những đường phay lớn chạy cong cong như những núi hình cung ở Tây Thái Bình Dương.

Hình thể cao nguyên miền Nam giống như cái cân :

Cao nguyên Kontum, Pleiku, Darlac là cán cân, Quần-sơn, Ngọc Linh, Ngọc Ang cao độ 2.500 th là quả cân phía Bắc. Còn dãy núi Lang Biang, Chu Yang-sin cao từ 2.100 đến 2.400 th là quả cân phía Nam.

Phong cảnh cao nguyên luôn luôn thay đồi : khi là những khối hoa cương cao lớn với những rừng già dầy đặc, hiêm bí như vùng Bắc Kontum, khi thì những ngọn núi nhọn hoắt, sườn núi thẳng đứng với những rừng thông xanh ngắt, như miền Đông Nam Lang Biang, có lúc là những tấm sa thạch vi đại ngăn cách bởi những thung lũng sấu thằm như phía Nam vùng Ba-biên-giới, có khi là những vùng đất khô cắn bát ngát không người qua lại như ở miền Tây Bắc Darlac, Tây Nam Pleiku hoặc những vùng đồi tròn thấp đầy cỏ tranh và thú sẵn ở M'Drak.

Cao nguyên miền Nam có thể phân ra làm ba vùng sau đây chạy từ Bắc xuống Nam. 1. Vùng Bắc cao nguyên gồm có :

- Quần Sơn, Ngọc Linh - Cao nguyên Kontum - Pleiku

Trang sách 402. Vùng Trung cao nguyên gồm :

- Cao nguyên Darlac 3. Vùng Nam.cao nguyên gồm có:

- Cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên) - Cao nguyên Dj'iring (Di linh) và - Cao nguyên M'nông A. Vùng Bắc cao nguyên Quần sơn Ngọc Linh Nắm ở ranh giới hai tỉnh Quảng Nam và Kontum, Quần Sơn Ngọc Linh là vùng cao nhất ở miền Nam V.N. (2.598 th) với những quả núi nặng nè, hơi tròn, có rừng già bao phủ, xưa nay không ai lai vãng tới.

Quần sơn này là một khối nham thạch cũ gồm những đá vân nâu (đá mica) đá phiến ma (Gneiss : đá nhét) xen lẫn những dải đá hoa cương (granit). Tuy đã chống lại được tất cả các cuộc xếp nếp ở các thời đại địa chất nhưng Quần sơn vẫn bị nứt ra ở nhiều nơi và đá huyền vũ (đá ba dan : basalte) chảy ra làm thành những vành đai liên tục thấp dần về phía Tây tạo thành cao nguyên Kasseng (ở bên Ai Lao) và về phía Nam tạo nên cao nguyên hẹp gọi là cao nguyên G.I. hày Komlong và một cao nguyên rộng lớn gọi là cao nguyên Kontum - Pleiku.

Về phía Đông sườn Quần sơn chạy thẳng ra bề chỉ để lại vài đồng bằng nhỏ hẹp : Bồng Sơn, Quảng Ngãi, Tam Kỳ và Hội An.

Không có một con đường thiên nhiên nào có thể thâm nhập dễ dàng vào dãy Quần sơn này, trừ một con đường vô cùng khó khăn và hiềm trở hướng Bắc Nam dọc theo sông Dakmi từ Bến Giàng (Quảng Nam) xuống Dak Pek hoặc theo hướng Nam - Bắc đọc theo suối Daksi nhánh của sông Dak Poko.

Trên dãy Quần sơn Ngọc Linh có bộ lạc Diế sinh sống, về phía Nam là bộ lạc Sédang và về phía Tây là bộ lạc Hré.

Trang sách 41Cáo nguyên Kontum-Pleiku Cao nguyên này xưa kia còn được gọi là cao nguyên Kontum hay cao nguyên Gia-rai (Gia rai là tên một sắc dân Thượng Djarai sống ở quanh vùng Pleiku).

Cao nguyên Kontum - Pleiku được chia ra làm 3 vùng khác biệt nhau về hình thể, địa chất và sắc dân : 1. Vùng quanh tỉnh ly Kontum.

Là trung gian giữa miền hoa cương Ngọc Linh phía Bắc và miền huyền vũ đất đỏ ở Pleiku phía Nam ; núi thấp dần, rừng thưa bớt, đất lại được phủ một lớp thủy tra thạch nên có thề trồng lúa và rau dễ dàng, khí hậu điều hòa nên có thề ví như một Đalạt thứ hai ở cao nguyên miền Nam. Dân chúng (sắc dân Bahnar) hiền lành sinh sống dễ dàng hơn các sắc dân khác.

Cũng chính tại nơi đây là nơi đầu tiên người Kinh miền duyên hải lên sinh sống, lập nghiệp và đạo Thiên Chúa được truyền bá trên khắp cao nguyên cũng bắt đầu ở nơi này. 2. Trung tâm Pleiku.

Là vùng còn rất nhiều di tích của các hiện tượng núi lửa : núi hình chóp, nón và hồ hình tròn và sâu, đặc biệt nhất là núi Chu-Hơdrong, cách thị xã Pleiku to cây số về phía Nam và hồ Ea Nueng hay Biền Hồ, về phía Bắc. Sự tích Biền Hồ được Nay-ju kể lại như sau : « Ngày xưa lâu lắm rồi, ở chỗ hồ hiện tại có một làng của đồng bào Jarai Hdrung. Làng này to lắm trên 300 nóc nhà. Năm ấy trâu bò ở khắp nơi đều chết hết vì bệnh dịch và cũng năm ấy dân làng phải cúng « Yang Lon Pin Fa » bằng trâu bò ; nếu không cúng dâp làng sẽ bị thần Yang phạt ốm đau, nên ông Tộc trưởng ra lệnh cho dân đi săn bắt một con nai để cúng thay thế. Sau nhiều ngày tìm kiếm họ bắt về làng và cột dưới một gốc cây « Cong được một con nai đem ga n. Chiều đến dân làng tập trung lại đề cúng bái tại đó, rồi ăn uống say sưa, chiêng trống múa ca tưng bừng cả đêm.

Trang sách 42Sáng hôm sau họ giết con nai và ông Tộc trưởng cúng Yang. Lễ cúng vừa xong, họ chia nhau mỗi người một phần thịt, rồi bắt đầu lại ăn uống, thì liền lúc đó đất tự nhiên chuyền động rất mạnh, cả làng sụp xuống, nước tràn ngập cả lên, không còn một ai sống sót. Chỉ còn có hai vợ chồng Mắc May vì đi thăm bà con ở rất xa nên còn sống.

Hai người này khi trở về làng chỉ thấy làng nay đã thành một hồ nước rộng mênh mông. Sau đó họ chạy qua làng khác, báo tin chuyện lạ lùng này và từ đó đồng bào Thượng Jarai không dám làm thịt thú rừng đề cúng nữa».

Vùng Pleiku được bao phủ bằng một lớp huyền vũ nham (đá ba-dan) do núi lửa phun ra, ở nhiều nơi tằng lớp đá này đã biến thành thứ đất màu đỏ phì nhiêu. Gàn tỉnh ly Pleiku người ta đã thiết lập những đồn điền có kết quả. Về phía Tây Nam vẫn còn là một vùng khô khan mọc toàn cây dầu thưa thớt không người qua lại.

Cao nguyên Pleiku được nối tiếp về phía Ai Lao bởi Cao nguyên Voeun-Sai. 3. Rặng Mang Yang và Rặng Đèo Mang.

Về phía đông Cao nguyên có hai rặng núi chạy song song . từ Bắc xuống Nam, nối liền với Quần-sơn Ngọc Linh ở phía Bắc, tạo thành khu lòng chảo An Khê ở giữa và bị cắt ở phía Nam bởi sông Ba.

Lòng chảo An Khê rộng vào khoảng 40 cây số vuông : ở đây việc di chuyền dễ dàng và xưa kia ià nơi tập trung của người Kinh lên khai phá rừng thưa đề cày cấy ; hoặc là trạm dừng chân của những người Kinh lên vùng Kontum lập nghiệp hoặc những lái Thượng lên Cao nguyên.

Dãy núi đèo Mang, còn gọi là dãy núi Bình Định gồm nhiều núi cao khoảng 1.000 thước, có rừng già bao bọc. Ngọn cao nhất là ngọn Chu Tryan cao I. 331 thước. Sườn đông dãy

Trang sách 43núi này là bức tường thành ngăn chận người miền duyên hải lên vùng Cao-nguyên và cũng là đường phân ranh khí hậu giữa hai miền.

Quốc lộ 19 nối liền đồng bằng Bình Định, vùng đông dân cư nhất miền duyên hải (900. 000 người) với thị xã Pleiku, cắt dãy núi Mang ở đèo Mang (cao 800 thước) và dãy núi Mang Yang ở đèo Mang Yang.

B. Vùng Trung Cao nguyên hay Cao nguyên Darlac Cao nguyên Darlac là một vùng nhỏ và thấp hơn các vùng khác, bề rộng hơn oo cây số và chiều cao dưới 1.000 th, được bao phủ bằng một lớp đá huyền vũ nay đã mủn và trở thành đất đỏ. 1. Trung tâm cao nguyên là một vùng bằng phẳng, có sắc thái núi non là nhờ những rừng rú bao phủ. Hệ thống lưu thông được dễ dàng nhờ ở những đồn điền xung quanh Ban- mê-thuột và những làng xóm ở rải rác khắp nơi. Người ÊDÊ (còn gọi là Rhadé) sinh sống đông đảo ở vùng này, tính tình chất phác, năng khiếu thông minh nhất trong các sắc dân Thượng và thích ứng dễ dàng với những sự cải tiến.

Phía Đông Cao nguyên là khu đồng cỏ lớn chạy dài theo quốc lộ 21 tới chân dãy Vọng Phu (còn gọi là núi mẹ bồng con).

M' Drack, trung tâm khu vực này, là nơi du khách hay dừng chân để di săn bắn hươu nai.

Về phía Tây, Cao nguyên thấp dần xuống khoảng 200 th, có sông Ea Krong chảy qua tạo nên nhiều cảnh đẹp và thác lớn.

Trung tâm khu vực này là Bandon nơi nồi tiếng là nuôi nhiều voi và là cửa ngõ miền Tây của Cao nguyên.

Phía Nam Cao nguyên là miền trũng rộng, cao trên mặt bề

Trang sách 44Cojon Ảnh Nguyễn Cao Đàm Cao nguyên

Trang sách 45Ånh Jean Lhuissier Nhà mô RHADÉ

Trang sách 46Ảnh Jean Lhuissier Vua THỦY XÁ

Trang sách 47Gia đình BAHNAR

Trang sách 48500 ". Nước ứ đọng thành một cái hồ lớn gọi là hồ Lạc- Thiện (tên Thượng là Da K'lac) và nhiều vũng đằm lày : chính đây là nơi phát nguyên con sông Srépok, có nhiều phong cảnh rất đẹp đẽ và thú vệt đề săn bắn.

Phía Bắc Cao nguyên là một vùng núi chập chùng lên xuống như bậc thang. Về phía Đông Bắc là dãy núi Chu-Dié- Ya cao 1236 th, dãy núi này kế tiếp dặy núi Mang Yang về phía Đông Nam, nhưng bị cắt đứt bởi lưu vực sông Ba. 2. Lưu vực sộng Ba. Sông này còn có tên là Ea-Pa và Đà-răng, là sông độc nhất đã chạy ngang dãy Trường sơn, cắt đôi Cao nguyên miền Nam thành 2 Cao nguyên : Cao nguyên Kontum Pleiku và Cao nguyên Darlac. Sông Ba và sông nhánh Ayun bắt nguồn ở Cao nguyên Kontum-Pleiku, còn con sông nhánh Krong-Hnang lại bắt nguồn ở Cao nguyên Darlac. Do đó lưu vực các sông này là đường thiên nhiên đề lên hai Cao nguyên trên.

Về mùa mưa, nước sông Ba, sông Ayun, sông Hnang lên cao chảy mạnh nhưng về mùa khô, lòng sông nhiều nơi lại cạn, hai bên bờ sộng rừng thưa, cây thấp, đồi cỏ liên tiếp nên việc di chuyền dọc theo các sông này lên Cao-nguyên thật là thuận tiện. Lòng chảo Cung Sơn, nơi tiếp giáp sông Ba và sông nhánh Hinh, lòng chảo B. Xa-năm, nơi tiếp giáp sông Ba và hai sông nhánh, Krong Năng và Cà Lúi, lòng chảo Cheo Reo nơi tiếp giáp sông Ba và sông Ayun là những nơi trù phú, đông đúc, dùng làm trạm dừng chân rất tốt. Ngày xưa người Chàm đã dùng con đường này đề vượt Cao nguyên sang Chân Lạp và một di tích lịch sử còn lại là Tháp Chàm Yang Prong nằm trong thung lũng sông Yang-Hléo cách Ban- mê-thuột 60 cây số về phía Tây Bắc và cách biên giới Việt, Cam-bốt 20 cây số. 3. Rặng núi hòn Vọng Phu. (còn gọi là Mẹ bồng con) là một chi nhánh của Cao nguyên Lang Bian nhưng bị quốc lộ 21

Trang sách 49từ Ninh Hòa đi Ban-mê-thuột và những đồi cỏ ở vùng M'Drack cắt đôi, nên đứng về phương diện phối cảnh, sắc dân và quản sự rặng này thường được ghép vào Cao nguyên Darlac đề tiện nghiên cứu. Sắc dân sống trong vùng này là Rhadé lai với Jarai gọi là M' Dhur.

C. Vùng Nam Cao nguyên Tới đây dãy Trường sơn nhô lên làn chót và lan rộng thành một vùng tứ giác : cao ở phía Đông, thấp làn lần ở phía Tây, phía Nam và biến hẳn ở hạ lưu sông Cửu Long.

Vùng tứ giác này gồm có ba Cao nguyên sau đây :

I- Cao nguyễn Lang Bian (Lâm-viên) 2- Cao nguyên Djiring (Di-linh) 3- Cao nguyên M' Nong (Mờ-nông) 1. Cao nguyên Lang Bian : là Cao nguyên cao nhất vùng với những ngọn núi Chu-Yan-Sin cao 2.405 th, Bi-Doup cao 2.267 th. và ngọn Lang Bian gần Đalat cao 2.163 th. Chính tại nơi đây phát nguyên ngọn sông Đồng Nai tức là sông Đa Dung và nhánh của nó là sông Cam Ly, sông Đa-nhim. Ba sông này đã mang lại cho Cao nguyên Đalat nhiều phong cảnh tươi đẹp hùng vi như những thác Prenn, Liên Khương, Gougar, Pongour... mơ mộng như hồ Than Thở, hồ Mê Linh, hồ lớn Đà Lạt, và lợi ích như những hồ đập nước Ankroet (Suối vàng), Đa-nhim.

Núi đồi gồm toàn những đá diệp thạch (Schiste) và sa- thạch biến thể, có thông reo vi vút, có hoa muôn màu sặc sở, có rau cỏ xanh tươi, có khí hậu tốt lành, có thời tiết mát mẻ trung bình 18° ; thật là một nơi nghỉ mát và dưỡng bệnh tốt nhất ở Việt Nam.

Đồng bào sinh sống nơi đây là đồng bào Thượng, sắc

Trang sách 50dân LAT ước lượng độ 1.000 người ở ngay Đalat và sắc dân CHILL trên 10.000 người sống ở những vùng xung quanh.

Đồng bào Kinh mới lên đây lập nghiệp vào khoảng hai hay ba chục năm trở lại đây. a) Vẽ phía Đông cao nguyên Lang Bian chế ngự đồng bằng.

Nha Trang, Phan Rang như một bức tường thành, núi non lởm chởm dốc thẳng xuống biển. Nhiều đoạn quốc lộ số I và đường xe lửa xuyên việt từ Phan Rí tới Tuy Hòa phải chạy sát ven biến như ở Cà Ná (Ninh Hòa), chân đèo Rù Ri (Khánh Hòa). hoặc phải vượt qua những đèo ngoằn ngoèo nguy hiêm như đèo Cả (Khánh Hòa).

Quốc lộ 11 nổi liền Phan Rang - Đàlạt, đường đi dề dàng trừ khoảng đèo Ngoạn mục là đường đi hơi nguy hiềm, những phong cảnh thật là ngoạn mục. Song song với quốc lộ là đường xe lừa Tháp Chàm Đàlạt, con đường xe lửa duy nhất đi từ ' miền đồng bằng lên cao nguyên miền Nam, dọc theo hai bên quốc lộ có đồng bào Raglai và Churu sinh sống. b) Về phía cực Đông Bắc cao nguyên Lang Bian, nồi lên một dãy núi hoa cương mà cao nhất là Hòn - vọng - phu (2.022 th). Dãy này chật hẹp, cây cõi lớn, nhiều khe trũng, chạy thẳng ra biển làm thành mũi Diều (Cap de Varella) và tạo nên bãi biền cát vàng tuyệt đẹp : Bãi bề Đại Lãnh. Dãy núi này được nối liền với cao nguyên Lang Bian bằng những đồi cỏ cao trung bình 800 th, nên trên không nhìn xuống hoặc đi bộ ở dưới ta có cảm tưởng là dãy núi này đứng riêng biệt và có nhiều liên hệ đến Cao nguyên Darlac hơn là Cao nguyên Lang Bian. : 2. Cao nguyên Djiring (DL-linh) Về phía Nam Cao nguyên Lang Bian, thấp xuống khoảng từ 500 th đến 1.00o th là Cao nguyên Djiring hay là Cao nguyên M7. Mạ là tên một sắc dân Thượng sinh sống ở vùng này, ngoài

Trang sách 51ra còn một sắc dân Thượng nữa tên là Sré, dân số ít hơn sống quanh vùng Di Linh.

Cao nguyên Di Linh gồm toàn đá sa thạch, một vài chỗ có đá huyền vũ bao phủ. Đất đai và khí hậu rất thích hợp cho việc trồng trà, trồng sơn, nên khi rời Saigon tới đèo Blao ta đã thấy những lớp đồi trà xanh ngắt chạy dài về phìa chân trời. Xa xa về phía Bắc là ngọn Boun Tran cao 1.465 th, và về phía Nam là ngọn B' Nom cao I. 642 th. Phía Nam Djiring có núi Bralan cao 1.864 th, rồi đến núi Da Troun cao I. 654 th.

Liên tỉnh lộ số 8 đi từ Djiring phải vượt qua đèo Da Troun đề xuống Phan Thiết. 3. Cao nguyên M'Nong Về phía Tây Cao nguyên Đàlạt là Cao nguyên M' nong, M,nong là tên một sắc dân Thượng sinh sống ở vùng này. Cao nguyên M' nong hợp với Cao nguyên Djiring thành cái thềm (cái đế) của Cao nguyên Đàlạt. Thấp hơn Đàlạt 1.000 th được bao phủ bởi lớp đá huyền vũ, cao nguyên M' nong chạy soai soải về phía Tây và tận cùng ở đồng bằng Kratié Stung-treng bên Cao Miên, được phân cách về phía Nam với Cao nguyên Djiring bởi sông Đa Dung, về phía Bắc với Cao nguyên Darlac bởi sông Krong Knô. Ở giữa Cao nguyên nồi bật lên hai ngọn núi cao : ngọn Nam Nung 1.605 th và ngọn Nam Jer Bri I.445 th...

Quốc lộ 14 nối liền miền Đông, Nam Phần và Cao nguyên Darlac, chạy qua Cao nguyên M'nong vào khoảng 200 cs và trong khoảng đó, có 20 cây số chạy sát ngay biên giới Việt - Cambốt trên những đồi đá đỏ mọc cỏ tranh ; trên một quả đồi này ở cây số 25: người Pháp đã dựng một cột lấy tên là cột Ba Biên giới, đánh dấu chỗ giao điềm của ba xứ thời Pháp thuộc là Trung kỳ, Nam kỳ và Cao miên. Cột này xây bằng sành cao 3 th đầu ngọn có chia ra 3 nhánh chỉ 3 hướng của 3 xử, dưới chân cột có chạm trò hình tứ linh trông rất đẹp mắt.

Trang sách 52Cao nguyên miền Nam tận cùng ở miền đất đỏ Nam Việt và miền rừng thưa bao la ở Cam-bốt. Các núi Bà Đen cao 186 th ở Tây Ninh và núi Chứa chan cao 410 th ở Long Khánh là những phần tử cực Nam của Cao nguyên.

Quốc lộ 14 là xương sống của cao nguyên, từ cửa ngõ phía Nam là Đồng-xoài ra đến cửa ngõ phía Bắc là Thường-đức dài 700 cs, nối liền miền Trung với miền Nam dài 872 cs, những trục lộ Kontum - Mộ Đức, Pleikư - Qui Nhơn, Banmêthuột - Nha Trang, Daksong - Phan Thiết và những trục lộ Pleiku Strung-treng, Ba-biên-giới - Kratié được ví như những xương sườn nối liền cao nguyên với bờ biển Đông-hải và cao nguyên với lưu vực sông Cửu Long Cam Bốt.

MI. Khí hậu Cao nguyên miền Nam là vùng núi non trùng điệp, hướng núi chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam nên khí hậu khác biệt từ nơi này sang nơi khác, mỗi triền núi, mỗi thung lũng đều có thời tiết khí hậu khác nhau :

Do đó, nhiệt độ bị phụ thuộc vào độ cao, vũ lượng và triên núi. Triền núi phía Tây chịu chế độ mưa của gió mùa Tây Nam, triền Đông chịu chế độ mưa của gió mùa Đông Bắc. Và nếu ở trên đèo thì chịu ảnh hưởng của cả hai chế độ mưa. 1. Vùng Kontum Vùng Kontum có độ cao 536 th. và ở về phía Tây của dãy Trường sơn. Phía Đông có dãy núi cao từ 2.000 tới 2.500 th. và phía Tây và Tây Bắc có những dãy núi cao từ 1.500 đến 2.000 th. bao bọc : vì thế mà chế độ mưa tuy thuộc về gió mùa Tây Nam, nhưng không bị ảnh hưởng nhiều.

Vũ lượng hàng năm là 1727m/m, số ngày mưa 138. Mùa

Trang sách 53mưa lâu từ tháng 4 đến tháng 1o. Các tháng 11, 12, 1, 2 và 3 là thời kỳ khô ráo. Vũ lượng cao nhất vào tháng 8 (374m/m).

Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 4 và 5 (25°a) và hạ nhất vào tháng giêng (19°4). 2. Vùng Pleiku Pleiku ở cao độ 800 th, và cũng thuộc về triền phía Tây của dãy Trường-sơn, nên có chế độ mưa theo gió mùa Tây Nạm.

Ở Tây Bắc, cách 20 cây số, có dãy núi cao 1.478 th nhưng về phía Nam và Tây lại trống trải. Vì hình trạng, địa thế, tính chất đặc biệt của núi tại Pleiku nên thường có mưa nhiều.

Vũ lượng hàng năm là 2.514m/m, số ngày mưa 158. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 1o, vũ lượng cao nhất trong tháng 7, 574m/m : gió mùa Tây Nam thồi rất nhiều trong suốt 4 tháng từ tháng 6 đến tháng 9, vũ lượng cao hơn 400m/m, số ngày mưa từ 24 đến 28 ngày, âm độ 92% đến 93% thời kỳ này là thời kỳ ầm ướt nhất. Từ tháng 11 đến tháng 3 là thời kỳ khô ráo. Tháng 1 không có mưa.

Pleiku ầm ướt hơn Kontum nhiều.

Tại Pleiku, có 2 chế độ gió gằn đối nhau :

Gió Đông hay Đông Đông Bắc từ trung tuần tháng 1o đến tháng 3, gió Tây hay Tây Tây Nam từ tháng 5 dến tháng 9. 3. Vùng Phú Bồn (Cheo-reo) Ở độ cao 150 th, nằm trong lưu vực rộng rãi của sông Ba và bị bao bọc về phía Đông Bắc cũng như phía Tây Nam bởi những dãy núi cao lối 1.000 th, nên vùng Phú Bồn khá khô ráo, chế độ mưa chịu ảnh hưởng của cả gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam.

Trang sách 54Vũ lượng hàng năm là 1277m/m, số ngày mưa go. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng II, tháng o là tháng có vũ lượng cao nhất, 249m/m. Từ tháng 12 đến tháng 3 là thời kỳ khô ráo.

Nhiệt độ trung bình hàng năm 25°o. Nhiệt độ trung bình hàng tháng cao nhất (28°r) trong tháng 5 và thấp nhất (20°4) trong tháng 1. Vùng Phú-Bồn khô ráo hơn vùng Pleiku. 4. Vùng Darlac Vùng Darlac (Ban-mê-thuột) ở độ cao 536 th, trên triền phía Tây Nam của dãy Trường-sơn, nên có khí hậu theo chế độ khí hậu miền Nam.

Darlac mưa ít hơn Pleiku, tuy số ngày mưa gằn bằng nhau. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, tuy nhiên từ tháng 4 đã ghi được 97m/m và tháng 8 lã tháng mưa nhiều nhất (322m/m). Tháng 12, I,2 và 3 là mùa khô.

Ban - mê - thuột thấp hơn Pleiku nên nóng hơn. Tháng nóng nhất là tháng 4 (2508), tháng mắt nhất là tháng 12 Trong năm có a hướng gió đối nhau : gió đông từ tháng Io đến tháng 4 và gió Tây từ tháng 6 đến tháng 9. Tháng 5 gió . thay đồi thồi từ Đông hoặc từ Tây. Các gió Đống trong tháng 3 và tháng so là những gió mậu dịch. Các gió Đông từ tháng 11 tới tháng 3 là những gió mùa Đông Bắc đồi thành Đông khi vào hành lang thấp của dãy Trường sơn ở phía Đông Ban-mê-thuột. 3. Vùng Tuyên Đức (Đàlạt) Đàlạt ở độ cao 1.500 th, có núi Lang Bian cao 2.163 th chặn ở phía Bắc và núi Bi Đup cao 2.287 th ở phía Đông Bắc, nên chế độ mưa thuộc về chế độ gió mùa Tây Nam:

Mưa từ tháng 5 đến tháng to với hàng tháng trên 200m/m

Trang sách 55vũ lượng trung bình, và từ It đến 2o ngày mưa. Trong 2 tháng 4 và Ii, cũng có từ 100 đến 150m/m vũ lượng và có từ 1ı đến 12 ngày mưa. Trong mùa mưa, các cơn giông thường bắt đầu từ lúc trưa và kéo dài đến tối và khuya. Mùa khô lâu từ tháng 12 tới tháng 3.

Nhiệt độ trung bình cao nhất 19°5 và thấp nhất 16°3 trong tháng 12.

Tại Liên Khương ở độ cao gỗi th, cũng có chế độ mưa tương tự như Đalat, nhưng vũ lượng ít hơn. Hàng năm vũ lượng trung bình là 1.584m/m và số ngày mưa là 16o. 6. Vùng Lâm Đồng (Blao) vùng này mưa nhiều hơn Đalat.

Trị số hàng năm :

Di Linh : vũ lượng 2.037m/m, 170 ngày mưa:

Bảo Lộc : vũ lượng 2.763m/m, 183 ngày mưa.

Đèo Blao ở ngay sau Bảo Lộc là nơi có những luồng gió Tây Nam ầm ướt và mưa trút xuống rất nhiều.

Mùa mưa tại Bảo Lộc từ tháng 4 đến tháng 11. Tháng 7, 8, 9 là ba tháng có mưa nhiều nhất : vũ lượng trên 400m/m, số ngày mưa 23 đến 24. Ầm độ trên 90%. Trong những tháng này có nhiều khi mưa liên miên suốt ngày đêm. Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 5 (22°4) và thấp nhất vào tháng Chế độ mưa ở Di Linh cũng tương tự như ở Bảo Lộc, nhưng vũ lượng kém hơn.

- thấp nhất về tháng chạp : o1°3 - cao nhất về tháng năm : 19°5

Trang sách 56Ấm độ:

Mực trung bình của ầm độ tại :

- Pleiku (1933-1944 từ) : 737% (tháng 3) đến 94% (tháng 7) - Đalat (1926-1944, I949-1956) : từ 77% (tháng 2) đến 88% (tháng 7) Mây và sương mù :

- Về mùa mưa : nhiều mây và sương mù - Về mùa khô : sương mù buồi sáng và thường có mây thấp.

Tại Ban-mê-thuột, vân lượng trung bình mây hạ tằng :

- thấp nhất về tháng 2 : 1,6 octas hay 1,6/8 bầu trời - cao nhất về tháng 9 : 3,9 octas hay 3,9/8 bầu trời.

Nói chung vì chịu ảnh hưởng luân chuyền của gió mùa, nên một phần lớn đất đại cao nguyên chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới.

IV. Sông ngòi Về phía đông cao nguyên, địa thế rất cao nên đường phân thủy cắt dọc cao nguyên theo chiều Bắc Nam. Sông ngòi sẽ chảy theo hai hướng, hoặc về phía Đông ra bề Nam Hải hoặc về phía Tây vào sông Cửu Long. 1. Chảy ra bể Nam-hải - Sông Dak Mi và sông Dak Di bắt nguồn từ Quần sơn Ngọc Linh chảy vào sông Bùng. Sông này chảy ra cửa bề Hội An.

Trang sách 57- Sông Dak Lô và Dak Ro bắt nguồn từ Cao Nguyên GI chảy vào sông Trà Khúc và sông này chảy ra cửa bề Quảng Ngãi.

- Sông Ba hoặc sông Đà Rằng với phụ lưu sông la Ayun bắt nguồn từ Cao nguyên Kontum và phụ lưu sông Krong Nang bắt nguồn từ Cao nguyên Darlac chảy ra cửa bề Tuy Hòa..

- Sông Cái bắt nguồn từ Cao nguyên Lang Bian chảy ra cửa bề Phan Rang. 2. Chảy vào sông Cửu Long - Sông Dak Poko bắt nguồn từ Cao nguyên Dak Glé và sông Dak Bla bắt nguồn từ Cao nguyên GI chảy vào sông Se-san.

- Sông la Krong và Ea Hleo bắt nguồn từ Cao nguyên Darlac chảy vào sông Srepok. 3. Các sông khác Về phía Nam Cao nguyên có sông Lagna bắt nguồn từ Cao nguyên Djiring, sông Da dung bắt nguồn từ Cao nguyên Lang • Bian và sông Bé bắt nguồn từ Cao nguyên M'nong. Cả ba sông này họp lại thành sông Đồng Nai, chảy về Saigon rồi ra bề.

V. Thảo mộc Thảo mộc chịu ảnh hưởng của khí hậu. Khí hậu Cao nguyên là khí hậu nóng và ấm miền nhiệt đới, nên Cao nguyên có nhiều rừng rậm cây cối xum xuê xanh tốt nhưng khí hậu mỗi vùng mỗi khác nên thảo mộc cũng phức tạp, mỗi vùng mỗi loại, trừ hai thứ cây « Lúa » và « Tre » là mọc hầu khắp trên toàn cõi.

Rừng Ở Cao nguyên, rừng chiếm 4/5 đất đai, nhưng phần lớn không thuộc loại rừng nguyên thủy nên hiếm cây cờ thụ. Hơn

Trang sách 58nữa, dân Thượng lại hay đốt rừng làm tảy, khi đất hết mẫu họ dời sang vùng khác đề đốt nữa, cho nên rừng ít gỗ to và quí.

Những cây lớn nhất không mấy khi cao quá 30 thước. 1. Rừng rậm.

Rừng rậm bao phủ hết vùng Quần sơn Ngọc Linh và suốt phía bắc dãy núi đèo Mang, gồm đủ các loại cây lớn nhỏ. Dưới thấp, giây leo mọc chằng chịt phủ kín mặt đất. 2. Rừng thưa.

Rừng thưa bao phủ miền Cao nguyên Darlac, Pleiku, thường gồm các loại cây có nhựa, mọc cách nhau hàng chục thước, xen lẫn với rừng tre. Dưới thấp là cỏ tranh.

Hươu và nai thích ở trong rừng thưa, cho nên các thú dữ. như hồ, báo hay tới rình mỗi ; rừng thưa là vùng săn bắn rất tốt.

Về mùa khô, từ tháng giêng trở đi, cỏ cây khô héo, lá rụng đầy mặt đát, thường hay xầy ra những vụ cháy rừng. Tới mùa mưa cây cối lại xanh tươi, cành lá um tùm. 3. Rừng toàn một loại cây.

- Rừng thông ở Cao nguyên Lang Bian và Cao nguyên GI. Rừng thông là loại rừng chỉ có toàn thông thường thường cao tới 30th. mọc thẳng tắp. Thông chỉ mọc ở chỗ cao, khí hậu mát. Loại thông « hai lá » mọc ở cao độ 700th. đến 1.aooth, loại thông • ba lá > mọc trên cao độ 1.200th. Thỉnh thoảng ta cũng gặp loại thông « năm lá » mọc lác đác. Loại rừng này chiếm trên 100.000 mẫu tây ở Cao nguyên. Riêng tại Cao ‹guyên Đàlạt rừng thông bao phủ một khoảng rộng 70.000 mẫu tây. 2o m Yên Pri hạy tác tảng tảng doc tho veng Bin đ

Trang sách 59Cao nguyên Kontum ; ở các Cao nguyên khác cũng có rừng trẻ nhưng không được nhiều. 4. Rừng cỏ lau. (Bải cỏ lau) Rừng cỏ lau mọc rải rác ở trên Cao nguyên Kontum, Darlac, M' nong và ở vùng giao tiếp giữa rừng núi và đồng bằng Trung-Phần. Thường thường là loại cỏ tranh cao tới ath. mọc • những nơi rừng đã bị phá và hết mầu.

VI. Hệ thống giao thông Hệ thống giao thông trên cao nguyên rất nghèo nàn. Hiện. nay những cố gắng vi đại đã và đang được thực hiện: quốc lộ 19, 21 đã thành xa lộ, nhiều phi trường lớn nhỏ đã được xây cắt như phi trường phản lực ở Pleiku, phi trường cho Dakota ở Kontum, Cheoreo, Banmêthuột. Nhiều đoạn đường bị phá hoại và bỏ hoang vì chiến tranh nên không sử dụng được nhưng cũng nhờ chiến tranh mà nhiều đường xá đã trở nên trục chiến lược và được biến thành xa lộ nhiều phi trường đủ loại đã được xây cất với những kinh phí vi đại : đó là phần xây dựng của chiến tranh. 1. Đường bộ Tỉnh lộ 5 và 7 (Kontum - Mộ Đức) Dài 160 cs, rộng 5 th, chạy qua Cao nguyên GI nối liền với quốc lộ : hoàn thành năm 1960 phải vượt qua 2 đèo : Kon Knil gần Chương nghĩa và núi Thân gần Gia vực. Đường cán đá hoặc đất đỏ, chưa được tráng nhựa.

Quốc lộ 19 (Qui Nhơn - Strung-treng).

Dài 429 cs, đường đèo đã được mở rộng, chay qua An

Trang sách 60Khê, Pleiku, Bo Kheo, quăng đèo Mang Yang và đèo Mang rắt hiềm trở, xe vận tải (25 tấn) lưu thông được. Đoan Qui Nhơn- Pleiku dài 168 cs đã được mở mang thành xa lộ hồi năm 1961.

Quốc lộ 19 kép.

Dài 40 cs, nối liền quốc lộ 19 và quốc lộ 14 ở phía đông bắc Pleiku. Đường đất và đá, rất xấu, nguy hiềm cho xe cộ lưu thông về mùa mưa.

Tỉnh lộ I và a. (An Khê - Cheoreo) Dài 85 cs, đã được sửa chữa tạm hồi năm 1958, đề cho xe cộ lưu thông, nhưng cầu rất yếu hay bị nước cuốn trôi về mùa mưa.

Phải qua hai phà :

- Phà sông Ba rộng 90 thước - Phà sông Ya-ayun rộng 70 thước Đường Liên tỉnh 7 (Tuy Hòa - Cheoreo Q. L. I4).

Dài 203 cs, chỉ lưu thông tốt từ Tuy Hòa đến Đồng Cam và từ Pleiku tới Le Bac. Khúc còn lại rất xấu, nhiều cầu gỗ bị • mục gầy, sự giao thông thường bị gián đoạn về mùa mưa.

Cầu lớn nhất là cầu Xuân Diên trên sông con, dài 75 th, phải qua phà sông Ba rộng 140 th và qua hai đèo : Chu Tsé và Tona.

Quốc lộ 3I. (Banmêthuột - Ninh Hòa) Dài 160 cs, rộng 5 th, lưu thông được cho xe vận tải.

Đường đèo dốc hiềm trở ở gần đèo M' Drak. Quốc lộ đã được sửa chữa và mở rộng ra 9 th, thành xa lộ trong năm 1959, đề có thề cho xe vận tải 25 tăn lưu thông được 4 mùa.

Trang sách 61Các cầu lớn gồm có :

- Cầu Bình Thanh trên sông Cay, dài 70 th:

- Cầu Tân Xuân trên sông Cay đài 108 th. , Quốc lộ 21 kép. (Banmêthuột - Liên Khang) Dài 176 cs, chay qua Lạc Thiện (Poste du Lac) và Fyan.

Xe cộ đi lại dề dàng ở quăng đầu đường. Ở quăng giữa, từ Poste du Lac tới Fyan, đường rất hẹp (từ a th 5 tới 3 th), đèỏ dốc quanh co nguy hiềm nên rất ít xe cộ lưu thông. Phần lớn các cầu đều bằng gỗ, trọng tải không quá 3 tấn, cầu lớn nhất dài không quá 70 th.

Phải qua phà :

- Krong Ana, trên sông Ea Krong Ana rộng 50 th - Krong Pno trên sông Ea Krong Kno rộng 12o th.

Quốc lộ II. (Phan Rang - Đalat).

Dài 100 cs, rộng trung bình 5 th 50, trải nhựa tốt, chạy qua Tháp Chàm, Dran. Đường đèo dốc quanh co nguy hiểm trên 20 cs, từ Krong pha đến đèo Ngoạn mục (Belle vue).

Các cầu lớn gồm có :

- Cầu Tân-mỹ trên sông Cái, dài 260 th.

- Cầu Arbre Broyé, dài 80 th.

Quốc lộ 20. (Đalat - Dầu Giây) Dài 237 cs, rộng trung bình từ 5 đến 6 th, tráng nhựa tốt.

Đường dốc quanh co trước khi tới Bảo Lộc (đèo Blao) và ở quảng 15 cs trước khi tới Đalat (đèo Prenn).

Các cầy lớn gồm có :

- Cầu Đa Nhim, trên sông Đa Nhim, dài 153 th.

Trang sách 62- Cầu B'Deur-Dabrac, trên sộng Da Rgna, dài 70 th.

- Cầu Kon Ké Blan, dài 70 th.

- Cầu La Ngà, trên sông La Ngà dài 11I th.

Đường liên tỉnh 8. (Phan Thiết - Di Linh) Dài 96 cs rưỡi, rộng từ 3 đến 5 th, đường đất, cỡ khoáng trải đá. Đường hiềm trở ở quãng các đèo Da-troun, Yankar, Haloun, Louklel. Nhiều cầu gầy, chưa được sửa chữa nên không lưu thông cho xe cộ được.

Đường Kinda hay liên tỉnh lộ 8 nối dài. (Di Linh - Q.L. 14) • Dài 147 cs, rộng trung bình 4 th, đường đá và đất đỏ, nhiều đèo dốc quanh co.

- Phần lớn các cầu đều bằng gỗ và mới được sửa chữa đầu năm 1957. Xe trọng tải dưới 6 tẫn mới lưu thông được.

Cầu lớn nhất là cầu Danur dài 37 th, và phải qua phà Kinda (Kiến Đức) trên sông Da Dung.

Quốc lộ 11. (Saigon - Đồng Xoài - Thường Đức - Hội An).

Chạy xuyên qua vùng Cao nguyên từ Đồng Xoài, Bù Đăng, Kiến-đức, Ba-biên-giới, Ban-mê-thuột, Pleiku, Kontum, Dakto, Daksut, Dakrotah, Daknhe, Bến Giàng, Thường Đức, chung với quốc lộ 13 từ Saigon tới Chơn Thành, liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đến Đồng Xoài và nối liền liên tỉnh lộ 04 Thường Đức - Hội An ở Thường Đức.

Cho đến năm 1963, xe vận tải có thể lưu thông dễ dàng từ Saigon đến Dakrotah và từ Hội An vào Bến Giàng. Từ Dakrotah đi Bến Giàng, xe Jeep có thề lưu thông được vì đường mới mở xong. Từ năm 1963 đến nay vì có chiến tranh nên nhiều quảng không lưu thông được, và không được bảo trì nhất là những quãng mới làm xong.

Trang sách 63Saigon - Chơn Thành 85 đến cs ,120 Chơn Thành - Đồng Xoài : 35 cs từ cs Đồng Xoài - Ba-biên-giới : 130 cs - Ba-biên-giới - Ban-mê thuột : 100 cs - 250 - Ban-mê-thuột - Pleiku Pleiku - Kontum Kontum — Dakto Dakto - Daksut Daksut - Dakrotah Dakrotah - Daknhe Daknhe - Bến Giàng Bến Giàng - Thường Đưc : 30 cs - 790 Thường Đức - Hội An Các cầu lớn gồm có :

- Cầu sông Bé 133 th.

- Cầu sông Ea Krong dài 150 th.

- Cầu Kontum, trên sông Dak Bla, dài 144 th. và một cái cầu bắc trên lòng sông đề đi lại trong mùa khô dài 58 th.

- Cầu Dak Poko trên sông Dak Poko dài gằn 100 th.

Hồi Pháp-thuộc, đường này đã được dự định đắp thêm ra phía Bắc đến Huế, Cam Lộ, Tân Ặp, Chợ Bờ và phía Nam đến tận Hà Tiên, dọc theo biên giới Cam Bốt Việt Nam. 2. Đường hỏa xa Vì chiến tranh nên hầu hết các đường xe lửa không sư dụng được hoặc bị phá hoại: riêng đường Tour Chàm - Đalat vẫn chạy đều và cũng là con đường duy nhất từ miền đồng bằng lên miền Cao nguyên.

Trang sách 64Đường này dài 78 cs, có móc sắt từ Krong pha đến đèo Ngoạn mục.

Các công trình kiến trúc lớn trên con đường này là :

-- Cầu Tân-mỹ, trên sông Cái dài 260 thước. dài 162 thước.

- Đường hầm Krong-pha - Đường hàm đèo Ngoạn-mục dài 70 thước.

- Cầu Đa-nhim dài 180 thước.

- 3 đường hầm giữa Dran và Le Bosquet dài 600 thước, 3. Đường hàng không Dãy núi Trường-sơn, đường phân ranh khí hậu hai miền duyên hải và cao nguyên, mây, sương mù và nhất là mùa mưa là những trở ngại lớn cho việc giao thông bằng đường hàng không trên Cao nguyên.

Những sự phá hoại về đường bộ, việc giữ an ninh trong khi di chuyền vì chiến tranh, những cuộc chuyển quân ò ạt, những công tác tiếp vận khong lồ thường xuyên cho các đơn vị quân đội nhất là quân đội Đồng minh đã giúp cho sự phát triền của ngành hàng không trên Cao nguyên tiến bộ vượt mức Nhiều phi trường lớn đã được thiết lập : phi trường cho phản lực ở Pleiku, phi trường cho Dakota ở Kontum, Dakto. (Kontum), Cheoreo, An-khê, Nhơn-cơ (Quảng-đức), Cam-ly (Đalat). Những phi trường cũ như Ban-mê-thuột, Liên-khang được tu bồ và mở rộng. Riêng cho loại máy bay nhỏ như L. 19, Cessna thì tỉnh nào cũng có một phi trường riêng.

VII. Thở sản và nguồn lợi Thô sản Cao nguyên miền Nam bị ảnh hưởng rất nhiều vì

Trang sách 65địa thế cheo leo, liên hệ hạn chế và dân cư thưa thốt. Đất đai nhiều nơi phì nhiêu, lâm sản, khoáng sản có nhiều bứa hẹn, nhưng công cuộc khai thác hãy còn yếu kém. 1. Tròng trọt Lúa và hoa màu phụ Đồng bào Thượng trồng lúa bằng cách làm rầy. Rây là một khoảng rừng đốt cháy trở nên một đồng lúa tạm thời : về mùa khô, đồng bào Thượng phát rừng và đón cây, cách mặt đất chừng : thước; gần đến mùa mưa, đợi khi cây đã khô héo họ châm lửa đốt, than tro làm đất thêm phì nhiêu ; rồi họ lãy gây nhọn chọc từng lỗ xuống đất và bỏ thóc vào 18. Sau đó họ ch. có nhặt cỏ và canh gác trên những chòi cao để ngăn cản mọi thú vật đến phá hoại. Đến khi lúa chín, họ dùng tay đề tuốt lấy thóc cho vào gùi. Nếu thời tiết tốt, thì kết quả rất khả quan, tuy nhiên số thóc cũng không đủ dùng hàng năm vì đồng bào Thượng không biết phòng xa cấy nhiều lại dùng thóc gạo làm rượu uống liên miên.

Ở một vài nơi tại Kontum và Darlac, đồng bào Thượng biết dùng trâu đề cày.

Và sau đây là bản so sánh sức sản xuất lúa gao tại Cao nguyên so với miền Trung và miền Nam hồi năm 196o.

Miền Nam Miền Trung Cao nguyên Diện tích trồng lúa (ha) Sản xuất (tắn) Năng xuất trong I ha Dân số

Trang sách 66Đồng bào Thượng còn canh tác trên những rầy các loại ngũ cốc khác như ngô, khoai lang, khoai mì (sẵn); đồng bào Kinh còn trồng các loại đậu : trắng, đen, đỏ, và nhất là đậu xanh.

Rau và hoa :

Trồng nhiều nhất tại Kontum và Đàlạt. Riêng tại Đàlạt khí hậu lại mát mẻ giống như ở miền ôn đới, nên có nhiều giống rau và hoa đặc biệt như: Sà-lát, bắp cải, cải thảo, sú, sú lơ, sú hào, cresson, cà-rốt, hành tây, hành ta, hoa hồng, hoa glaieul, hoa lys, hoa tuy-líp v.v...

Hàng năm Đàlạt sản xuất 15.000 tấn rau và xuất thị trên 10.000 tắn về Saigon và Nha-Trang.

II. Cây kỹ nghệ và đồn điền I. Cao sa Cây được nhập cảng từ Mã-Lai, trồng thí nghiệm tại Thú- dẫu-một và Suối-dầu (Nha-Trang).

Năm 1897, nhờ những công cuộc thí nghiệm trên người ta nhận thấy đất đỏ và khí hậu nóng ở phía Nam vị tuyến 14 hợp với cây cao su hơn cả nên nhiều đồn điền bắt đầu được khai khần ở miền Nam và miền cao nguyên.

Diện tích đồn điền trồng cao su ở Việt-Nam vào khoảng 100.000 mẫu tây : 1.700 mầu tây tại cao nguyên và 98 ooo mẫu tây tại miền Nam. Vì thiếu an ninh nên nhiều đồn điền đã phải ngưng hoạt động, số diện tích trong năm 196o sụt xuống 72.000 mẫu và sức sản xuất còn có 76.000 tấn. 2. Cà phê.

Gà phê mới được đem trồng ở xứ ta vào đầu thế kỷ thứ 1g do các vị Linh mục ngoại quốc lấy giống cà phê ở Java: việc trồng cà phê chưa được phát triền mạnh mẽ.

Trang sách 67Hiện nay cà phê được trồng nhiều nhất trên cao độ 1.000 th.

ở các vùng Djiring, Darlac, Pleiku, Kontum. Cuối năm 1953 diện tích trồng cà phê tại các vùng này là 2.116 mẫu tây và sản xuất được 1.176 tắn. 3. Trà.

Trà là loại cây mọc ở Việt-Nam từ thời cô, nhưng mãi tói năm 1924 trà mới được trồng ở cao nguyên lấy giống ở Phú Thọ (miền Bắc). Những đồn điền trà rộng từ 10o đến 1.00o mẫu tây nằm ở miền đất đỏ Kontum, Darlac, Lầm-đồng trên cao độ từ 500 đến 1.000 th.

Vào cuối năm 1953 diện tích trồng trà trên cao nguyên là 4.042 mẫu tây và sản sut tược 2.034 tăn trà. 4. Ki-náp.

Việc trồng Ki-náp tại cao nguyên trước kia được chính phủ khuyến khích và nâng đỡ. Năm 196o sản suất được 1.700 tẫn sợi với một diện tích là 2.700 mẫu tây.

Hiện nay việc trồng Ki-náp không được xúc tiến nữa. 5. Sơn tạ.

Hiện đang trồng thử tại Blao ; cây lên rất tốt và việc trồng sơn ta đang được khuyến khích.

IlI. Chăn nuôi Ở trên cao nguyên người ta nuôi trâu, bò, gà, vịt, chim bò câu, heo, dê và đặc biệt là voi dùng để kéo gỗ ở vùng Banmêthuột và ngựa đề tải đồ ở Phú-yên. Trâu thường dùng đề cúng Thần và đa số đồng bào Thượng không biết dùng trâu bò đề cày bừa.

Việc chăn nuôi chỉ có tính cách gia đình không được tổ chức đại qui mô, mặc dầu trên Cao nguyên có những đồng cỏ rất tốt như ở vùng bắc cao nguyên Lang-bian gần đèo M'Darck (Ninh

Trang sách 68Hòa) và Cung Sơn (Tuy Hòa). Hiện nay tại Đalat và Phú Yên cũng có nuôi nhiều đàn bò. Thịt bò ở Phú Yên được nồi tiếng là ngon nhất ở Việt Nam.

IV. Lâm sản Rừng bao phủ hàu hết cao nguyên và là một nguồn lợi vô tận cho dân trên vùng này. Ta có, thề kề :

- Các thứ gỗ quí dùng đề đóng đồ đạc, làm cột nhà như Cầm lai, Trắc, Gõ đỏ, Dáng hương, Cà chắc, Sào.

- Các thứ gỗ thường dùng làm đồ vật hoặc làm ván như :

Gõ, Dầu, Bằng lặng, Thông.

- Các thứ gỗ tạp dùng đề làm củi.

- Nhựa thông dùng để chế các loại nhựa như Colophane, Copal, Becca.

- Mây ở phía đông Pleiku và tre dùng đề chế tạo nhiều vật dụng như đồ đan, bàn ghế.

- Quế ở vùng Bắc Kontum chưa được khai thác.

Ngoài ra ta có thể kiếm được rất nhiều rừng mai, hoa vàng, hoa trắng hoặc tìm thấy nhiều phong lan quý giá có thứ hoa tím, hoa vàng, hoa đỏ, hoa xanh, có thứ nở cành thành những hình thù rất lạ như cánh bướm, chiếc hài, chim phượng và hơn nữa phần lớn lại có mùi hương thoang thoảng khiến cho người kiếm mai chơi lan không quản ngại vào rừng sâu tìm kiếm sưu tằm.

V. Khoáng sản và kỳ nghệ Khoáng sản tại miền cao-nguyên chưa được tìm tỏi và khai thác.

Riêng ở miền Daksut đồng bào Thượng có đãi vàng ở cát

Trang sách 69dọc theo bò sông. Theo bảng thống kê năm 1939 thì số vàng được đãi từ 1o cân lên đến 15 cân tây trong khi đó tinh Sơn La (miền Bắc) được 18 cân tây. Hiện nay việc đãi vàng ở Daksut đã bị bỏ.

Vẽ kỳ nghệ cũng chưa được mở mang, nhưng có nhiều triên vọng nhờ ở nhà máy điện Ankroet (Đalat). Đa Nhim (Tuyên Đức) và những thác nước có thề xây các căn cử phát điện như ở Dreyling, Dreylap (Banmêthuột) Gia Nghĩa (Quảng Đức) Yali (Kontum).

Trang sách 70Tài liệu tọc thêm CAO NGUYÊN VIỆT NAM, MỘT MIỀN SẢN BẮN KỲ THÚ Việt Nam Cộng Hòa ở vào vùng Đông Nam Á, thuộc bán đảo Trung-Ăn là một trong những quốc gia có nhiều khả năng nhứt về du lịch và săn bắn để hiến cho du khách và nhà thiện x7 quốc tế những cảm giác say sưa và kỳ thú.

Núi rừng ở Việt Nam hùng vỉ và thâm u, là một kho vô tận về tài nguyên săn bắn, có đồng cỏ bao la bát ngát và đồng nội rộng lớn thênh thang chất chứa vô số muông thú các giống và các loại.

Ngoài những thú lớn làm mê thích những nhà thiện xa như voi, cọp, bò rừng, trâu rừng v.v... Ở Việt Nam còn có giống bò min một giống bò to lớn nhứt trên thế giới hiện nay. (cao Im8o, dài 2m80) có hình thù kỳ lạ như một con vật của thời tiền sử sắc lông màu nâu đậm, lưng gù, sừng to và đều, lớn nhưng ngăn, lông trắng dài và quăn, trông rất thích thú.

Với voi và cọp, bò min là một trong những thú săn thượng hạng đã làm mê say biết bao nhà thiện xa Quốc tế đã viếng Việt • Nam trước đây.

Việt Nam có tiếng là vùng có nhiều sơn thủ nhờ ở rừng núí trùng trùng điệp điệp bao trùm găn hai ba phần lãnh thờ Quốc gia.

Ở miền Nam Việt Nam du khách ngoại quốc được nhiều thuận tiện là ở gần hải cảng và không cảng Saigon mà ở đó, người ta có thề đi đến các vùng săn bắn tốt nhất trong năm, ba tiếng đồng hồ bằng đường bộ hoặc đường xe lửa.

Hai con đường đó dẫn du khách đến vùng Cao nguyên

Trang sách 71miền Nam nơi khí hậu mát mẻ quanh năm, làm ngạc nhiên du khách và làm cho việc đi lại săn bắn của họ được dễ chịu hơn ở miền đồng bằng nóng nực. • Du khách sẽ trải qua lắm cảnh trí thiên nhiên tuyệt mỹ, và vượt qua biết bao nhiêu khu rừng sắc thái khác nhau, nào là rừng tràm rộng lớn mênh mông, trông xa thấy rõ, nào là rừng già hùng vĩ thâm u và ầm ướt, cây cối dầy đặc, ánh mặt trời khó lòng xuyên qua được, hoặc những đồi cỏ vô tận chạy dài đến chân trời xa thẳm, mà tùy theo mùa, lúc thì đất cứng rắn và nứt nẻ lúc thành ra những đám bùn lày lội khó đi. Ở mỗi nơi, tùy theo địa thế, tùy theo mùa và cũng tùy theo ở sự ưa thích của mỗi giống thú rừng, người săn bắn sẽ gặp nào voi, bò rừng, trâu rừng hoạ: xin. nai hay gấu chẳng hạn.

Miền Nam Việt Nam, nhất là vùng cao nguyên là xử có nhiều bò min, bò rừng, voi, cọp và báo. Trâu rừng không khác trâu rừng ở Ăn Độ và Tích Lan. Voi thì rất nhiều, vùng nào cũng có. Khác với voi Phi Châu ở chỗ mình thon hơn, đầu lớn hơn nhưng ít xuôi về đàng sau và tai nhỏ. Tây giác có hai giống, giống một sừng khá to, giống hai sừng nhỏ hơn, cả hai giống đều rất hiếm, chỉ còn độ năm ba cặp sống trong rừng sâu núi hiềm ở triền sông Đa-dung nơi mà vết chân người không bao giờ bén mảng đến, và trước đây chúng bị tàn sát quá nhiều bởi sừng tây giác rắt quý cho y dược Á đông, ở vùng này ta có thể gặp heo với một giống rất hiếm. Gấu thì có giống gấu đen có khoang vàng ở cổ, gấu chó và ngựa, một giống gấu •to lớn hung dữ và mạnh chịu đạn.

Ác thú có cọp, beo, gấu đủ thứ, lông rắt đẹp và láng dịu sống chung miền với các loài hươu nai, như nai chà sừng có 9 gạc, nai cà tông sừng đẹp và có hình dáng như cây thất huyền cầm trông rất đẹp, nai bàu và hươu, mang và heo rừng vô số kè, rừng rú nào cũng có, chúng phá hoại mùa màng của dân miền núi. Ở trên những mỏm núi cao có giống sơn dương sinh sống và này nở rất nhiều.

Trang sách 72ĐẬP ĐA NHIM VÀ TRIỀN VỌNG NÈN KINH TẾ VIỆT NAM CỘNG HÒA I. Vị trí của sông Đa Nhim ở vùng Đơn Dương Sông Đa Nhim phát nguồn từ miền cao nguyên cao độ trên 2.000m, khi chảy xuyên qua cao nguyên Lâm Viên (Lang Bian), thung lũng sông Đa Nhim sâu và hẹp, uốn quanh đồi núi, tạo thành một địa thế hiểm trở, trái lại, tại vùng Đơn Dương (Dran), thung lũng sông được mở rộng ra xung quanh, có hai dãy núi cao (thuộc loại đá hoa cương) chế ngự. Hai dãy núi này nằm song song nhau, theo hưởng Đông Bắc Tây Nam, được cấu tạo do hiện tượng địa động (mouvements tectoniques) vào thời kỳ địa chất thứ ba (ère tertiaire) tạo thành một địa thế gầy xụp (relief de cassures). Dọc theo chân núi có nhiều phay (failles) cũng song song nhau và cũng nằm theo hướng Đông Bắc Tây Nam tạo thành một địa thế hình nắc thang (relief gradins) mà cao độ thấp dần khi ta đi từ Đalat qua đèo Ngoan Mục xuống vùng đồng bằng châu thô Phan Rang.

Chính địa thế gầy sựp này, với địa chất cứng rắn (đá hoa cương) rất thuận lợi cho hiện tượng đối giòng sông Đa Nhim (phénomène de capture du cours de Danhim) và sự thực hiện đập Đa Nhim vì thung lũng sông nằm theo trên các đồng bằng Trung phần (suspendue au-dessus des plaines du centre VN) nói chung và đồng bằng Phan Rang nói riêng. Cao độ thung lũng sông Đa Nhim tại Đơn Dương cao trên 1.o00m vòng đồng cao độ (Courbe de niveau) 200m ở Krong Pha chỉ cách chừng 7,5 km, và giữa hai miền (Đa Nhim Krong Pha) không có một chướng ngại vật nào đáng kể. Nhờ điều kiện thiên nhiên đặc biệt thuận lợi ấy nên Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã quyết định thực hiện một công trình vi đại là xảy cất đập Đa Nhim.

Trang sách 73li. Công trình thực hiện đập Đa Nhìm (1) 1. Các dự án và dự trù thực hiện :

Địa thế đặc biệt của sông Đa Nhim tại Đơn Dương (Dran) đã được chánh quyền chủ ý từ trên 30 năm nay. Có nhiều dự án thủy điện đã được thiết lập nhằm mục đích sử dụng nước sông Đa Nhim. Nhưng mãi đến năm 1954, sau khi Việt Nam đã thu hồi đầy đủ chủ quyền, hai dự án do các chuyên viên ngoại quốc hoạch định được lưu ý nhất là :

- Dự án của hãng Sogreath (Pháp) - Dự án của hãng Nippon Koei (Nhật) Hai dự án này cùng nhắm chung mục đích là lấy nước sông Đa Nhim đưa về Krong Pha để là động lực cho máy phát điện đặt tại miền này. Với sự trợ giúp của Phái đoàn chuyên viên Liên hiệp quốc bằng cách nghiên cứu hai dự án trên đề tìm .

đường lõi thực hiện đập hoàn bị và ít tốn kém nhất. Sau cùng Phái đoàn Liên-hiệp-quốc đã đề nghị lấy một dự án dung hòa hai dự án trên.

Việc thực hiện đập Đa Nhim do các chuyên viên Nhật (Hãng KAJIMA HAZAMA ; MITSUI) với sự cộng tác của các chuyên viên Kỹ sư Việt Nam theo thỏa ước được ký kết tại Saigon ngày 13-5 1959 giữa hai Chính phử Việt-Nhật, ấn định thề thức bồi thường và việc sử dụng số tiền bồi thường lên đến 39 triệu Mỹ kim và đồng thời Chính phủ Việt Nam vay dài hạn một số tiền Yen tương đương với 7,5 triệu Mỹ kim.

Gần hai năm sau, đập Đa Nhim mới được khởi sự xây cắt (ngày 1.4.I961). 1) Tôi thành thực đa tạ Ông Kỹ sư Tòng phụ trách đập Đa Nhim đã giúp sinh viên nhóm sử địa Đ.H.S.P. Saigon, giải thích một cách rành sẽ công trình xây cắt đập Đa Nhim.

Trang sách 74Theo dự trù, đập sẽ được hoàn thành trong khoảng thời gian là năm năm, chia ra làm hai đợt.

- Đợt nhất : đập sẽ được đắp cao 25 mét trong vòng ba năm.

- Đợt nhì : đập sẽ đắp cao thêm 30 mét.

Kết quả đã vượt hằn sự dự trù, đập đã được hoàn thành xong hẳn trên 90% trong một thời gian kỷ lục : tính đến tháng 9 năm 1964, tức là chỉ trong vòng có 2 năm 5 tháng, sớm hơn chương trình đã dự định gần gấp đôi.

Nếu toàn thể hệ thống của đợt i và 2 được hoàn tất, thì đập sẽ cho một công xuất đến 160,000 kw nghĩa là gấp đôi số điện lực Saigon Chợ Lớn. 2. Các thành phần của đập : 1.46om Đập dài 18om Bề ngang dưới đáy đập Bề ngang trên mặt đập Chiều cao của đập Theo trắc diện (profil), hình thề của đập là hình thang (trapèze).

Số khối lượng đất dùng để đắp đập lên đến 3.600.000m.

Đập nằm chắn ngang thung lũng sông Đa Nhim, chận nước sông này và các phụ lưu (nhất là sông Krong Klet) tạo thành " hồ chứa nược nhân tạo » (Lac artificiel) rộng tới 10 cây số vuông và chứa 160.000.000m3 nước. Nhờ hệ thống đập này, nhà máy phát điện có thể hoạt động liên tục quanh năm. Như chúng ta đã biết, sông Đạ Nhim cũng như các sông khác ở miền tao nguyên và miền núi cao Trung phần Việt Nam, có một khối lượng nước quan trọng nhờ địa thế cao, nên mưa rất nhiều đem lại hàng năm một vũ lượng ít nhất trên 2000mm

Trang sách 75nước mưa và có nơi lên đến : ên 3.000mm. Nhưng vì nằm trong bán đảo Đông Dương thuộc Châu Á gió mùa của miền nhiệt đới, nên Cao nguyên Nam Trung phần Việt Nam có hai mùa rõ rệt.

- Mùa nắng hạn, ít mưa.

- Mùa mưa có đặc tính là mưa xối xả và vào thời kỳ khi hậu chuyền tiếp (tháng Io, 1I, 12), thường có nhiều bão tố làm cho các sông ở miền cao nguyên bị ngập lụt.

Vì những nguyên do trên, lưu lượng (débit) sông Đa Nhim cũng như các sông khác ở miền này không điều hòa.

Trung bình lưu lượng kém nhất độ 5m/sec. và to nhất không quá 2.000m3/sec.

Theo tài liệu thủy tính từ năm 1932 đến năm 1959, lưu lượng mùa nước lũ lớn nhất là a.5o0m/sec. và năm vừa qua, ngày 13-12-1964, số ấy vượt lên đến 3.000m/sec.

Đề tránh hiềm họa của mùa nước lũ có thể tràn qua và phá vỡ đập, việc xây cất đập Đa Nhim đòi hỏi nhiều kinh nghiệm ; một kỹ thuật tinh vi, một công trình vi đại trong việc nghiên cửu tỷ mi, công phu (phòng thí nghiệm phân chất từng mầu Đặc tính của đập Đa Nhim là một đập đất, gồm có hai phần :

- Phần chánh được kiến tạo bằng đất đồng chất được trồng cỏ đề tránh tác dụng xâm thực của nước mưa có thề lôi cuốn lớp đất trên mặt.

- Một phần tương đối nhỏ, xây cất bằng bè tông cốt sắt gọi là đập tràn (déservoir) nằm ở phía tả ngạn nối liền với đập đất, nhằm mục đích điều hòa mực nước hồ nhân tạo khi nước lên quá cao. Đập tràn thấp hơn đập đất t6 m 30 và chiều dài

Trang sách 76đo được 5i m 500 gồm có 4 cửa sắt, thẳng đứng có thể đem độ cao của mặt nước hồ đến 1042m. Mỗi cửa rộng 1Im X 13,6m.

Bốn cửa sắt này có thể bảo đảm được một lưu lượng tràn (capacité de décharge) đến 6.468m/sec. Khi mưa nước hồ nhân tạo vượt đến mức tối đa.

Căn cứ vào tài liệu thủy tính trên, từ năm 1932 đến 1964, sông Đa-Nhim chưa có một lưu lượng năm nào quá 3.000m/sec.

Do đó ta có thể nói là đập Đa-Nhim được bảo đảm an toàn nhờ đập tràn.

Mùa nước lũ ngày 13-12-1964 vừa qua đã chứng tỏ kỹ thuật khéo léo của các chuyên viên Việt-Nhật.

Tuy nhiên, lưu lượng cao do hệ thống đập tràn tạo ra đã gây thiệt hại các miền hạ lưu ven cạnh sông Đa-Nhim và theo lời kỹ sư thì sự tồn thất (nhà cửa, mùa màng, cầu...) lên đên hàng vài chục triệu.

- Đường hầm thủy áp (tunnel de pression - pressure tunnel) được nối liền hồ nhân tạo Đơn-Dương đến nhà máy phát điện Krong-Pha, bằng một đường hàm đào xuyên qua lòng nủi, dưới đèo Ngoạn Mục (Col de Belle Vue) dài 4878m (1) và đường kính 3,40m. Cuối đường hàm là đỉnh núi chế ngự đồng bằng Phan Rang. Từ đỉnh núi ấy, nước được dẫn xuống nhà phát điện nằm dưới chân núi bằng hai đường ống thép thủy áp (2 con- duites forcées), dài 2340m đường kính rộng am tại nơi nối tiếp với đường hàm. Ống thép thủy áp được thu nhỏ lại dẫn còn tm trước khi vào nhà máy phát điện. Phía trong lòng ống thủy áp được trám một lớp dàu hắc đặc biệt nhằm mục đích bảo tồn sự bền dai của ống, đồng thời giảm bớt sức cọ sát của nước (frottement de l'eau) với lòng ống. Mỗi ống thủy áp có thề cho một lưu lượng tối đa là 13,2 m /sec. (I) Công trình đập Đa-Nhim này làm cho iổ chuyên viên Việt Nhật chết Hiện nay bên cạnh hò nhân tạo Đơn Dương có một đài kỷ niệm cho 16 vị trên.

Trang sách 77Nhờ sự dị biệt cao độ (différence d'altitude) quan trọng (goom) trên một khoảng cách ngắn chừng 7,5 km giữa hồ nhân tạo Đơn. Dương và nhà máy phát điện Krong-Pha, sức ép (pression) của nước rất mạnh, lên đến 80kg/cm làm động lực cho máy turbines. Các máy móc trang bị nhà máy phát điện đều thuộc vào loại tối tân do các hãng Nhật Bản cung cấp, gồm có những bộ phận chính như sau: 4 cái Máy turbines 4 cái Máy phát điện (générateurs) 4 cái Máy biến điện (transformateurs) Máy phát điện sản xuất loại điện hạ thề 13,2 Kv (Basse tension) được biến thành điện cao thế 250 Kv (haute tension).

Điện này được chuyền về nhà máy Biến điện Thủ-Đức nhờ 3 đường dây dẫn điện cao thế (bằng nhôm, cốt thép đường kính 28 mm 5) trên một chiều dài là 252km từ Krong-Pha đến Thủ-Đức.

Tính ra có tất cả 729 trụ điện, trung bình vào khoảng 300 - 350 m có một trụ điện. Công tác xây cất đường dây điện này do hãng Nhật Mitsui thực hiện.

Tôn phí xây cất đập, đường hàm, đường ống thủy-ha-áp, nhà máy phát điện Krong-pha, v.v... rất cao, được phân tích như sau :

CÔNG TÁC YEN Đập, hằm, nhà máy phát Điện Đường ống thủy hạ áp và cửa sắt Các máy móc trang bị Tổng cộng :

Trang sách 78Ngoài ra, trị giá công tác xây cất đường dẫn điện cao thế rất quan trọng, một phần trả bằng tiền Yen (1.369.754.860 Yen) và một phần trả bằng tiền V.N. (48.694.266$).

Nhà máy biến điện Thủ Đức cách Saigon 10 km về phía Đông Bắc. Mục đích chính của nhà máy này là hạ điện cao thế 230kv xuống điện trung bình thế 66 kv, 15kv và xi kv trước khi điện được đưa vào đường dây trung thế chay bao quanh Saigon và các vùng ngoại ô. Điều mà chúng ta cần lưu ý là máy biến điện do công tác của chuyên viên hoàn toàn người V.N. xây cắt (Hãng thầu Chung Lan).

Giáo-sư LÂM-THANH-LIÊM với sự cộng tác của :

Giáo-sư PHẠM-ĐÌNH-TIẾU (TÙ SÁCH SƯU-TÀM & KHẢO-CỨU của ĐẠI HỌC SƯ-PHẠM SAIGON)

Trang sách 79Ảnh Trần Văn Châu Đi săn

Trang sách 80Người RHADÉ (trái) và người MNONG (mặt)

Trang sách 81Vua HỎA XÁ

Trang sách 82Người SÉDANG