CHƯƠNG THỨ NHẤTPhần 2 · trang 10–37

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 10CHƯƠNG THỨ NHẤT NGUỒN GỐC ĐỒNG BÀO THƯỢNG Ở CAO NGUYÊN VIỆT NAM Nhờ ở vi thế địa lý, bán đảo Đông Dượng đã trở thành ngã tưị di dân của nhiều giống người và trong mịt mờ của tiền sử đã có sự giao hòa huyết thống của những giống người đó. gốc của các Ngày nay trở lui về quá khứ để tìm lại nguồn. giống người sống trên đất Việt, không kể người ngoại quốc, đã là một vấn đề gây nhiều bối rối cho các nhà nhân chúng học.

Đến bây giờ các nhà khảo cứu trên chỉ có thể phân chia những giống người hiện sống nơi đây theo từng nhóm sắc tộc thế địa phương hóa trong không gian, còn sự tiến chính, có hóa cửa các dân tộc đó theo thời gian thì chưa để gì xác định được. Và về hệ tộc của các giống người này thì chúng ta cũng chỉ có thể thiết lập những giả thuyết mà chưa thể định rõ ràng nguồn gốc của họ.

Tuy nhiên, với những phương pháp khảo cứu rất khoa học và công phu, giả thuyết của các nhà nhân chủng học trên cũng khá vững vàng đáng tin cậy. Ngày nay muốn xây dựng lại giả thuyết, chúng ta phải khai quật lòng đất để tìm vết tích tiền sử, chúng ta theo dấu các nhà nhân chủng học và tiền sử học đi tìm những người ngày xưa, những con người đầu tiên sống trên đất Việt. Rồi do đó chúng ta mới suy ra những liên hệ giữa các sắc dân hiện hữu với những người trong thời khuyết sử, và cũng nhờ đó chúng ta mới tìm thấy những liên hệ của các dân tộc đang chia nhau vùng đất sống trên bán đảo Ấn Độ Chi Na, hay nói gần gũi và thiết thực hơn, chúng ta mới có thể tìm hiểu

Trang sách 11những mối ràng buộc giống nòi giữa mình và các đồng bào thiểu số.

Ngày nay, các nhà nhân chủng học đều công nhận rằng các dân tộc hiện sống trên miền núi Cao Nguyên và dân tộc Việt Nam có sự liên hệ mật thiết về nguồn gốc huyết thống.

Ở đây chúng ta không nghiên cứu tông quát về sự cấu tạo các dân tộc đó mà chi xét riêng về nguồn gốc của các giống người Thượng ở Cao Nguyên miền Nam.

Lúc ban đầu, khi mới tiếp xúc rồi sống bên cạnh những. con người Cao Nguyên này, chúng ta hẳn cũng thường băn khoăn về xuất xứ của họ : tổ tiên của những người này từ đâu đến ? Đến đây từ lúc nào và tại sao ngày nay họ lại sinh tụ trong miền núi rừng cách biệt xa xôi ấy ?

Hỏi ngay những người trong bộ lạc này họ cũng chỉ ngơ ngác chẳng giúp ta tìm thấy chút ánh sáng nào. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng ta cũng bắt gặp một đôi điểm le lói nguồn gốc các chủng tộc Thượng qua những chuyện thần thoại núi rừng. Đành rằng thần thoại là những truyền thuyết hoang đường xây dựng bởi óc tưởng tượng cùng lòng mê tín dị đoan của người sơ khai, tuy nhiên nội dung của thần thoại được dựng nên từ ngàn xưa hẳn cũng phản ảnh được phần nào nếp sống nguyên thủy của dân tộc, các sắc tộc Cao Nguyên ngày nay. Chúng ta sẽ trở lại những chuyện thần thoại miền núi giải thích nguồn gốc dân tộc miền núi trong một phần sạu.

Trở về lãnh vực nghiên cứu thuần chất khoa học, đề trả lời cho những thắc mắc nói trên, các nhà nghiên cứu lịch sử đã phải đi ngược thời gian tìm tòi trong những di vật của người xưa còn lại để xây dựng những giả thuyết :

I. Theo nhiều nhà nhân chủng học và tiền sử học, (Colani, Mansuy) thì sự hình thành các sắc tộc Cao Nguyên Trung phần

Trang sách 12nói riêng và toàn thế các sắc tộc ở Việt Nam nói chung, khởi đầu từ cuộc di chuyển lịch sử của giống người Mélanésien từ những quần đảo miền Nam Thái Bình Dương tiến lên phía Bắc dọc theo lãnh thổ Việt Nam ròi dừng lại ở miền biên giới Hoa Nam để trở thành những thồ dân đặu tiên ở đấy. Các di tích tiền sử ngày nay không cho chúng ta biết thêm rằng trước khi người Mélanésien đến chiếm ngự thì trên miền này đã có một giõng người nào khác đang sinh sống không ?

Sau đó cách thời đại chúng ta hơn hai ngàn năm trăm năm lại có một cuộc di chuyền khác của giống người Indonésien từ Tây sang Đông, khởi điểm của cuộc di dân này là bờ phía Đông Địa Trung Hải và vùng Thồ Nhĩ Kỳ ngày nay. Giống Indonésien ban đầu di chuyển đến Ăn Độ. Nơi đây họ bị giõng người Aryens chiếm ngự từ lâu đánh bật ra khỏi đất Ăn, nên họ lại tiếp tục tiến về phía Tây Thái Bình Dương.

Một phần trong nhóm người lưu vong này tràn xuống miền Đông Nam định cư tại các Hải đảo ngoài Đại Dương tức Nam Dương quần đảo bây giờ.

Một nhóm khác theo đường bộ men dọc ven bờ Ấn Độ Dương tiến sang Mã Lai rồi dừng lại ở bờ Thái Bình Dương trên bán đảo Đông Dương.

Ở đây, từ trước đã có giống người Mélanésien đang sinh sống, những cuộc đụng chạm để giành đất sống hẳn phải mãnh liệt giữa hai giống người này. Kết quả, một phần bị tiêu diệt, một phần chạy lên ' chiếm cứ vùng núi rừng, phần còn lại đã được đồng hóa để tạo thành những người nguyên thủy của chủng tộc Việt Nam ở phương Bắc và người Chàm ở phương. Nam.

Những người chạy trốn lên vùng rừng núi chia thành từng nhóm đến chiếm cứ một vùng đất đai để sinh sống.

Phong thò, khí hậu đã biến đồi tính tình, ngôn ngữ của từng

Trang sách 13nhóm người lưu lạc trên để thích hợp với hoàn cảnh địa phương sinh sống. Mỗi nhóm người sinh sôi nầy nở và tạo thành một giòng họ, một sắc tộc riêng biệt. Sắc tộc này ít có liên lạc với sắc tộc khác, do đó những liên hệ ngôn ngữ và phong tục cũng biến dạng dần dần, rồi sau này, vì chịu ảnh hưởng của các dân tộc láng giềng để trở thành những ngôn ngữ và phong tục khác biệt.

Như vậy theo giá thuyết trên thì tổ tiên của người Thượng Cao nguyên miền Nam là những người Mélanésien và Indoné- sien lưu lạc đến Đông-Dương rồi trong cuộc chiến đấu giành đất sống đã lên vùng Cao nguyên ần náu sinh sống.

Danh từ Indonésien chúng ta dùng trên kia không có nghĩa. thuần túy để chỉ dân tộc của nước Cộng hòa Indonésien hiện nay, đó là một danh từ nhân chủng học gọi chung một số dân tộc hiện nay ở vùng núi Đài Loan, Việt Nam, Ai Lao, Cam Bốt, Thái Lan, Bornéo, Sumatra, Phi Luật Tân, Madagascar... 2. Một giả thuyết khác của Kern và Caboton cho rằng vào thời thượng cô, miền Hoa Nam và Bắc Việt đã là nơi sinh trưởng của giống người Austronésien tức là thổ dân ngày nay chúng ta còn tìm thấy ở các hải đảo ngoài Thái Bình Dương.

Giống người này, có lẽ bị các dân tộc mạnh hơn ở phía Bắc đánh đuồi, nên đã phải chạy xuống phía Nam ra các hải đảo sinh sống. Một số khác chạy về dãy Trường sợn rồi định cư • rải rác ở vùng này.

Ngày nay nghiên cứu về hình dáng, huyết hệ cũng như phong tục tập quán chúng ta thấy người Thượng ở Cao nguyên miền Nam có nhiều điểm giống người Wadjak hiện sống ở đảo Java và tận bên kia bờ Thái Bình Dương. Những trụ dùng để đâm trâu tế thần trong các buồi lễ, những hình vẽ tìm thấy trong các hang đá hay tạc trên gỗ trong các nhà mồ của người Thượng Quảng Nam gần giống như những dụng cụ và hình vẽ của thổ dân ở New Zéland.

Trang sách 14Những chiếc khăn quấn đầu có gài lông chim, những vòng ngà dùng để căng tai của người Djarai hay người Maa giống như lối trang sức của người da đỏ ở Honduras Trung Mỹ, giống người này cũng tin là linh hồn người chết sẽ sinh sống trên mặt trời.

Dựa theo những giả thuyết trên, chúng ta có thể tạm thời kết luận :

Theo những nhà nhân chủng học và tiền sử học thì từ thời thái cò, trên lãnh thồ Việt Nam đã có giống người Mélanésien chiếm cứ. Sau đó giống người này bị làn sóng di cư của giống người Indonésien từ phía Ấn Độ sang đánh chiếm. Một phần những thồ dân cũ bị đồng hóa hoặc bị tiêu diệt, một phần lưu lạc ra các hải đảo, hoặc chay lên ần náu ở núi rừng Cao nguyên.

Tuy nhiên, sự hình thành các sắc tộc Cao nguyên miền Nam không phải đến đây là chấm dứt. Một thời gian sau, lại có một số người Mã Lai từ ven bề phương Nam vượt thuyền tràn sang chiếm đất đai của những người đến trước ở dọc miền duyên hải Trung Phần. Một số người Indonésien ở đây 1.: nhải chạy vào nương náu trong rừng núi, số còn lại họ tê tạo thành tồ tiên của giống người Chàm ở miền rời Phù Nam và Chân Lạp ở miền Nam. Những vì ở ven biển thường tiềp xúc với văn hóa Ăn Độ *y - Nam đến, cho nên tín ngưỡng phong tục của họ có nhiều màu sắc Ăn Độ.

Sõ người Indonésien chạy lên miền rừng núi, sơi đây, khi họ gặp những người Mélanésien di cư thủa trước, chắc chắn lại có những cuộc đụng độ tranh giành đất sống, mặc dầu ngày nay không còn một di tích nào cho chúng ta biết kết quả những cuộc tranh giành đó ra sao, nhưng chúng ta cũng phỏng đoán* được rằng : như mọi lần tranh chấp khác, một phần người yếu thế bị tiêu diệt, bị đồng hóa, một phần chạy đi tìm những đất khác xa hơn, yên ồn hơn đề sinh sống.

Trang sách 15Ngày nay, hàu hết các sắc tộc thiều số miền Cao nguyên :

điều có một truyền thoại về một loại ma quái luôn ám ảnh họ, đó là • Ô Ma Lai », người Séđăng và Diế gọi là Ma Lai. Phải chăng đó là di ảnh của những cuộc tàn sát xưa mà tô tiên họ đã khiếp hãi do những chiến thuyền hung dữ có hình con ó mang bọn cướp bề từ Mã Lai đến ? Dàn dăn khi tình hình đã ồn định, mỗi nhóm người di cư đi tạo thành những bộ lạc đầu tiên. Mỗi bộ lạc sống tách rời, xa biệt hẳn nhau, ít có sự trao đòi giao thiệp, nên phong tục tính tình cũng dần dăn thay đồi đề thích ứng với hoàn cảnh sinh sống địa phương.

Ngay trong mỗi bộ lạc, khi mỗi người càng ngày càng đông, đất đai màu mỡ dàn hết đi, họ cũng phân tán đi tìm những vùng đất khác để canh tác. Mỗi nhóm ra đi lại tạo thành một làng nhỏ biệt lập, cho nên tuy cùng một bộ lạc một giòng họ nhưng có khi người làng này nói chuyện, người làng kia không hiều. Thỳ ngữ biến dạng tùy theo địa phương. Ở những làng tiếp giáp giữa hai bộ lạc hay gần gũi tiếp xúc với người Việt-Nam, người Chàm.. đã bị lai đi rất nhiều trong ngôn ngữ cũng như phong tục tập quán. Sự biến dạng này chúng ta có thể thấy rõ ràng trong ngôn ngữ Việt Nam từ Bắc vào Nam, mỗi miền, mỗi tỉnh có một lõi phát âm uyền chuyền đặc biệt và có rất nhiều tiếng địa phương khác hẳn nhau. Tuy nhiên người Việt Nam ở chỗ nào cũng có thể hiều nhau được vì nhờ ở sự liên lạc giao thông giữa các miền dẻ dàng và thường xuyên. Còn đồng bào Thượng ở Cao nguyên, vì làng này ở cách biệt với làng kia hàng ngày đường, phương tiện giao thông duy nhất của họ là hai chân, lại thêm bản tính ít thích giao thiệp bên ngoài, sống thế nào cũng được cho nên ngôn ngữ của họ không phát triển và chỉ nghèo nàn trong một số những danh từ thực dụng của từng địa phương.

Ngày nay các nhà ngôn ngữ học, sau khi phân tách tị mi tiếng nói của các sắc tộc Cao nguyên đã xếp các loại thồ ngữ đó theo hai nguồn ngôn ngữ chính :

Trang sách 16I. Loại ngôn ngữ MALAYO-POLYNESIEN Đây là ngôn ngữ căn bản của các thổ dân thuộc một vùng rộng lớn từ đảo Pâques ngoài Thái-bình-Dương qua Nam- Dương Quần-đảo đến tận Madagascar ở phí Tây nam và Đài- Loan phía Bắc. Tại Việt-Nam, tiếng Chàm, Rhadé, Djarai, Roglai, Churu, Haroi, M'dhur thuộc ngành này. 2. Loại ngôn ngữ MON-KHMER Phạm vi của loại ngôn ngữ này hẹp hơn, gồm có ngôn ngữ của thồ dân Miến Điện, Mã Lai và các dân tộc thuộc chủng loại Khmer hay chịu ảnh hưởng của Khmer. Ở Việt Nam, tiếng Vân kiều, Tôi ôi, Khatu, Dié,. Séđăng Rongao, Hàlang, Bahnas, Stiêng, M'nông, Kôhô (Cil, Lat, Maa, Sré, Nop, Chau) thuộc loại này. Ngoài ra tiếng Việt Nam và tiếng Mường ở Bắc Việt cũng thuộc nguồn gốc Môn Khmer.

Căn cứ vào ngôn ngữ, chúng ta có thề tìm thấy sự liên hệ huyết thống của các sắc dân và do đó tìm được nguồn gốc xa xôi của từng giống người.

Những người nói loại tiếng Malayo-Polynésien thuộc nguồn gốc chủng tộc Austronésien và những người nói loại tiếng Môn- Khmer thuộc nguồn gốc chủng tộc Austroasiatique.

Căn bản huyết hệ chủng tộc Austronésien là người Méla- nésien còn căn bản huyết hệ chủng tộc Austroasiatique là người Indonésien. Tuy nhiên, các nhà nhân chủng học thường gọi chung hai loại này là Indonésien.

Trang sách 17Tài liệu tọc thêm I. SÁNG TẠO TRỜI ĐẤT Trước khi chưa phân biệt ra trời đất, vũ trụ là một cõi hư vô, mù mù, mịt mịt không có gì cả. Trong cái hư vô đó tự nhiên sinh ra hai vị thằn quyền phép vô cùng, ấy là Bok Kơi Dơi (thần nam) và Là Kon Keh (thàn nữ), hại vị ấy chia nhau lập ra vũ trụ.

Kơi Dơi làm ra mặt trăng, mặt trời và các ngôi sao, chi phán một lời là các vật đó hiện ra, Mặt trời là một hòn đảo to lớn, soi ánh sáng cho người trần thấy đường làm ăn. Mặt trăng thế mặt trời chiếu sáng ban đêm.

Mặt trời và mặt trăng thuở trước là hai chị em gái lấy một con cá Bơ làm chồng chung. Sau đôi bên bỏ nhau, người chồng cá thỉnh thoảng lại chạy theo nuốt hai người vợ cũ.

Khi nuốt mặt trời thì sinh ra nhật thực. Khi nuốt mặt trăng thì sinh ra nguyệt thực.

Nữ thàn Kon Keh dùng cám vắt ra trời đất. Bầu trời thì vắt hình cong úp trên mặt đất. Mặt đất thì bằng phẳng đỡ lấy chân trời. Đắng nữ tạo hóa Kon Keh dựng xong trời đất thì đăng nam tạo hóa là Kơi Dơi đem các vì tinh tú, mặt trăng và mặt trời treo lên cao và cho thay nhau chạy chung quanh trái đất đề chiếu ánh sáng.

Những công việc ấy làm xong, hai vị thần nam nữ mới cùng nhau phối hợp mà sinh ra đặng ba con : một con được giữ làm thần trên trời (Lă Pôm) còn hai con cho xuống làm người, gọi là Là Bok (Bà Ông) tức là tồ tiên loài người.

Buồi đầu mặt đất chỉ có đất và đá. Hai Ông bà Là Bok bèn

Trang sách 18xin cùng cha mẹ sửa sang lại cho đẹp đẽ. Kơi Dơi mới giao cho một nắm hột và bảo tồ tiên loài người đem xuống vãi trên mặt đất, chẳng bao lâu những hột ẫy trò chồi, mọc mầm sinh ra những cây có tốt tươi. Tuy thế, đất đai còn rộng nên ông bà Lă Bok lại lên trời xin một lần nữa. Kon Keh bèn phán một lời thì các loài chim muông tự nhiên sinh ra. Sau các loài chim ăn trái cây, bay đến đâu gieo hột ra đó, chẳng bao lâu cây cỏ mọc đầy đu.

Vị thần thứ ba ở trên trời là Bok Glaih tức là thăn Sét chuyên làm gió mưa, sấm sét. Khi nào có cầu vồng hiện lên ở phía mặt trời mọc ấy là thần sét ra hiệu cho người ta biết sắp có mưa.

Về sau trong đám con cháu có một người, là Bok Plal, là một gã hoang dâm vô độ. Một hôm dùng thuốc mê dỗ dành được Bia Phu là con gái vua Rơh. Sau chuyện vỡ lở vua Rơh giết chết Bok Plal. Tình nhân chết, Bia Phu không tìm được người vừa lòng mới lãy một con ngựa, rồi bị thủng bụng mà chết. Vua Roh tức giận, giết ngựa lấy lòng ăn thịt, còn da đem bịt trống đánh chơi ! Nào ngờ khi đem trống ra đánh thời trong làng từ bé đến lớn đều nỗi lòng dâm dục, bày ra một cảnh tượng rất kỳ quái. Biết sự chẳng lành, vua Rơh truyền quăng trống xuống sông cho mắt tích. Nhưng trống trôi đến đâu, • hể có người vớt lên đánh, thời lại diễn ra cái tuồng dâm ô.

Lần lượt làng này qua làng khác, người ta trở nên xấu xa, nhơ nhuốc.

Bok Kơi Dơi thấy vậy, lấy làm căm tức mới làm mưa luôn mãy ngày thành một trận đại hồng thủy, thiên hạ đều chết hết. Chỉ còn hai anh em nọ, tính nết hiền lành, được Bok Kơi Dơi bảo tránh nạn vào một cái trống và đem theo đủ các loại thú vật, mỗi giống một cặp đực cái. Vì vậy người ta kêu hai anh em ấy là Lă Bok Xơgơr (Ông bà tránh nạn trong trống). Bềnh bông trên mặt nước độ chừng trên một tháng, Lă Bok Xơgơr

Trang sách 19mới thả thử một con chim bò câu ra thời nó bay luôn không về, lại thả thử một con quạ nữa, đến khi nó bay trở lại thì chân có vết bùn. Hai anh em biết nước rút xuống rồi, mới chui ra ngoài trống và thả các giống vật ra. Số hạt giống anh em mang theo đã ăn hết sạch, họ nhờ có con kiến mang lại hạt lúa thăn đem gieo thì ngày hôm sau mọc lên đầy đồng mênh mông, mỗi hạt lúa có thể nấu đầy một nồi và ăn no một bữa.

Hai anh em ở trống chui ra là hai người còn sống sót trên mặt đất, nên phải lấy nhau. Họ sinh được 18 người con, 7 trai và Ii gái. Số trai gái không bằng nhau nên các anh em trai phải làn lượt thay phiên nhau lãy các chị em gái. Do đó mà con họ đẻ ra chỉ biết có mẹ mà không biết cha là ai.

Khi con cháu Ông bà trống đã đông đảo họ mới cùng nhau dựng lên một cái nhà gác cao lớn nóc lên gần tới trời. Người anh cả chỉ hụy công việc, ngồi trên nóc sườn nhà vừa dựng xong, sai bảo các em mỗi người một việc. Nhưng từ đó tiếng nói của người anh cả vang xuống, không ai hiều được nữa.

Người anh cả sai một đường, các em làm một nẻo, không hiều được tiếng nói của nhau nữa. Tức mình người anh cả quát mắng ầm i, song cả bọn chỉ nhe răng cười vì mỗi người đã nói một khác. Người anh cả đánh đập, họ bỏ chạy tán loạn, đi mỗi người một ngả. Kè nói tiếng Bana thì đến xứ Bana, những người nói tiếng khác nữa thành ra tổ tiên của các dân miền núi Da-rai, Xê-đăng, Ra-đê, Rốc-lai, Rông-gao... chỉ có người con cả nói tiếng Việt Nam thì ở lại với cha mẹ, cho nên người Việt Nam thành ra khôn ngoan và giàu có hơn các em.

Thần thoại Ba-Na (Trích trong Việt Nam Văn học Toàn thư) của HOÀNG TRỌNG MIÊN

Trang sách 20II. MA LAI Tất cả các sắc dân Thượng tại Cao nguyên miền Nam đều có một tình cảm Sợ hãi phồ biến đó là sợ Ma Lai, Ma Lai thuộc vào một loại mê tín dị đoan đã có từ lâu đời nay và đã ăn sâu vào nếp sống tinh thần của đồng bào Thượng.

Ma Lai là gì ?

Ma Lai do tiếng K'Mlai (KéMé Lai) của người Rơglai và Churu mà ra. K'Mlai chỉ một loại người quỷ. Tiếng EDÊ gọi là MTAO (Mơ tâu). Người Jarai gọi là R'NUNG (Rơ-nung), người Banhar và người Koho gọi là SAMAT, người M'NÔNG gọi là CHIAK, người Chill gọi là Cà (Chà).

Tại sao đồng bào Thượng tin có Ma Lai ?

Chuyện cổ tích của người Chill kể lại rằng: « Ngày xưa có một thanh niên đi lính xa nhà. Một hôm được tin chị ở nhà đau nặng và chết, anh tức tốc bỏ lính về nhà dự đám tang.

Nhưng về đến nhà thì người ta đã chôn cất chị anh xong. Anh buồn rầu mang dao vào rừng thăm mộ chi, trong lúc quá cảm xúc và đau đớn anh quyết định chết theo chị. Anh dùng dao đào một cái huyệt bên mộ người chị rồi nằm xuống đó.

Đêm hôm ấy, tự nhiên anh thấy có một đàn quỷ đông lắm kéo đến đi xung quanh mộ của chị anh. Đàn quỷ này là quỳ rừng quỷ núi, quỷ đá, quỷ cây... Chúng hóa người, trong bọn lại có một lão già quỷ ở hang đá chỉ huy. Lão già chỉ mộ chị anh nói với quỷ trẻ rằng :

- Bên này chín rồi, và lại chỉ vào huyệt của anh nói rằng :

- Bên này còn sống.

Nghe lão già nói « bên này chín rồi », bọn quỷ mừng rõ xúm vào tranh nhau bởi đất đào mồ, lão già cản lại :

Trang sách 21- Đừng hấp tấp ! Làm thế thịt sẽ tiêu hết, để tôi hát một bài thần chú đã.

Nói rồi lão già cất tiếng hát. Hát xong lão cúi xuống thỏ lưỡi liểm vào mộ người chết.

Người thanh niên cầm chắc cán dao, vẫn theo dõi từng cử chỉ của lão già. Lúc này thuận tay, anh vung tay chém đứt lưỡi lão già.

Lão già đau quá, hét lên, ôm miệng chạy, máu chảy ra đỏ lòm, bọn quỷ trẻ thấy thế, không hiều gì cũng sợ hãi chay trốn hết.

Người thanh niên đứng dậy trở về nhà. Anh nhặt đá bỏ đầy một cái gùi và gọi con chó săn của anh đi theo, để tìm giết lão quỷ già kia. Theo vết máu, anh đi đến một hang đá, trong có một túp lều nhỏ. Anh đoán chắc lão già ở trong này, nên lãy đá ném vào lều. Con chó thấy chủ nó ném hòn đá liền chay theo hòn đá. Tới lều nhìn thấy lão già, nó sủa ầm lên.

Người thanh niên bèn bỏ gùi đá xuống, tiến vào trong lều.

Lão già vừa đuồi con chó ra đến cửa lều thì gặp người thanh niên. Anh này hỏi thăm ông già. Ông già ú ợ đáp lại. Người thanh niên hỏi:

- Tại sao ông nói không ra tiếng ?

Ong già ú ở đáp :

- Trẻ nó dẫn tôi vào rầy ăn mía, không may tội bị đứt lưỡi nên nó: không được.

Ông già mời người thanh niên vào trong lều. Người thanh niên thấy trong lều có một đứa cháu gái của ông già độ 12 tuổi, anh nghĩ ra một kế giết ông già.

Anh ngỏ lời xin đứa cháu gái về giúp việc anh, ông già bằng lòng.

Trang sách 22Từ đấy đứa cháu gái cửa ông già về ở trong Buên, còn người thanh niên thỉnh thoảng vẫn đi lại thăm ông già. Một thời gian sau thấy sự đi lại đã trở nên thân mật, anh thanh niên giết đứa cháu gái của ông già. Anh chém nó làm hai khúc.

Khúc trên anh đặt lên sàn ngủ rồi lấy mền chùm lên trên. Khúc dưới đem làm thịt. Công việc xong xuôi anh lên gặp lão già, anh nói hôm nay nhà anh có cúng thần giết trâu, anh mời ông già xuống uống rượu ăn thịt.

Ông già tin là thật đi theo anh. Đến nơi anh mời ông già uống thật nhiều rượu.

Ông già hỏi đứa cháu gái đâu, anh chỉ vào sàn bảo nó đang ngủ.

Khi lão già đã say mềm, người thanh niên lôi lão ra ngoài nhà cho lão đánh nhau với một con trâu, lão già bị con trâu húc chết.

Người thanh niên làm thịt luôn con trâu để ăn mừng đã giết được con quỷ già. Anh lấy thịt trâu bóp với cám, bày ra lá rồi mời cả làng lại ăn. Miếng lá có thịt cháu gái lão già được bỏ ra ngoài hàng hiên.

Dân chúng kéo đến rất đông, nhiều người chịu khó vào • trong nhà lấy thịt thì được ăn thịt trâu, có một số lười biếng lấy thịt ở ngoài hàng hiên ăn thì ăn phải thịt người.

Từ đó trong làng có hai loại người. Loại người thường ăn thịt trâu và loại người quỷ mà người Chill gọi là « Chà» thì ăn thịt người.

Một chuyện cồ tích khác của người ÊDÊ kể lại rằng :

Một hôm ác thần « Yang Liê» một vị thần ở trên trời chuyên gây bệnh tật, chiến tranh, đau khô cho loài người, tồ chức một bữa tiệc lớn. Hắn cho mời tất cả các sắc dân Thượng lên dự.

Trang sách 23•Tiệc hôm ấy có thịt trâu, thịt hồ và lại có cả thịt người nữa. Ác thần bày thịt người vào mâm bát lịch sự đề trong nhà, còn thịt trâu bò thì đem gói vào lá đề la liệt ở khắp mọi nơi.

Phải đoàn của các sắc dân Thượng lên dự tiệc đông lắm, cả người giàu cũng như người nghèo. Những người giàu được mời vào những chỗ ngồi lịch sự, ăn tiệc có mâm có bát, những người nghèo thì ngồi ngoài, ở khắp chỗ, khắp nơi.

Tiệc tan các phái đoàn trở về trần gian.

Những người giầu được ăn tiệc có mâm có bát về nhà thấy ngứa cồ và thèm ăn thịt người. Họ cố gắng nhịn nhưng không được, đến khi thèm quá họ bắt buộc phải giết lén người ta đề ăn thịt.

Dân chúng thấy người ta bị giết nhiều quá, sợ hãi lên hỏi « Yang Liê » nói :

- Đó là MTAO đấy. Chúng đã giết hết bao nhiêu người rồi ?

Dân chúng trả lời :

- Giết bết một nửa rồi.

Yang Liê cho đòi những người « MTAO . lên và giả vờ quát lên :

- Tại sao các người ăn thịt người ? Từ sau không được giết người ăn thịt nữa.

MTAO trả lời :

- Nhưng thèm quá không chịu được thì làm sao ?

Yang Liê nói nhỏ:

- Thì ăn bí mật đừng cho người ta thấy.

Rồi cho MTAO thuốc biến hình.

Trang sách 24Dân chúng về đến nhà không thấy MTAO giết người nữa nhưng không hiều sao vẫn có nhiều người chết; họ lại lên hỏi Yang Lie.

Yang Liê nói : - - MTAO có thuốc biến hình đó. Nhưng các người có thể tìm MTAO được, trên đầu chúng có một cái mào, hề người nào có mào thì đúng là MTAO.

Dân chúng về tìm giết những người có mào ở trên đầu.

Bọn MTAO chết nhiều lắm, chúng kéo lên hỏi .Yang Lit :

- Chúng tôi chết gàn hết rồi, xin thần cứu chúng tôi.

Ác thần dạy :

- Hãy ném cái mào ở trên đầu các người cho con chim Flito (chim chào mào) đi, người ta sẽ không biết các ngươi nữa.

Bọn MTAO làm theo lời ác thăn dạy.

Dân chúng giết hết được những người có mào, mừng rỡ lắm. Nhưng chẳng bao lâu họ lại thấy loài người bị giết như trước, họ lại phải tìm đến Yang Liê.

Yang Liê bảo :

- Hãy lấy dầu chai bỏ trong nồi đun cho sôi lên rồi bắt MTAO nhúng tay vào. Nếu đúng là MTAO, tạy chúng sẽ bị lột da.

Dân chúng về làm thử. Họ thấy trong tay họ không việc gì nhưng khi người MTAO vừa thò tay gần đến cái nồi thì lửa bùng lên dữ dội, người MTAO sợ hãi rút tay lại.

Từ ấy mỗi làn nghi ai là MTAO, dân chúng lại nấu dầu chai để thử.

Một hôm có hai cha con một nhà kia đi trồng lúa ở ngoài rầy. Người cha hôm ấy uống rượu nhiều quá nên bị say. Đến

Trang sách 25chiều, người con dìu người cha về Buôn nhưng đến nửa đường thì người cha ngủ gục.

Đêm hôm ấy người con leo lên cây đề phòng thú đữ và trông chừng người cha ngủ ở dưới gốc cây. Khoảng nửa đêm bồng có một đoàn MTAO đi qua, chúng xúm quanh người đang ngủ kia và mừng rõ nói rằng :

- Có thịt ăn đây rồi.

Người con ngồi trên cây run sợ lên, nhưng vì bộn MTAO đồng quá anh không có cách gì cứu cha.

Một tên MTAO trong bọn nói :

- Chúng ta đừng ăn vội hấy đợi người chỉ huy của chúng ta đến.

Một lát sau, có một tên MTAO đi tới, bọn kia vái chào.

Hắn hỏi : .- Các ngươi tụ họp ở đây làm gì thế ?.

- Chúng tôi tìm được thịt ăn đây nhưng còn đợi « Đại ca ».

Tên chúa MTAO ra lệnh lấy củi chụm xung quanh người cha để thui. Thui xong chúng xúm lại chia nhau xé xác người cha ăn ngon lành.

Người con ngồi trên cây rất đau đớn nhưng vẫn không dám xuống cứu cha.

Sau khi ăn thịt người cha xong, bọn MTAO ngồi quây quần nói chuyện quanh đống lửa. Bọn chúng hỏi lẫn nhau, chúng sợ cái gì.

Người con lắng nghe, thấy chúng kể nào cọp, nào với... tất cả các thú dữ trên mặt đất đều là bạn của chúng hết.

Giây lâu có một tên MTAO nói:

Trang sách 26- Các anh quên rồi chúng ta có sợ một con vật... con Daikrut (một con vật nhỏ như con ruồi, màu đen, ở trên các cây lớn, mỗi tố có 3 con).

Bọn MTAO măng tên kia.

- Nói nhỏ chứ, có người nghe thấy bây giờ.

Người con ngồi trên cây nghe rõ chuyện vừa rồi, anh nhớ ra ở dưới đáv ống tên có một con Daikrut chết. Anh bèn dốc ống tên bỏ con Daikrut xuống đống lửa.

Lửa phừng lên làm chết và bị thương rất nhiều MTAO, bọn MTAO sống sót vội vàng bỏ chạy, chúng thù ghét tên MTAO đã để lộ điều mà chúng sơ hãi Sáng hôm sau, mặt trời mọc lên rực rỡ, người cha tỉnh rượu cùng người con đi về Buôn. Người con đã biết chuyện đêm hôm qua bọn MTAO ăn linh hồn người cha nên rất buồn rầu. tuy nhiên anh không thố lộ với ai. Ba hôm sau người cha xấu số kia bị đau ruột một trận rồi chết.

Từ bấy người Thượng lại biết thử MTAO bằng con Daikrut nữa.

Đặc tính của Ma Lai Người Thượng cho rằng Ma Lai là quỷ gia truyền, người ta bảo là có dòng Ma Lai. Tuy vậy người thường cùng có thể thành Ma Lai được nếu họ hay tiếp xúc chơi bời với Ma Lai và được Ma Lai rủ đi ăn thịt người nhiều làn.

Trong trường hợp khác, một người thường có thê thành Ma Lai nếu họ bị ma quỷ nhập vào người. Người Thượng cho . rằng trong rừng núi có nhiều ma quỷ. Nếu ma quý muốn nhập vào ảỉ, nó sẽ đem cho linh hồn người ấy ăn rau bí, rau bàu, ăn thịt, ăn chuối. Người bị quỷ nhập vào sẽ ngủ mê thấy ăn những thức đó nhiều lần và sẽ trở thành Ma Lai.

Trang sách 27Linh hồn của ma quỷ nhập vào người kia người Thượng gọi là « Bul », Bul luôn ở dưới nách người Ma Lai.

Ban ngày người Ma Lai sinh sống như người thường. Nét mặt họ dữ tợn. Theo người ÊDÊ và người M• Nồng thì người Ma Lai có đôi mắt đỏ ngàu, mặt đỏ dừ, miệng to, mũi to. Theo người Chill thì người Ma Lai lại có đôi mắt trắng dã không có một tia máu nào.

Ban đêm • Bul • mò đi kiếm ăn. Thường thường nó hay đến những nhà có người chết đề ăn xác người ta. Hoặc đến những mộ mới chúc đầu xuống để ăn, mông chồng lên trời.

Khi nào người ta đi qua mộ, bắt gặp cái mông Ma Lai chồng lên trời, phải lãy đá ném vào mông cho nó chết đi. Tên Ma Lai thế nào về nhà cũng ngã cầu thang mà chết.

Khi nào người ta đứng gần một người Ma Lai mà thấy trên mình nó có một con cào cào thì đó là cái « Bul ». Hãy lén bắt và giết con cào cào đi, chắc chắn tên Ma Lai về nhà cũng đau mà chết.

Người Thượng còn tin là Ma Lai có thuốc biến hình, có thẻ hóa thành con cú, con chim, con chuột, con cọp và nhiều thứ khác. Nó lại còn có một thứ súng đặc biệt đề bắn tên, đá, chông vào người ta làm cho người ta đau ốm rồi chết.

Người ÊDÊ truyền lại một chuyện như sau :

Một hôm trong Buôn có một người chết. Gia đình họ làm ,ma linh đình. Chiều hôm ấy một bọn Ma Lai rủ nhau đến ăn thịt xác chết. Có một tên Ma Lai rủ bạn nó là một người thường đi. Nó cho anh kia một miếng thuốc biến hình, làm cho không ai có thể nhìn thấy anh ta.

Đến nhà có đám ma bọn Ma Lai xé thịt người chết đề ăn. Anh này sợ quá leo lên sàn nhà trốn.

Trang sách 28Sáng ra bọn Ma Lai ăn uống no say xong đi về hết bỏ quên lại anh ta. Khi mặt trời mọc lên, thuốc biến hình không còn hiệu ngiệm người ta trông thấy anh này bèn bắt trói lại bảo là Ma Lai. Họ đánh anh ta rồi định đem giết. Anh này lạy van mãi và khai sự thật. Anh nói bọn Ma Lai chưa ăn hết xác chết, thế nào chúng cũng trở lại nữa, anh còn ít thuốc biến hình nếu người nhà đám táng tin anh dùng thuốc biến hình này, thì có thể giết hết được bọn Ma Lai.

Có một thanh niên rất can đảm, nhận thuốc biến hình để đi giết Ma Lai. Anh mài một cái gươm thật sắc. Đêm hôm đó anh uống thuốc biến hình xong ngồi đợi. Khi bọn Ma Lai gọi «U OA ! U OA !» đi ăn xác chết, anh cũng « U OA ! U OA ! đáp lại. Bọn Ma Lai tưởng nhầm anh cũng là đồng bọn nên rủ anh đi.

Sau khi bọn Ma Lai đã xúm xít xung quanh xác chết, bất ngờ anh vung gươm đâm chém túi bụi, bọn chúng kẻ gầy cổ, kẻ què chân, kẻ bị đâm trúng mạng mỡ chết hết cả, máu đồ lênh láng ra nhà.

Sáng hôm sau trên chỗ ấy người ta thấy rất nhiều đám tro đen đó là máu của Ma Lai. Dân trong Buôn thấy trong làng và trong nhiều Buôn lân cận đều có người chết. Người thì bị chết vì bước lên cầu thang ngã gẫy cô. Người thì bị ngã gẫy chân.

Có người bị bẫy thú vật ở trong rầy đánh trúng mạng mỡ.

Dân làng biết rằng những người đó đều là Ma Lai.

Người Thượng rất sợ Ma Lai.

Người Thượng sợ Ma Lai lắm. Nếu họ biết có những người Ma Lai ở trong làng, họ luôn xa lánh, không dám tiếp xúc với những người Ma Lai.

Nếu có sự liên lạc với nhau, họ cố gắng làm thỏa mãn Ma Lai. Họ e ngại Ma Lai làm hại họ, nhất là họ lo cho con cái của họ. Họ tin tưởng Ma Lai hay ăn thịt trẻ con lắm.

Trang sách 29Vì vậy nếu có người lạ đến nhà, người Thượng thường giữ gìn con cái không cho lại gần khách lạ. Họ chỉ cho khách bòng bế con họ, khi nào họ đã thật quen khách và biết chắc khách không phải là Ma Lai.

Thường ngày họ không dám cho con họ đi chơi xa.

Muốn gọi con vào nhà họ thường dọa « Đi vào ngay ! Đi vào ngay không có Ma Lai bắt bây giờ ».

Khi con cái họ bị đau, họ dấu kín không cho ai biết con họ đau chỗ nào. Họ sợ rằng Ma Lai biết sẽ hút máu con họ ở chỗ bị đau và làm con họ đau nặng hơn.

Thử Ma Lai Mỗi khi nhà có người đau, người Thượng thường đến hỏi người phù thủy. Người phù thủy có thể là đàn ông hay đàn bà.

Tiếng ÊDÊ kêu người phù thủy là MJEO. Tiếng Banhar, Churu, .

Jarai kêu là PJAO, tiếng M'nông kêu là JEO, tiếng Koho, tiếng Chill kêu là GRU, hay là PJAO cũng thế.

Người phù thủy sẽ cho họ biết vì sao họ đau. Nếu là Ma Lai làm đau, họ sẽ cho biết Ma Lai đòi ăn cái gì, con gà, con heo, hay con trâu. Người đi xem bói sẽ phải cúng cái đó thì mới khỏi được.

Cũng có khi tự họ ngủ mê thấy người Ma Lai đến nhà làm hại họ.

Họ trình, dân làng sẽ bắt người mà họ nghi là Ma Lai đem ra thử.

Người Thượng có nhiều cách thử Ma Lai :

- Người ÊDÊ thường cúng thần rồi lấy thanh gươm đập nhẹ vào cồ người bị nghi là Ma Lai 3 cái. Nếu là Ma Lai người kia sợ hãi nhận ngay.

Trang sách 30Ở Phú bồn người Jarai lại đánh thực sự, tra tấn người bị nghi xem có phải là Ma Lai không.

- Một cách thử khác nữa, người tạ cúng Thần rồi đem người bị nghi dìm xuống nước. Trong lúc dìm người kia, không ai được dẫm chân xuống nước cả. Nếu là Ma Lai, người bị nghi sẽ nhoi lên mặt nước ngay.

- Một cách thử khác nữa, người ta cúng Thần, rồi lãy gươm chặt một cái nồi đắt sét mới. Nếu không phải là Ma Lai cái nồi sẽ bửa đôi một cách rất khéo, còn trái lại cái nồi sẽ vỡ tan.

- Một cách thử khác bằng rượu hay bằng thuốc lá. Người Thượng tìm bắt con Daikrut, một con vật nhỏ như con ruồi, màu đen, thường ở trên cây to và thường ở từng tồ, mỗi tò chỉ có 3 con.

Nếu thử bằng rượu, họ sẽ bỏ con Daikrut vào rượu rồi cho người bị nghi uống. Nếu là Ma Lai, người kia sẽ ngã xuống và máu mũi chảy ra.

- Nếu thử bằng thuốc, họ sẽ bỏ con Daikrut vào điều thuốc hút rồi thở khói vào mặt người bị nghi. Nếu là Ma Lai người kia sẽ cũng ngã xuống và máu mũi chảy ra.

- Một cách thử khác bằng nhựa cây « ÊRĂNG », ÊRĂNG là tiếng ÊDÊ chỉ một loại cây gỗ rất tốt. Theo người Thượng có ba loại gỗ tốt nhất thường được dùng làm cột nhà, đó là gỗ Kciêk (cà chiếc), gỗ Kte (cà te hay là gồ) và gỗ ERANG.

Người Thượng lãy nhựa cây ÉRĂNG đem về cúng thần rồi bỏ vào nồi đun sôi lên. Người bị nghi bắt buộc phải thỏ tay vào nồi để tay gần sát mặt nhựa cây ERĂNG. Nếu là Ma Lai tay họ sẽ phồng lên và họ phải rút tay lên ngay.

- Một cách thử khác bằng chì nấu lỏng.

Trang sách 31Người M'Nông ở vùng Daksông thường cúng thần, lấy chì nấu cho lỏng ra và lãy một bát nước lã để thử Ma Lai. Họ vừa kêu cầu thần linh vừa lấy chì lỏng nhỏ vào bát nước lã, mỗi lần nhỏ xuống họ lại kêu tên một người mà họ nghi là Ma Lai, Nếu không may giọt nước chì kêu sèo một cái đúng tên người nào thì người M'Nông cho là thần trả lời đúng người ấy là Ma Lai.

Dã man hơn nữa là lấy chì rấu lỏng để vào lòng bàn tay người bị nghi : Có nơi người ta lấy lá khoai môn lót lên tay người bị nghi, lấy miếng bông để lên miếng lá khoai, rồi lại lót một làn lá khoai nữa lên trên, xong họ đồ chi lên trên.

Nếu nước chi xuyên qua hai lần lá khoai và bông, và đục thủng lòng bàn tay người bị nghị thì người ấy chính là Ma Lai.

Có nơi họ không lót gì cả mà đồ thẳng nước chì vào lòng bàn tay người bị nghi.

Đối xử với Ma Lai Một khi biết chắc người nào là Ma Lai làm hại gia đình họ, người Thượng thường ám sát người Ma Lại. Nếu họ không đủ can đảm, họ sẽ bí mật bàn với một vài người, nhờ những người này giúp sức họ.

Ngày xưa và ngay khi còn đưới thời Pháp thuộc chuyện Ma Lai bị giết lén xảy ra rất thường trong xã hội Thượng.

Theo lời Trung sĩ Y-CHICH-KNUL năm 1958 tại cầu Ea Tam ở Banmêthuột cũng có một người Ma Lai bị ám sát.

Dân làng bao giờ cũng tỏ thái độ tán thành hành động giết người này. Họ vui mừng cho là đã trừ được một tên Ma Lai.

Trong trường hợp dân làng đã thử và biết người nào là Ma Lai, họ đối xử với người kia một cách hết sức rùng rợn.

Tên Ma Lai sẽ bị xích cô và trói tay lại. Người ta đánh đập tàn nhẫn rồi đem giết đi.

Trang sách 32Thường thường họ còn giết hại cả gia đình người kia nữa.

Họ bảo làm như thế cho tuyệt giòng Ma Lai.

Người Chill thường làm hai cái hàng rào khoảng cách rất hẹp chỉ đủ một người đi lọt Họ lùa gia đình Ma Lai cả người . lớn lẫn trẻ con vào trong hai cái hàng rào đó. Rồi họ thay phiên nhau lấy cây, lấy dao, lấy giáo đâm chém gia đình kia. Dân làng đứng hò reo xung quanh y như một buồi lễ giết trâu vậy. Tàn ác hơn nữa là họ không giết ngay gia đình kia, họ chỉ làm bị thương thôi để kéo dài thời gian hành hạ. Có khi họ khoét mắt, xe mũi, lấy lửa đốt hay buộc giây vào bụng rồi mỗi người kéo một đàng làm cho những người Ma Lai phải đau đớn.

Sau đó dân làng tụ họp ăn uống vui cười bên cạnh gia đình những người Ma Lai đau khô kia. Khi nào đã no say và hành hạ chán những người này họ mới đếm ra giết đi.

Nhưng không phải bao giờ họ cũng giết chết hết cả gia đình người Ma Lai. Thường họ chỉ giết những người lớn thôi còn con cháu người Ma Lai họ bắt đem bán làm nô lệ. Giá mỗi em nô lệ thường là một cái choé cổ trị giá khoảng ro 000$00.

Nếu cải choé cò hơn nữa, quý hơn hữa, thì có thẻ đổi được 2 hay 3 em.

Ngày nay dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa luật pháp trừng trị nặng nề những kẻ giết người nên sự gi-t Ma Lai rùng rợn như xưa không còn.

Nhiều người Thượng theo đạo Tin Lành, Công giáo cũng không còn tin Ma Lai. Những người Thượng ở gần thành phố mỗi khi đau, tìm đến Bác sĩ, Y tá chứ không tìm đến thầy phù thủy như trước nữa.

Tuy vậy sự sợ hãi Ma Lai cũng chưa giảm chút nào. Những người bị nghi là Ma Lai tuy không bị giết công khai nhưng cũng bị giết bí mật hoặc bị đánh đập và đuổi ra khỏi làng.

Những người Thượng ở gần thành phố tuy không còn tin Ma Lai lắm, nhưng vẫn sợ Ma Lai vì ngại Ma Lai làm hại con cái họ.

Trang sách 33Vài mẩu chuyện về Ma Lai 1. Trung sĩ Y-CHICH-KNUL kể rằng, trong Buôn Alê A gần Banmêthuột có một người Ma lai tên là AMA X. Ông này đã già. Hai vợ chồng ở với nhau không có con. Ông có nuôi một người con nuôi nhưng sau này đã ra ở riêng. Có một thời ông đem một đứa con của người con về nhà nuôi.

Một hôm đứa bé khoe với rác bạn nó, đêm hôm qua ộng nó đem về một cái đùi thịt trâu và cả nhà nó ăn một cái đùi đó.

Dân làng nghe thấy bảo ông thằng bé là Ma Lai, vi đêm hôm qua không có ai giết trâu cả.

Thằng bé về hỏi lại ông nó.

Ông nó mắng nó và cấm không được nói cho ai biết việc này.

Hiện nay vợ chöng AMA X (1) còn ở Buôn Alê A. Đứa cháu ông ta đã bỏ nhà đi lính từ lâu. 2. Anh Hà Thiêng, giáo viên người Chill, kể lại rằng:

Anh có người cậu ở làng Kạndo Liêng Dang, Quận Lạc Dương, tỉnh Tuyên Đức tên là Y. Cách đây 2o năm ông Y có mê một cô gái thuộc giòng Mạ Lai. Người con gái này rất đẹp.

Họ hàng ngăn cản ông, nhưng ông vẫn nhất định lấy người Kia làm vợ.

Một đệm ông thức dậy thấy vợ đang ăn thịt một đứa bé.

Ông sợ lắm, cất tiếng hỏi :

- Bà làm gì đó ? (x) X, Y, Z, N thay cho tên thật

Trang sách 34Người vợ trả lời :

- Tôi có làm gì đầu.

Sáng hôm sau ông Y thấy trong làng có một đứa nhỏ mới chết đêm hôm qua. Ông Y buồn lắm, tìm đủ cách đề bỏ vợ, • nhưng vì con cái đã nhiều, bỏ vợ không được, ông đau mà chết. 3. Gần đây một người cháu của Y (gọi Y là cậu) lại mê một đứa con gái của Y. Tên anh ta là Z. Còn tên người con gái là N.

Hai người lấy nhau sinh được hai đứa con trai thì N hóa thành Ma Lai.

Một hôm cả gia đình ngồi ăn cơm Z thấy trong bát canh có một ngón tay trẻ con. Anh sợ lắm. Đêm ngủ lại thấy vợ hôi quá, anh biết chắc vợ đã trở thành Ma Lai. Anh tìm cách tự tử, anh uống nhiều thứ thuốc và đã tự tử hai ba lần nhưng đều được cứu sống.

Giờ đây gia đình Z di cư xuống ở Dà Me quận Đức Trọng. 4. Ông Mục sư Tin Lành Cung ở Banmêthuột có kè lại chuyện ông cứu được một gia đình Ma Lai như sau :

Năm 1957 ông Cung truyền đạo ở quận Daksong, tinh Quảng Đức.

Lúc ăy ở một làng người M'Nông bên kia biên giới Cam- bodgs có xảy ra một vụ giết Ma Lai:

Trong làng có một người giảu có, ông ta có nhiều nô lệ.

Trong đám nô lệ có một bà già tên là U-Klsin (U là bà ; Kisin

Trang sách 35tên đứa cháu gái của bà ta, U-Klsin là bà thắng Klsin). ,Gia đình bà Kisin làm nô lệ cho gia đình kia đã được 2 đời. Dòng dõi của bà là Ma Lai. Bà nội của bà đã bị bắt đem bán làm nô lệ cho gia đình này.

Lớn lên, bà Kisin được người chủ lập gia đình cho. Bà lấy chồng sinh 5 người con. Người con trai đầu lòng đi lính gần ba biên giới tỉnh Quảng Miên đóng ở đồn Camp Rolland Đức. Người con trai thứ hai làm công nhân cho đồn điền cà- phê ở Dakmil.

Hai vợ chồng bà Kisin ở với vợ chồng người con gái.

Người này đã được hai đứa con và vừa mới sinh một đứa con thứ ba. Bà Kisin còn hai người con khác nhưng ông Cung không biết rõ về họ.

Không biết vì sao gia đình người chủ cũ bị đau ốm luôn, lại có người bị chết nữa. Người chủ nghi gia đình bà Kisin là Ma Lai đã làm hại gia đình họ. Họ đem ra bàn với dân làng đề giết hại gia đình bà Kisin. Bàn xong, họ bỏ thuốc độc vào rượu cho ông Kisin uống.

Người con trai thứ hai của bà Kisin ở Dakmil về thăm gia đình cũng bị họ giết luôn. Họ bắt hai đứa cháu lớn của bà Kisin đem bán làm nô lệ, người con rẻ bà Klsin bị đuồi về nhà cha mẹ. Còn bà Klain, người con gái của bà và đứa nhỏ mới sinh thì bị bắt trói lại. Họ dùng chì nấu lỏng đồ vào bàn tay phải của bà Klsin đề thử Ma Lai. Tuy rằng chì không đục thủng tay bà Klsin, nhưng họ cũng quyết định giết nốt hai mẹ con bà.

Đêm hôm ấy hai mẹ con bà Klsin nghĩ đến cách hành hạ Ma Lai của người M'Nông. Họ bàn nhau tìm cách trốn đi dù có bị cọp ăn hay voi chà cũng còn hơn ở lại đề chịu những hình phạt tàn bạo.

Hai mẹ con cởi được trói và trốn ra rừng. Đến một bờ suối, đứa con khóc, hai mẹ con bà Kisin sợ bị lộ nên bắt buộc

Trang sách 36phải bỏ đứa nhỏ ở bên bờ suối. Họ đi ròng rã hai ngày sang đến làng Sarpa thuộc tỉnh Quảng Đức.

Dân làng Sarpacũng sợ Ma Lai không dám nhận hai mẹ con bà Klsin. Người ta dẫn hai mẹ con bà ra quận Daksong. Lúc ấy ông Quận Trưởng là một người EDE, ông cũng sợ lắm.

Tại Daksong, không ai chứa chấp mẹ con bà Kisin cả, hai mẹ con lang thang đến trụ sở Hộf Thánh Tin Lành thì được hai vợ chồng ông Mục sư Cung đón nhận.

Bà Mục sư Cung đã phải băng bó và săn sóc vết thương ở tay bà Klsin gần một năm rưỡi mới khỏi..

Ít lâu sau người con rể bà Klsin trốn sang tìm được gia đình. Anh cho biết sáng hôm sau khi hai mẹ con bà Klsin trốn đi, gia đình người chủ đi tìm, bắt được đứa nhỏ ở bờ suối.

Họ đã đem đứa nhỏ về nuôi và rồi cũng đem bán cho người ta làm nô lệ.

Hiện nay gia đình bà Klsin đã được sống yên ồn ở làng Sarpa Quận Đức Lập. 5. Ông Cung còn cho biết một chuyện khác xảy ra tại Bu. dop gần đồn điền Đức An tỉnh Quảng Đức bây giờ.

Vào khoảng năm 1956 dân làng Budop có đem một đứa con gái nhỏ tên là Á Ngơih nang Slat bán cho người Chill làm nô lệ. Việc mua bán không thành, họ dẫn em gái đó trở về. Khi đi qua Dakmil, họ hàng em ở gần đó biết được, can thiệp với ông Quận trưởng Daksông cứu thoát được em bé.

Em cho biết chính ông nội em nghi dòng dõi bà em là Ma Lai và đã cùng dân làng tồ chức giết hại tất cả 6 người trong gia đình em.

Trang sách 37Ông Quận trưởng cho em về lại trong làng và đe doa sẽ bỏ tù dân làng nếu người nào giết hại em.

Ngày Ông Cung đến truyền giáo ở Budop, em đã tin theo Chúa. Sau này dân làng vẫn còn thù nghịch đối với em. Hội Thánh Tin Lành phải đưa A'Ngơih lánh về Quảng Đức một thời gian.

Công việc truyền giáo có kết quả tốt, chính ông em sau này cũng tin Chúa và chống lại mọi sự giết hại Ma Lai. Từ đó Hội Thánh Tin Lành mới cho A'Ngơih trở lại về làng.

Ngày nay dân làng tuy không làm hại A 'Ngơih như ngày xưa, nhưng họ vẫn còn thành kiến cho A'Ngơih là Ma Lai.