CHƯƠNG THỨ BAPhần 4 · trang 83–206

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 83CHƯƠNG THỨ BA LƯỢC SỬ MIỀN THƯỢNG Đồng bào Thượng không củ ghi chép lịch sử : Họ không quan tâm đến vấn đề này và hơn nữa họ không có phương cách như chữ, số đề đánh dấu các biến cố lịch sử..

Những truyền thuyết và thần tích thường rất hay đẹp và hấp dẫn nhưng không giúp chúng ta một chút ánh sáng nào về quá khứ xa xôi mù mịt của họ. Muốn hiều biết đôi chút về vẫn đề này, ta phải làn giỏ những trang sử của Ấn Độ và Trung Hoa đề tìm một vài lề lối liên đới tới đời sống và sinh hoạt. của đồng bào Thượng mà các sử gia của chúng ta cũng chỉ có ghi chép sơ sài.

I. Thời thái cổ Như đã trình bày trong phần « Nguồn gốc đồng bào Thượng », thì từ thời thái cò ở trên lãnh thổ Việt Nam đã có giống người Mélanésien (Mê-la-nê-diêng) sinh sống. Sau đó giống người này bị làn sóng di cư của giống người Indonésien (Anh-đô-nê-diêng) đánh chiếm : một phần bị đồng hóa, phần còn lại chạy lên ần náu trong miền núi rừng.

Đề cập tới những người này, các sử gia Ăn Độ và Trung Hoa đêu ghi « Họ là những người ăn ở trần truồng •. Nhưng ông Alfred Fouchor nhận xét rằng « sự trần truồng này không phải là dấu hiệu của sự man di mọi rợ : những dân tộc đó có một nền văn minh khác hẳn với nền văn minh của Ấn Độ., ông Bernard Bourotte còn nghĩ xa hơn nữa • những thổ dân này không những liên lạc bằng đường bề với Ấn Độ mà với cả những nước ở ven bờ Thái Bình Dương và Nam Dương quần đảo.

Trang sách 84il. Thời thượng cổ Thời này là thời kỳ bành trướng của Ấn Độ về phía Đông Nam Á : Những người Ấn Độ là những người buôn bán đầu tiên đến lập những thương cuộc ở cửa sông Cửu Long và dọc theo duyên hải miền Nam Việt Nam. Ngược lại cũng có vài thổ dân Indonésien sang bên đó buôn bán và lập nghiệp.

Những liên lạc hàng hải và buôn bán này đã giúp người Ăn Độ đặt chân và xâm chiếm miềm Nam Việt Nam được đày mạnh từ khi Đế quốc A-lịch-sơn được thành lập, việc buôn bán đã đưa người Ấn Độ tới các miền Đông Nam Á như Miến Điện, Nam Dương quần đảo, Trung Hoa. Sự bành trướng của Phật giáo, sự cạnh tranh và sự suy sụp tinh thàn đẳng cấp tại Ăn Độ lại thúc đày người Ấn di cư càng ngày càng nhiều sang miền Nam Việt Nam (I).

Từ những thương cuộc trở thành căn cử xuất phát đến những cuộc di dân càng ngày càng đông trở nên lực lượng chiếm đóng, người Ấn Độ lúc đó bắt đầu nghĩ đến việc chiếm cứ miền Nam Việt Nam.

II. Thời Phù Nam và Lâm Áp lập quốc (Thế kỷ thứ nhất - Thế kỷ thứ 1o). 1. Nước Phù Nam Việc xâm chiếm khởi sự ở miền đồng bằng sông Cửu Long (1) Tài liệu viết ở chương này thường lãy ở hai quyền :

- Essai d'histoire des populations montagnardes Sud Indochinois - B. Bourotte.

- Sơ lược về chinh sách Thượng vụ trong lịch sử VN, P. Nus.

Đề đỡ mắt thì giờ tra cứu của độc giả, trong chương này chúng tôi đánh dấu (1) những đoạn nào dịch ở cuốn số r và (a) những đoạn nào trích ở cuốn số a.

Trang sách 85do một người Ăn Độ Bà La Môn tện là Hun-Chen hồi đệ nhất thế ký. Hun Chen lên ngôi vua, lập nên dòng dỡi Kaun Dinya và đặt tên nước là Phù Nam. Các vua sau tiếp tục mở rộng nước Phù Nam, chiếm Chân Lạp, Xiệm La, một phăn Ai Lao, bán đảo Mã Lai và cho du nhập văn minh Ăn Độ vào những khu vực chiếm cứ.

Nhưng đến giữa thế kỷ thứ sáu, nước Phù Nam bị nước chư hầu Chân Lạp chiếm đóng và đến thế kỷ thứ bảy thì bị sáp nhập vào Chân Lạp. 2. Nước Lêm Ắp Trong khi miền đồng bằng sông Cửu Long bị chiếm cứ thì một số người Ấn Độ khác, phần nhiều là những nhà hàng hải hoặc dân di cư từ Ấn Độ và Mã Lai đến chiếm đóng duyên hải miền Trung Việt Nam.

« Ptolémé một nhà địa lý cò Tây phương đã có viết đến tên chữ phạn tương tự tên Lin-Yi (Lâm Ấp) đè chỉ vùng bờ biền Trung phần ngày nay. Điều này chứng tỏ rằng Lâm Ấp đã thành hình từ những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên tây lich ». (3) • Nước Lâm Ắp (sau gọi là Chiêm Thành) ở từ quận Nhật Nam vào cho đến Chân Lạp, nghĩa là ở vào khoảng từ tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị cho đến đất Nam Việt bây giờ. Người Lâm Ấp có lẽ là nòi giống Mã Lai, theo tôn giáo và chính trị Ấn Độ, nước ấy cũng là một nước văn minh và cường thịnh ở phía Nam lúc bấy giờ, nhưng không chắc rõ nước ấy khởi đầu thành nước từ lúc nào. Sách « Khâm định Việt sử > chép rằng : Năm Nhâm Dần (102) đời vua Hòa đế đời Đông Hán ở phía Nam quận Nhật Nam có huyện Tượng Lâm, người huyện (3) Nguyễn Khắc Ngữ - Mẫu hệ Chàm.

Trang sách 86ấy cứ hay sang cướp phá ở quận Nhật .Nam bởi vậy vua nhà Hán mới đặt quan cai trị ở huyện ấy đề phòng giữ sự rối loạn.

Đến cuối đời nhà Hán có người huyện Tượng Lâm tên là Khu Liên giết huyện lệnh đi rồi tự xưng làm vua, gọi là nước Lâm Ấp. Dòng dõi Khu Liên thất truyền, bởi vậy cháu ngoại là Phạm Hùng nối nghiệp. (4) Trong đời Tam quốc, người Lâm Ắp hay sang cướp phá ở quận Nhật Nam và quận Cửu Chân, bởi vậy khi nhà Tắn đã lấy được Đông Ngô rồi, ý muốn giảm bớt quân ở các Chấu Quận, nhưng quan Thứ sử Giao Châu là Đào Hoàng dâng sớ. về tâu rằng « Vua nước Lâm Ấp là Phạm Hùng thông với nước Phù Nam hay sang quấy nhiều ở đất Nhật Nam, nếu lại giảm bớt quân ở Giao Châu thì sợ quân Lâm Ấp lại sang đánh phá ».

Xem như vậy thì nước Lâm Ấp đã có từ đầu đệ nhị thế Các đời vua sau nước Lâm Ấp tiếp tục dàn áp các bộ lạc Thượng, chiếm cứ đất đai của họ, nhất là đời :vua Phạm Văn và liên tiếp mang quân ra Bắc đánh phá.

Đến năm 749 Chư Cát Địa lên ngôi, đồi tên nước là Hoàn Vương và đến năm 875 vua Indravarnan II lên ngôi đồi tên nước là Chiêm Thành. 3. Xung đột giữa Phù Nam, Lêm Áp vê các bộ lạc Cũng như người Mélanésien khi xưa, trước làn sóng xâm lăng của người Ấn Độ, người Indonésien đành lìa bỏ miền đồng bằng và lên vùng rừng núi đề sinh sống tự do và độc lập. Nhiều trận đánh nhau dữ dội đã xảy ra giữa bộ lạc Mạ với Phù Nam, bộ lạc Jarai, Rhadé với Lâm Ấp trước khi các (4) Thực ra dòng Khu Liên không thất truyền, nhưng vì người Lâm Ấp theo chế độ mẫu hệ nên Khu Liên truyền ngôi cho con của con gái mình (5) Trăn Trọng Kim - Việt Nam sử lược.

Trang sách 87bộ lạc thất trận này phải rút lên Cao Nguyên ần náu. Tuy vậy họ cũng không được sống yên n, vì người Phù Nam và Lâm Áp luôn luôn tò chức những cuộc đột nhập vào những nơi định cư đề đánh cướp nô lệ của cải, nhất là sừng nai, gỗ quí. 4. Nhóm Jaral, Rhadé, Roglel Bàn về sự đối kháng một nền văn minh khác lạ tại duyên hải miền Trung, ông B. Bourotte đã viết : « Cũng như ở Phủ Nam, sự hiện diện một nèn văn minh khác lạ ở đây đã đầy về phía rừng xa xôi hiểm bí, những bộ lạc có tinh thần độc lập, không chịu chấp nhận những sự mới mẻ, do đó những thổ dân đầu tiên ở Việt Nam chia ra làm hai nhóm, nhóm trung thành với phong tục tập quán cũ trở về vùng rừng núi sinh sống, và nhóm thứ hai ở lại miền duyên hải (gọi là nhóm Lâm Ấp) đã bị nền văn minh Ăn ảnh hưởng sâu đậm.

" Nhóm bộ lạc sinh sống gần dân Lâm Ấp đã bị dân này ảnh hưởng sâu xa. Nhóm này rải rác từ cao nguyên Gia Lai, Đạc Lắc, dọc theo dãy Trường sơn từ Phú Yên đến Bình Thuận gồm có những bộ lạc Jarai, Rhadé, Roglai, nhóm này có nhiều tính chất Mã Lai.

Trong khi đó ở phía Cửu Long những thổ dân Mélano Polynésien ở lại đồng bằng sinh sống trong khu vực Phù Nam • càng ngày càng khác biệt với bộ lạc anh em ở miền duyên hải. 3. Nhóm Mạ, Stiêng, Mnong, Bahnar, Sédang • Nhóm người thống trị Phù Nam, nguồn gốc Môn-Khơ- Me đã ảnh hưởng nhiều đến các thổ dân bị trị và khi đám dân này lìa bỏ vùng đồng bằng đi sâu vào nội địa để sống tự do hơn thì những tập quán nguyên thủy đã bị thay đồi hẳn : ngôn ngữ và huyết hệ của họ đã đầy sắc tánh Môn-Khơ-Me, khác biệt hẳn với những bộ lạc trước kia rút vào rừng núi hoặc với những bộ lạc bị ảnh hưởng Chàm.

Trang sách 88Những nhóm này chia làm hai :

- Nhóm phía Tây gồm : Che Ma, Stiêng, Mnong hoặc - Nhóm phía Đông Bắc gồm : Bahnar, Sédang, Boloven, Tahoi • (6). 6. Giang sơn người Mạ và Vua Nước, Vua Lửa • Tuy nhiên ở giữa hai vùng do Phù Nam và Lâm Ắp chiếm cứ còn có những vùng riêng biệt của những bộ lạc sơ khai và độc lập.

Sự xâm nhập vào những vùng này rất khó khăn vì địa thế. và phòng thủ » (7).

Những vùng đó là vùng « Giang sơn của người Mạ » và vùng " ảnh hưởng của Vua Nước và Vua Lửa ».

Có lẽ sau nhiều thế kỷ sống dưới quyền cai trị của Phù Nam, bộ lạc Mạ đã rút khỏi vùng đồng bằng Cửu Long đề lên miền rừng núi sinh sống. Họ lập một giang sơn riêng gồm vùng lưu vực sông La Ngà, Vùng Đòng Nai thượng và Đồng Nai trung, vùng Cao Nguyên Di Linh (Cao Nguyên này còn gọi là Cao Nguyên Mạ). / Quá về phía Bắc « Giang sơn người Mạ » là vùng của hai vị pháp sư có rất nhiều ảnh hưởng đến các bộ lạc Jarai, Rhadé, Bahnar và được các thờ dân này tôn sùng là Vua Nước và Vua Lửa. (6) P. Guilleminet — Recherches sur les royaumes des tribus du haut pays d'Annam. (7) Cdt. Nayo — La pénétration française dans les pays Moi.

Trang sách 89IV. Thịi Việt Nam tự chủ và Nam tiến (Thế kỷ thứ 10 - Thế kỷ thứ 19) Chiến thắng Bạch Đằng năm 939 đã chấm dứt 1.000 năm Bắc thuộc, mở đầu kỷ nguyên độc lập cho nước ta.

Ba nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê kế tiếp nhau trị vì, mở mang quốc gia, phá Tống, bình Chiêm nhưng vì thời gian cầm quyền ngắn ngủi (70 năm), đất nước lại chia rẽ nên phải chờ đến nhà Lý, nhà Trần, chính quyền Trung ương được củng cố, sự đoàn kết được thống nhất, xâm lăng miền Bắc bị ngăn chặn, công cuộc mở mang về phía Nam để nối tiếp lại dòng dõi huyết hệ mới được bắt đầu.

I. Tiến chiếm Chiêm Thành Công cuộc Nam tiến khởi sự ở vùng đất của nước Chiêm Thành, dọc theo duyên hải miền Trung.

Năm 106g vua Lý Thánh Tôn tiếp thâu 3 Châu Địa lý, Ma Linh và Bố Chính (nay thuộc Quảng Bình và Quảng Trị).

Năm 1306 vua Trần Anh Tôn tiếp nhận hai châu Ô và Lý (nay là Thuận Châu và Hóa Châu thuộc Thừa Thiên).

Năm 1402 Hồ Quý Ly chiếm đất Chiêm động (nay thuộc Quảng Nam) và đất Cồ Lũy (nay thuộc Quảng Ngãi).

Năm 1470 vua Lê Thánh Tôn chiếm Kinh đô Đồ Bàn, sát nhập đất Đồ Bàn và Đại Chiêm vào Cổ Lũy.

Năm 1611 Chúa Nguyễn Hoàng chiếm Phú Yên.

Năm 1653 Chúa Nguyễn Phúc Tàn chiếm Khánh Hòa.

Năm 1693 Chúa Nguyễn Phúc Chu chiếm Phan Rí và Phan Rang. Từ đó nước Chiêm Thành mất hẳn và cuộc Nam tiến bắt đầu sang phần đất của người Chân Lạp.

Trang sách 902. Tiếp thâu Chân lạp Khởi sự là dân chúng được Chúa Nguyễn Phúc Chu cho vào Mỏ Xoài (nay là Bà Rịa) và Đồng Nai (nay là Biên Hòa) khai phá đồn điền.

Năm 1697 tướng nhà Minh là Dương Ngạn Dịch đem quân sang xin làm dân Việt và được phép vào khai khân vùng Đông Phế (nay là Gia Định) Lộc Giả (nay là Biên Hòa) và Mỹ Tho.

Năm 1708, Mạc Cửu, người Quảng Đông sang Chân Lạp lập nghiệp cùng thời với Dương Ngạn Dịch dâng đất Hà Tiên.

Năm 1756 vua Chân Lạp Nặc Nguyên dâng hai Phủ Tằm Bôn và Lôi Lạp.

Năm 1759 Nặc Ông, cháu Nặc Nguyên dâng đất Tầm phong Long (nay là Vinh Long, Sadec, Tân Châu và Châu Đốc) và Mạc Thiên Tứ (con của Mạc Cửu) dâng 5 phủ Hương Úc, Càn Bột, Trực Sâm, Sài Mạt (nay thuộc Hà Tiên).

Công cuộc Nam tiến phải mất gần 600 năm mới lấy được duyên hải miền Trung mà xưa kia người Lâm Ấp (sau này gọi là Chàm) đã đánh chiếm của Thô dân Mélano-polynésien và gần 60 năm để lấy lại đồng bằng sông Cửu Long mà xưa kia nước Phù Nam (sau này bị sát nhập vào Chân Lạp) đã chiếm cứ, trong khi đó miền Cao Nguyên tuy không bị nước nào chiếm đóng nhưng vẫn cũng bị thiệt hại nhiều vì chiến tranh giữa Chân Lạp và Chiêm Thành.

Năm 1II3 là năm khởi đầu « cuộc chiến oo năm » giữa hai nước trên.

Năm 1123, 1145; 1148 là những năm hai nước đánh nhau dữ dội và Chiêm Thành bị Chân Lạp chiếm đóng. Dân chúng miền Cao Nguyên rất khô cực trong những năm này vì những đoàn quân trên khi đi đánh, lúc rút về, mỗi lần chuyển quân là mỗi lần cướp bóc lương thực của cải, bắt dân làm phu khuân vác.

Trang sách 91Năm 1149 vua Chàm Harivarman đệ nhất nồi lên đánh đưổi người Chân Lạp ra khỏi nước rồi thừa thế tiến đánh các bộ lạc Thượng (tiếng Chàm gọi các bộ lạc Thượng là Kirata) và chiếm miền Cao Nguyên., Đồng bào Thượng do Vamcaraja (anh rế vua Chàm) cầm đầu cầu cứu vua Lý Anh Tông về cuối năm 1150, quân ta xuất phát từ Nghệ An, Thanh Hóa, hợp lực với quân Thượng tiến đánh quân Chàm. Hai bên đánh nhau dữ dội và cuối cùng hai tướng Vamcaraja và Nguyễn Mông bị tử trận.

Quân ta rút vè nước, các bộ lạc Thượng phải hàng phục và triều cống cho vua Chiêm Thành cho đến năm 1471. " Niên hiệu 1150 là niên hiệu quan trọng trong lịch sử các bộ lạc ở Cao Nguyên, niên hiệu này đánh dấu sự chiếm đóng và đô hộ của người Chàm trên một phần Cao Nguyên trong vòng 300 năm ».

Lợi dụng sự chiến thắng vua Jaya Harivaman truy kích người Thượng lên tận miền Thượng du, dọc theo thung lũng sông Năng lên chiếm đóng Đạc Lắc, dọc theo thung lũng sông Ba và sông Ayun lên chiếm cứ khu vực của người Jarai và Rơngao. Ánh hưởng của người Chàm đến các bộ lạc Jarai và các khu vực của Thủy Xá, Hỏa Xá rất lâu dài. Về phía Nam Đạc Lắc ảnh hưởng Chàm lại không có mãy, nhưng đối với các bộ lạc (Blao, Rơglai) ở miền núi từ Phú Yên đến Bình Thuận thì thật là sâu đậm.

Những di tích lịch sử Chàm ngày nay hãy còn được thờ kính rải rác ở khắp Cao Nguyên : tháp Yan Mun, Drang Lai ở gần Cheo Reo, tháp và tường thành Eahleo (Yang-Prong) ở phía bắc Ban Don 40 cây số, những cái rasung batau (thùng lớn để làm lễ rửa) hãy còn ở Banmêthuột, Keu Deu (Ko-Do), dọc theo sông Meteụng, ở phía đông Pleiku và một vài nơi thờ cúng ở vùng Kontum. Sự chiếm cứ có lẽ lan tới tận Veun-Sai (bắc Cao Mên). Ong Henri Maitre còn nghe người ta nói đến những di tích Chàm ở quanh vùng này.

Để cho sự di chuyển và cai trị được dễ dàng, người Chàm cho mở nhiều đường xá. Những nhà khảo sát Pháp tìm thấy

Trang sách 92một con đường đi từ Kontum xuống Quảng Nam mà cho đến . tận ngày nay ta cũng chưa làm xong (1).

Sau khi chiếm đóng được Cao Nguyên, người Chàm tiến đánh Chân Lạp bằng đường bộ và bị thất bại nhưng đến năm sau những chiếc thuyền Chàm đánh chiếm được Kinh đô Chân.

Lạp và biến nước này thành một tỉnh Chàm cho đến năm 118I.

Năm 11go vua Chẵn Lạp đem quân sang đánh lại Chiêm Thành chiếm được Kinh đô Vijaya, bắt được vua Chàm và cải biến Chiếm Thành thành một tỉnh của Chân Lạp cho đến năm 4. Coo Nguyên được giải phóng Năm 1470, vua Chiêm là Trà Toàn mang quân sang đánh phá nước ta. Vua Lê Thánh Tôn đích thân mang quân đi dẹp.

Đầu năm 1473, quân Chiêm bại trận, kinh đô Đồ Bàn thất thủ, Trà Toàn bị bắt, nước Chiêm bị chia làm ba, đắt Đồ Bàn (nay là Bình Định) Đại Chiêm và Cờ Lũy (nay là Quảng Ngãi) được lập thành đạo Quảng Nam. Quân và lính viên chức Chàm cai trị & miền bắc Cao Nguyên vội vàng rút về Khánh Hòa. Thế là miền Cao Nguyên và những bộ lạc Thượng ở trên đó được giải phóng.

Ong Hensi Maitre trong cuốn núi rừng mọi (Jungles Mois) đã tả đến những trận người Thượng đánh đuồi người Chàm ở :

- Biên hồ 7 cây số Bắc Pleiku - Potong 5 cây số Nam Kontum - Thác Yali 15 cây số Tây Kontum.

Sau khi chiến thắng Chiêm Thành, Triều đình nhà Lê lo cải tô hành chánh và đặt quan lại tại những vùng đã chiếm được, riêng đối với miền Cao Nguyên chỉ ấn định một đường ranh giới không cho các người Thượng xuống đồng bằng.

Trang sách 935. Loạn Dó Vách Nhưng người Thượng không tuân theo và hay trốn xuóng đồng bằng cướp phá nhất là trong niững năm đói kém.

Vì thế nện năm 1540 Ong Bùi Tá Hán được bò nhậm vào trấn thủ Quảng Nam, ông là nhà chính trị có tài và là nhà quân sự cương quyết. Ông đã dẹp được loạn • Đá vách » (8) và đưa ra một chương trình xây đựng hữu hiệu như sau : • - Tô chức dinh điền và đồn điền di dân lập ấp trên vùng sơn cước.

- Mở rộng sự liên lạc buôn bán với người Thượng, cho phép thương lái lên buôn, bán trên vùng Thượng.

- Cho phép nông dân và tiều phu lên vùng Thượng làm ăn và sinh cơ lập nghiệp.

- Tiến cử các vị tù trưởng, thân hào Thượng và xin tăn phong cho hai vị phiên vương Hỏa Xá, Thủy Xá.

- Gây ý thức quốc gia, dân tộc cho người Thượng, khuyến khích người Thượng tham gia vào các dịch vụ quốc gia.

- Đặt ra chức giáo dịch người địa phương đề đặc trách trông nom một vùng sơn cước. Mỗi vùng chia ra 4 nguyên, • mỗi nguyên có một cai quan và một số còn quan phụ tá cai trị.

Những cai quan sẽ chọn lựa một số thương hồ để đi lại giao. dịch và thu thẻ trên miền Thượng.

Với chính sách trên, Bùi Tá Hán đã thành công và trong suốt nhiệm kỳ của ông, vùng Nam Ngãi Bình được yên ôn, mối (8) Đá Vách là một bộ lạc Thượng ở vùng Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà thuộc về Nam Quảng Ngải. Hòi xưa danh từ Đá Vách dùng đề chỉ chung cho những đòng bào Thượng thuộc các bộ lạc : Cagiông, Của Sédang, Hst, Bonam, Bahnar,

Trang sách 94giao hào giữa Kinh Thượng được mật thiết và tinh thằn dân tộc bắt đầu thấm nhập vào ý thức dân Thượng (a).

Chánh sách xây dựng miền Thượng của Bùi Tá Hán đã mang lại yên ổn và thịnh vượng chung trong vòng 200 năm, không những ở vùng ông nhiệm trị mà còn được áp dụng suốt từ đèo Hải Vân cho tới Bình Thuận. Ngay trong lúc Trinh Nguyễn phân tranh dữ dội, trong lúc chiến tranh với Chiêm Thành, Chân Lạp xa xôi, miền, Cao Nguyễn phía đông vận được an bình.

Trong khi đó, miền tây Cao Nguyên lại trở nên sôi động và loạn lạc. Người Chân Lạp dần dàn bị mãt ảnh hưởng ở vùng này trước những áp lực của người Lào từ phía Bắc xuống và người Xiêm ở phía Đông sang. 6. Cuộc Nam tiến của Al-Lao Năm 1587, người Lào từ vùng Se-bang-hiên tiến xuống phía Nam chiếm cứ vùng thung lũng Se-don, Se-kong, Se-san.

Những bộ lạc Ta-hoi, Brao, Halang rút sang vùng núi cao, rừng rậm ở phía Đông (phía Việt Nam) sinh sống. Từ Se kong người Lào liền dọc theo sông Se-su tiên vẻ trung tâm địa vực của bộ lạc Halang và chiếm cứ khu vực này, cử quan người Lào sang cai trị thu thuế và bán trâu cho thổ dận bằng những hạt cát vàng mà họ đãi được ở giòng suối. Ảnh hưởng Lào ở bộ lạc này rất sâu xa, và ngày nay người ta vẫn còn thấy ảnh hưởng đó ở trong kiến trúc và tập quán của người Halang.

Quá về phía đông người Lào còn đóng một đồn ở gần Kontum bên hữu ngạn sông Bla. Về phía Nam họ tiến tới Srépok và dựng lên Bandon. Người Sédang nồi tiếng làm dao sắc và tốt nhất ở Cao Nguyên là do sự học hỏi của người Lào.

Đến đầu thế kỷ thứ 17 cuộc Nam tiến của người Lào dừng lại và người Chân Lạp lại có dịp bành trướng ảnh hưởng của

Trang sách 95mình lên Cao Nguyên Đạc Lắc. Trong giai đoạn này (160I) sự liên lạc giữa Thủy Xá và Hỏa Xá với các vua Chân Lạp được nỗi tiếp lại và cứ ba năm một lần hai bên trao đồi phẩm vật ; sự giao hảo này kéo dài tới năm 1860 mới thôi. thế kỷ 17 và 18, miền tây Cao Nguyên lại được Trong hai sống yên ổn trong khi đó miền đông Cao Nguyên, bắt đầu vào thời kỳ loạn lạc rõi ren. 7. Loạn Đá Véch tiấp tuc Đến thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát gặp những năm mưa lụt đói rét người Đá Vách nhiều phen tràn hằn xuống đồng bằng Nam Ngãi Bình cướp phá. Triều đình phái quân đánh dẹp mãi không xong. Chẳng những vậy, nghe đến • Giặc Đá Vách » là quan quân thoái chí.

Mùa xuân năm 176o, Võ Vương bồ nhiệm ông Nguyễn Cư Trinh làm Tuần phủ Quảng Ngãi với trọng trách bình định " Giặc Đá Vách». Mới dầu họ Nguyễn dùng phương pháp phủ dụ nhưng bất thành, bàn đến cách dụng binh thì quan quân cũng như quân sĩ lo sợ vùng Thượng hiếm nguy, khi độc.

Trong cuốn « Sãi Vãi •, một tác phầm được coi là bài Hịch tác động tinh thằn binh sĩ, ông Nguyễn Cư Trinh, đã để nhân vật Sãi nói lên cái tinh thần khiếp nhược của quân dân thời đó.

" Đường Nam phương thấy đó chẳng xa, thì những sợ nhiều " quân Đá Vách »

" Tưởng thôi lạc phách, nhớ đến kinh hòn "

" - Nọ giết người như dễ, như giun ; nọ hại người như " rắn, như rít» • - Đến dâu là tảo trận ; bắt được ắt giết tươi" * --- Đã vào làng cướp của hại người ; lại xuống nội đuồi " trâu bắt ngựa ,

Trang sách 96* Hãy tụ đây nương dựa; chở qua đó làm chi *.

Mặc dầu tinh thần quân dân như vậy, ông mượn nhân vật Vài bày tỏ chí hướng : * - Kinh trung hữu thuyết : • Nhung Địch thị Ưng » * - Ai chịu quyền trọng trấn nhứt phương, nếu không đánh.

" để sau sinh tệ ».

Chí cường quyết đã giúp ông thành công. Ong tiến quân và toàn thắng. Việc đàu tiên của Ông là cho lập « Quảng Ngãi đòn dinh » với sáu đạo binh lo việc canh phòng, lại cho cắt trại, mở đồn điền làm kế ở lâu. Người Đá vách thấy thế hoảng sọ ra đầu thú. Ong vỗ về an ủi và tính kế lâu dài cho họ.

Ông nghiên cứu tường tận nguyên nhân khiến người Đá vách làm loạn, chẳng qua chỉ vì đói khò và bị quan quản đồn trú áp bức. Việc đầu tiên Ông lo lập chương trình giải quyết vắn đề sinh kế cho đồng bào Đá vách, tồ chức lại đồn điền và định cư dân Thượng. Ông không bao giờ hứa suông với đồng bào, mà áp dụng theo lời cò nhân « tri hành hiệp nhất ». Bởi vậy đồng bào Thượng Quảng Ngãi theo về với chính quyền ngày một đồng.

Mùa đông năm 175:, Ong dâng sớ bày tỏ nỗi khô sở của thổ dân và yêu cầu nhà cầm quyền tùy thời đề giữ lòng dân.

Ông nói :

« Dân là gốc nước, gốc không bền chặt thì nước không • được bình yên, nếu ngày thường không gia ân đề buộc lòng " dân, thì khi có việc xảy ra, còn mong nhờ vào đâu được.

« Thiết tưởng chốn dân gian tích lệ đã quá, nếu triều đình cứ " yên giữ thường theo lõi cũ, không tùy thời mà thêm bớt đề " lập kỷ cương, thì một xử còn không trị nồi, phương chi một " nước. Hiện bây giờ tệ chính có ba : một là cắp binh, hai là " nuôi voi, ba là nộp án ; còn biết bao nhiêu những tệ kể sao " cho xiết ».

Trang sách 97Ông còn vạch rõ những tích tệ thời đó và đưa ra chính sách bài trừ : 1. Quan Phủ, Huyện trị dân theo lối cho binh lính, thừa sai, nên không thấu được oan ức, khổ sở của dân, xin bắt quan Huyện, Phủ phải trực tiếp lo lấy các công tác thuế lệ, điền tô liên quan đến dân. 2. Các quan Phủ, Huyện quen sách nhiều dân kiếm bồng, khiến dân đã nghèo lại nghèo khô thêm, xin cắp lương cho quan và ai liêm thì thăng, ai tham thì trị. 3. Xin điều tra sinh hoạt của dân, ai có cách sinh nhai thì , tha cho, tày cách mà vỗ về, bắt nộp thuế, kẻ đói rết cõ cùng thì an ủi họ. 4. Phải làm yên dân, không nên động dân, làm động dần thì nước dễ làm loạn. Xin từ nay, triều đình có phái người đến công tác ở địa phương phải trình giấy cho quan địa phương đề tránh kẻ giả mạo và bất cứ kẻ nào làm mất lòng dân cũng phai trị ngay, như vậy lòng dân mới khỏi giao động.

Tiếc rằng bài sở của Ông dâng lên không được xét đến nên Ong đệ đơn từ chức và cũng vì những tệ tích còn duy trì nên giặc loạn còn kéo dài và càng ngày càng ác liệt. (2) Những làng xóm được thiết lập ở vùng Thượng và cận sơn trong 200 năm • yên ồn khi xưa phải tản cư về vùng đồng bằng. Cho đến 177° Khâm sai Trần Ngọc Chu mới dẹp xong loạn, đầy giặc được về miền núi, củng cố lại các đồn dọc theo ranh giới. 8. Nhà Tây Sơn và căn cứ Miền Thượng Năm 1771 ở làng Tây Sơn trên Cao Nguyên An Khê thuộc Bình Định có Nguyễn Nhạc cùng với hai em là Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ dựng cờ khởi nghĩa, lấy vùng An Khê làm căn cứ địa. Anh em Tây Sơn thường lấy của nhà giàu đem chia cho nhà nghèo, đặc biệt lại hay liên lạc với những bộ lạc Thượng xung quanh giúp đỡ họ về lúa gao đồng thời tạo nên những hành động

Trang sách 98kỳ bí khiến cho những thờ dân này rất kính phục. Dân chúng quanh vùng kề cả Kinh lần Thượng tùng phục một ngày một đông.

Năm 1773 Nguyễn Nhạc dùng mưu chiếm lấy Qui Nhơn rồi sau đó đánh chiếm trọn vùng từ Quảng Ngải cho đến Bình Thuận.

Sử liệu nói rằng « Sợ dĩ quân Tây Sơn tiến nhanh, chiến giỏi là nhờ 3 đạo quân : một đạo gồm toàn người Tàu, một đạo gồm toàn người Thượng, hai đạo này họp thành tả quân và hữu quân, đạo thứ ba gồm toàn người Kinh hợp thành trung quân (9).

Trong những năm phù Lê, diệt Trịnh, chống Thanh đánh Nguyễn, mỗi lần anh em Tây Sơn chuyền quân qua vùng sơn cước đều được đồng bào Thượng tận tình giúp đỡ.

Nhưng tiếc thay việc xây dựng miền Thượng chưa thành vì chinh chiến liên miên và vì, vua Quang Trung Nguyên Huệ mất sớm (lên ngôi vua năm 1788 mất năm 1792) nếu không với tài tò chức và sáng kiến tiến bộ của vị anh hùng Tây Sơn áo vải thì chắc miền Thượng ngày nay đã tiến bộ nhiều.

Khi nhà vua chết rồi, người Thượng vẫn tiếp tục yêm trợ cho các tướng lãnh nhà Tây Sơn, đặc biệt nhất là trong những ngày cuối cùng của giòng họ này đã giúp đoàn quân của hai tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng từ Qui Nhơn vượt Trường Sơn ra Nghệ An đề chống lại nhà Nguyễn : • Vua Tây sơn (đây là vua Cảnh Thịnh, con của vua Quang Trung) đem tàn quân chạy về Bắc, đề Nguyễn Văn Thân ở lại giữ Nghệ An.

Nguyễn Vương phá được quân Tây Sơn ở thành Trắn Ninh rồi đem quân về Phú Xuân. (g) Trần Trọng Kim Việt Nam sử lược.

Trang sách 99Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dùng ở Qui Nhơn được tin quân Tây Sơn thua ở Trấn Ninh, liệu chống không nồi, đến tháng 3 năm Nhâm Tuất (1802) bỏ thành Qui Nhơn, đem binh tướng đi đường Thượng đạo qua Ai Lao ra Nghệ An để hội với vua Tây Sơn mà lo sự chống giữ.

Đi tới châu Qui Hợp Nghệ An đã bị quân nhà Nguyễn lấy rồi, Trần Quang Diệu cùng với vợ là Bùi Thị Xuân về huyện : cả, được mấy hôm Thanh Chương, bao nhiêu quân sĩ đều bỏ thì hai vợ chồng đều bị bắt. Còn Vũ văn Dũng chạy đến Nông Cống cũng bị bắt...

Vua Tây Sơn thấy thế mình không chống giữ được nữa cùng với mấy người bề tôi sang sông Nhị hà chạy về phía Bắc nhưng lên đến địa hạt Phượng Nhữn bị dân ở đây bắt được đóng cũi đem về nộp ở Thăng Long. (2) Vi chính sách trả thù tàn bạo của nhà Nguyễn đối với con cháu nhà Tây Sơn còn lại nên một số người đã trốn lên miền Thượng ần náu và được các thổ dân ở đây hết lỏng che chở.

« Sau khi vua Quang Trung Nguyễn Huệ mất, dòng dõi nhà Tây Sơn bị họ Nguyễn đánh tan, đã lên n náu ở địa vực bộ lạc Sédang và được bộ lạc này hết sức qui mến và bảo vệ ». (9) Trong những ngày đầu khởi nghiệp nhà Tây Sơn đã biết sử dụng núi rừng làm căn cứ địa và nhân dân làm vũ khí chiến thăng nhưng tiếc thay trong những ngày suy vong nhà Tây Sơn đã không biết trở về chốn cũ mà củng cố sự nghiệp để đến nỗi bị thường dân bắt trói, đem nhót vào cũi và bị Chúa Nguyễn cho voi xé, giống dòng bị triệt hạ một cách đau thương. (9) Lavallée - Notes ethnographiques sur diverses tribus au S.E.

Indochinois B.E,F.B.O. 1901

Trang sách 1009. Vua Gia Long và Trắn Man Năm 1804, hai năm sau khi lên ngôi, vua Gia Long mới nghĩ đến việc xây dựng miền Thượng, giao cho một nhóm quân chính tài giỏi thực hiện những điểm sau đây. :

- Vẽ tổ chức : Nhà vua đồi vùng Thượng Nam Ngãi thành một Trấn, lấy tên là Trấn Man như dưới thời Huệ Vương và cấp cho Công thần Nguyễn Công Toạn làm đất phong hàu vì đã có công theo Chúa Huệ Vương bình định vùng sơn cước năm 1773 và nồi tiếng trong một trận phục kích đánh tan cả một đoàn quân người Thượng sau khi đi cướp bóc về và giải thoát được nhiều nô lệ và tù binh.

Cũng như trước, Trấn Man được chia thành 4 Nguyên :

Dà Bòng, Cù Bà, Phu Bà và Ba Tơ và 5 đạo.

- Vẽ quân sự : Hai ông Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Khắc Tuân, được giao trách nhiệm củng cố đường ranh giới, thiết lập những đồn lũy ở những điêm chiến lược. Năm 1819 triều đình lại cử Tả quân Lê Văn Duyệt đặc trách việc xây đắp một trường lũy dọc theo ranh giới phía tây Trấn Man để tăng cường ngăn chặn những sự đột nhập của người Thượng. Lũy này dài 30 cây số chạy suốt từ Trà Bòng qua Sơn Trà, Minh Long, phía đông Ba Tơ thuộc Quảng Ngãi tới vùng Nước Giao, Gò Bùi, thuộc An Lão tới Bình Định. Lũy đắp bằng đất và đá cục, phần nhiều là đá ong cao khoảng a thước dày độ i thước ; ngoài lũy có đào hào và trồng hàng rào cây dọc theo lũy có II5 đồn binh, mỗi đồn có xo binh trấn đóng. Trên thực tế trường lũy này cũng không được hữu hiệu lắm ; ngày nay nhiều nơi đã bị đồ vỡ hoặc bị lấp kín, cỏ cây mọc um tùm nhưng ta hãy còn thấy vết tích lũy ở một vài nơi trên và có ghi trên bản đồ có ghi chú.

- Vẽ xây dựng : Để xây dựng các vùng Thượng, hai Ông Trứ và Tuân đã áp dụng phương pháp như sau :

Trang sách 1011. Tổ chức dạy đồng bào Thượng tập cày bừa và làm ruộng sâu đề định canh định cư. 2. Tồ chức nhiều khu dinh điền và đồn điền, di dân ở các vùng đồng bằng đông đúc đến lập ấp khần hoang những khu dinh điền và đồn điền đó, ngoài mục đích phát triền kinh tế còn để làm gương mẫu cho đồng bào Thượng, Trong vùng có an ninh thì di dân đến lập ấp, và được gọi là dinh điền, tại những vùng thiếu an ninh, chính quân đội tình nguyện và gia đình họ được đem đến, những nơi đó gọi là đồn điền, khi yên tĩnh thì quân đội góp sức với gia đình khẩn hoang canh tác, nhưng khi hữu sự, họ là những binh đội, giữ an ninh cho vùng đất họ chiếm đóng đồng thời họ có bòn phận hỗ trợ tiếp ứng cho những đồn binh gần nhất, và ngược lại những đồn binh này là những quân tiền phong chống giữ cho các đồn đièn hoạt động khi thời bình và kịp chuần bị đối phó khi hữu sự.

Sau một thời gian, dinh điền cũng như đòn điền trở thành những làng định cư để lại tiếp tục tô chức thêm những khu mới cũng nhờ chính sách đó mà ngày nay nhiều khu xưa kia là rừng núi hoang vu nay đã trở thành những làng xóm trù mặt đông đảo trong đó nhân dân đã trải qua hàng bốn năm đời cha truyền con nối. Trong quận Ba Tơ hai xã Ba Au và Ba Thuận là hai khu dinh điền được thành lập dưới triều Tự Đức. (1o) 10. Việc Xiêm xâm lăng và uạn nô lệ ở Cao Nguyên Sau khi chiếm Stung-Treng năm 1814 và Vạn Tượng năm 1817, quân Xiêm tràn vào Cao Nguyên và chiếm đóng một phần rộng lớn : từ đó đồng bào Thượng đã trải qua những năm cực kỳ đau kho và đói kém; dân chúng phải nộp thuế nặng cho quan trên, quà cáp cho quan dưới, những nơi đãi được vàng phải nộp thuế vàng " có làng mỗi đầu người phải nộp 2, 5 (10) Bùi Đình - Đường lên xứ Thượng,

Trang sách 102hoặc 5 hạt vàng to bằng hạt gao ». Cướp bóc như rươi, nương rầy bị bỏ hoang và nguy hiềm nhất là nạn đi cướp người để bán làm nô lệ, quan làm ngơ, lính bất lực, lúc đó mạnh ai người đó sống.

Các bộ lạc hiền lành và yếu kém đều phải di cư : bộ lạc Bahnar rút về phía sông Bla, bỏ lại nhiều đồng ruộng phì nhiêu ở phía nam ; bộ lạc Hàlang chuyện đãi vàng ở dọc bờ sông rút về phía bắc, lên những đỉnh núi của dãy Mang Mrai trú ngự; một phần bộ lạc Rhadé-Kpa trốn vào trong những núi cao ở phía nam hồ Tak lak (Lạc Thiện) chưa kể đến những bộ lạc Chom Puon, Brao ở biên giới Việt-Lào phải ần vào rừng và bộ lạc Biệt ở biên giới Việt-Cam Bốt phải sang tận bờ sông Cửu Long gần Kratié lập nghiệp.

Hai bộ lạc Djirai và Sédang là những bộ lạc hung dữ nhất hồi bẩy giờ chuyên đi đánh các bộ lạc khác để cướp người mang bán làm nô lệ.

Ngoài ra lại còn nhiều bọn cướp chuyên đi bắt và buôn nô lệ, ghê gớm nhất là bọn Jau và Hiau ở Bandon, bọn Thu với 20 lâu lạ người Lào và 10o lâu la người Mnong Preng, bọn Kham Lu với so lâu la người Miến Điện và bọn M'siao ở giữa M'drac và Banmêthuột. 11. Hội truyền giáo Kontum Giữa lúc miền Thượng đang đảo điên vì nạn cướp của bắt người, chiếm đất, huyết chiến giữa bộ lạc này với bộ lạc nọ, thì Đức Giám Mục Cuénot ở tại Bình Định lại có ý định lập một xử đạo ở trung tâm Cao Nguyên đề di cư con chiên bòn đạo lên đó trong trường hợp đạo Công giáo bị cấm đoán và giáo dân bị bắt bớ như dưới triều vua Minh Mạng.

Năm 1852, Đức Giám mục Cuénot cho lệnh hai linh mục Miche và Duclos khởi hành từ Phú Yên lên Cao Nguyên nhưng

Trang sách 103nửa đường bị các lái bắt lại và giải về giam giữ ở kinh đô Huế.

Hai năm sau khi được trả tự do, hai vị này cố tìm đường lên Cao Nguyên, lần đi từ Quảng Ngãi, làn đi từ Quảng Nam, nhưng lần nào cũng bị thất bại.

Năm 1847; thầy Sáu Nguyễn Do đã có công đi theo lái buôn Thượng và tìm ra một con đường nhỏ ở vùng Trạm Gò, phía bắc An Khê ; thầy lại có tài giao thiệp với các thổ dân, nói được tiếng của họ nên lúc nào cũng được họ tận tình giúp đỡ. tân đưn tin tư v Bìn Đn, tnh công việc với Gim mục' Cuếnot và được lệnh hướng dẫn Cha Combes, Cha Fontaine lên Cao Nguyên; làn này nhờ được những kinh nghiệm đã có trong kỳ trước nên toán thầy Do đi xa hơn nữa đến tận vùng Kon- tum : tại đây được viên tù trưởng Bahnar, tên là Kiêm lúc đó đang làm đại diện Triều đình Huế, hết lòng giúp đỡ, nên các giáo sĩ mới dựng tạm một cái chòi ở giữa rừng gần Kon-Kolơng.

Chòi được ngăn làm hai, nửa trước làm nơi giảng đạo, nửa sau làm nhà ở : đó là ngôi thánh đường đầu tiên ở miền Thượng• Chín năm sau, năm 1849, Hội Truyền giáo Kontum mới được chính thức thành lập. Trụ sở lúc đầu đặt tại Kon Xolal rồi đến Kon Kơsâm và sau cùng Kon Rohai. Tại nơi đây đích thân các vị giáo sĩ chặt cây, làm rầy, trồng rau, nuôi gà vịt, học tiếng địa phương và giảng đạo. Cuối năm 1851, các vị này đã đặt được cơ sở vững vàng tại bốn làng ở gằn ngã ba sông Bla và sông Poko.

Năm 1852, Đức Giám mục ở Bình Định thấy thầy Do đã lập được nhiều công nghiệp, nên gọi thầy về cho học thêm đề chịu chức Linh mục.

Năm 1853, chịu chức xong, Cha Do lại tiến tục lên Kon- tum làm việc tông đồ ; năm 1853 cũng là năm cách mạng trong việc canh nông và chiến thắng mê tín trên miền Thượng : đó

Trang sách 104là việc sử dụng trâu để cày bừa. Thời đó cũng như ngày nay ở nhiều nơi trên Cao Nguyên đồng bào Thượng tin rằng loài trâu sinh ra chỉ dùng để làm lễ tế thần và không phải làm những việc khác. • Bắt đầu từ 1856 - 1858 các làng Công giáo được huấn luyện cách thức dùng trâu đề cày ruộng, thật là một thành công to lớn nếu ta thấy sự sợ hãi của đồng bào Bahnar : họ tin rằng Trời sinh ra trâu đề dùng trong các việc tế lễ và Thằn Sét sẽ phần nộ ghê gớm và trừng phạt nặng nề khi thấy giống này bị dùng vào những công việc khác. Cho nên chỉ có những làng theo đạo Công giáo, sau bao nhiêu ngày thuyết phục và chứng minh, mới chịu sử dụng chiếc cày và con trâu ; từ đó ruộng nương bắt đầu được mở mang và những công việc cày cấy thô sơ dăn dần được cải tiến ».

Năm 1854, việc cấm đạo lại ngặt nghèo hơn nữa, các nhà cầm quyền ở Bình Định ra lệnh cho quan quân lên miền Cao Nguyên bắt hết tất cả các giáo sĩ; nhưng đồng bào Thượng không ai chịu làm hướng đạo viên và còn tìm cách đánh lạc đường; toán quân sĩ thường bị bỏ bơ vơ giữa đường rừng, mệt mỏi vì leo dốc xuống đèo, ốm đau cực khô luôn luôn, họ đành rút về miền xuôi.

Năm 1859 khi quân Pháp chiếm Saigon, các nhà cầm quyền lại càng ác cảm với các giáo sĩ Âu Tây và miền Thượng bị phong tỏa rất kỹ lưỡng. Vùng Kontun bị cắt mất đường liên lạc và tiếp tế với miền duyên hải trong suốt 3 năm trời, vừa chịu đựng vừa tiếp tục sứ mệnh của mình, nhiều vị giáo sĩ đã ngã gục vi thiếu thốn và tật bệnh. Đặc biệt giáo sĩ Besombes trước khi quỵ ngã lại còn can đảm lần theo sông Tower xuống vùng đất của người Djarai rất khó thuyết phục để khởi sự truyền giáo.

Năm 1861, chữ Bahnar viết theo mẫu tự La-tinh như chữ quốc ngữ được đặt ra, mở đầu một kỷ nguyên mới về giáo dục

Trang sách 105cho miền Thượng. Người Bahnar là bộ lạc đầu tiên trên Cao Nguyên biết đọc, biết viết và biết làm tính.

Năm 1862, hòa ước Nhâm Tuất mang lại sự tạm yên cho miền ' Thượng, Triều đình công nhận hội Truyền giáo Kontum.

Nhưng đối với bộ lạc Bahnar và các giáo sĩ ở Kontum thì tai nạn chưa hết :* Cũng năm đò, bệnh đầu mùa hoành hành dữ dội và làm chết nhiều người, các thày cúng Thượng kết tội Giáo hội là nguyên nhân sự chết chóc trên và xúi dục dân chúng nồi lên đánh đuồi các. giáo sĩ. Cùng lúc đó, một toán quân Sédang ước lượng độ 400 người từ phía bắc xuống tấn công người Bah- nar trong khi đó người Djarai đã chiếm đóng vùng phía nam sông Bla lại đang ngấp nghé thanh toán nốt phần phía bắc ».

Người Djarai hồi đó rất hiếu động, họ biết làm đồ sắt và biết nấu đồng. Đàn bà con gái biết dệt vải màu trắng, đỏ hoặc chàm. Đàn ông ưra đi cướp phá, bắt dân Bahnar, dân Biệt v.y... bán làm nô lệ và chuyên đi đánh cướp các đoàn tiếp tế từ duyên hải lên Cao Nguyên.

Người Sédang còn hiếu chiến hơn người Diarai, khí giới của họ rất sắc bén, hồi tiếp xúc với người Lào họ đã học được cách thức dùng bể và rèn sắt. Họ cũng chuyện đi đánh cướp nô lệ, ăn gan kẻ thù và khi dựng nhà thì chôn sống một nô lệ ở dưới cây cột chính. Với tính tình hung dữ, chiến đấu can đảm đoàn quân Sédang chắc chắn sẽ đè bẹp và phá tan bộ lạc Bahnar ; may thay cho bộ lạc này, vì dọc đường đoàn quân gặp rất nhiều điềm xấu như chim gù hồ rống và voi gầm, họ quay trở về để chờ dịp khác.

Nhờ có các vị giáo sĩ giúp đỡ nên trong dịp này người Bah- nar đã tụ họp nhau lại tồ chức chiến đấu chứ không phân tán lẻ tẻ và trốn tránh vào rừng như xưa; bộ lạc Bạhnar ngày nay còn đông đúc và đạt được nhiều tiến bộ cũng là nhờ một phần lớn ở các vị pày.

Trang sách 106Nghĩ lại những ngày dãi gió dầm sương, nằm gai nếm mật, vượt rừng leo núi, cầm cự với thú rừng và sốt rét, nếu các vị giáo sĩ không bền gan, can đảm tháo vát, khôn ngoan và có lòng tin thì họ chỉ chết gục trong rừng sâu hay phơi thây trên sườn núi mà chẳng làm nên công chuyện gì ; ngày nay miền Thượng có phần sáng lạn tiến bộ là nhờ những mò hôi, nước mắt tâm trí của những người đi khai phá với tấm lòng thực tâm thương người; họ đã để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm giá trị mà chúng ta cần học hỏi để có thể phục vụ hữu hiệu đồng bào miền núi xa xôi và thiếu kém.

V. Thời Pháp xâm chiếm Viột Nam (1858-1945) Nước Pháp có ý tìm thuộc địa ở Vin Đông. Nhân việc vua Tự Đức cấm đạo và giết hại giáo sĩ, triều đình Pháp hợp lực với Tây Ban Nha sang đánh nước ta, định chiếm Đà Nẵng (1858) nhưng không được, phải kéo vào đánh và chiếm Gia Định (1859). Năm 1861 quân Pháp phá được đồn Kỳ Hòa (Gia Định) liền thừa thế tiến chiếm Định Tường và đến năm 1862 chiếm luôn Biên Hòa và Vĩnh Long.

Triều đình Huế phải cử Phan Thanh Giản vào giảng hòa và ký hòa ước năm 1862, nhường đứt cho Pháp ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường.

I. Vua Tự Đức và Trấn Sơn Phòng Năm 1863, để củng cố hậu phương và chuần bị đòi lại ba tỉnh đã mắt, vua Tự Đức cử Nguyễn Tấn dòng dõi Nguyễn Công Toản, đương làm Án sát Thái Nguyên, một tỉnh trung du Bắc Việt, có nhiều người thiều số Thổ và Mán sinh sống, vào làm Tiều Phủ sứ Trấn Man, Nguyễn Tăn là một nhà quân sự có tài, một nhà chính trị sáng suốt, và một nhà tồ chức giỏi giang có nhiều kinh nghiệm về Thượng.

Trang sách 107Ông đã tò chức Trấn Man lại thành Trần Sơn Phòng bao gồm tất cả vùng sơn cước của Quảng Ngãi, Quảng Nam và Bình Định. Đến năm 1904 Trăn Sơn Phòng mới bị hãi bỏ.

Trăn Sơn Phòng dưới thời Nguyễn Tăn vẫn tiếp tục là đất phong hàu ; khi chết Nguyễn Tấn truyền lại cho con là Nguyễn Độ, rồi đến cháu là Nguyễn Thân. Nguyễn Thân cũng là một quan cai trị xuất sắc ; ông đã đem kinh nghiệm thu lượm được trong công cuộc xây dựng Sơn Phòng Trấn để viết ra tập Phù Man tạp lục (18g1) bằng chữ Hán, trong đó, ngoài những phương châm để hướng dẫn công tác Thượng vận, còn đề cập cả đến những phong tục tập quán cần phải để ý, những đường xuyên sơn từ vùng này sang vùng khác và một số tiếng Thượng thông thường phiên âm thành chữ nôm đề giúp cán bộ trong việc giao dịch với đồng bào Thượng và tìm hiều vùng Thượng Nam Ngãi, có thể nói Phủ Man tạp lục là một tập sách duy nhất về vùng Thượng viết bằng chữ Hán và với Nguyễn Tăn rồi đến Nguyễn Thân, công cuộc bình định cũng như xây dựng vùng những nèn Thượng Nam Ngãi mới được cải tiền và đặt trên tảng vững chắc.

Ong Nguyễn Tắn đã tồ chức Trấn Sơn Phòng theo đường lối sau đây :

- Về phương diện chỉ đạo.

Căn cứ theo Phủ Man tạp lục, đường lõi của Tiểu Phủ sứ chỉ dẫn cho cán bộ các cấp gồm những điểm chính sau đây :

- Hoàn toàn bí mật trong các công tác quân sự.

- Nghiên cứu kỹ càng địa hình, địa vật, đường lỗi giao thông trong khu vực hoạt động.

- Hiều rõ phong tục tập quán và ngôn ngữ địa phương.

- Cương quyết trong việc lãnh đạo, nhưng thận trọng khoan dung trong cách đối xử.

Trang sách 108- Công bằng và triệt để giữ lời hứa.

- Vè phương diện chinh trị - quần sự.

Bộ chỉ huy quân sự và chính trị đặt tại Mộ Đức, với một lãnh binh và hai phó lãnh binh.

Trắn được chia ra làm hai vùng :

- Nghĩa Biên gồm có vùng sơn cước nam Quảng Nam và Quảng Ngãi.

- Định Biên gồm vùng sơn cước bắc Bình Định.

Tiểu Phủ sứ có dưới quyền 3.600 binh chính quy và một số dân quân, chỉ huy 4 đồn lớn mới được thiết lập ở những nơi xung yếu và o đồn nhỏ dọc theo từ Trà My (Quảng Nam) đến Chí Đốc (Bình Định).

Đối với các cấp chỉ huy, những chỉ thị sau đây phải được triệt để thi hành : • Dân Thượng không vua, chúa, không luật pháp, lại ở " trong rừng núi hiểm trở, nên thường hay ngược ngạo, đi " cướp phá. Nếu muốn chế ngự họ, ta dùng biện pháp cứng " rắn thì họ trốn vào rừng sâu, nếu ta mua chuộc bằng tình " cảm họ sẽ coi thường. Nếu ta giết họ, họ mang lòng oán thù " và nếu ta rộng lượng với họ thì họ cũng cho đó là lẽ thường.

« Bởi vậy, người chỉ huy đừng bao giờ có những hành động " nhu nhược, phải có nghị lực, nhiều sáng kiến, phải được " lòng cấp dưới, phải ngay thằng biết thưởng rộng rãi và phạt " nghiêm minh, phải biết tồ chức các cuộc hành quản, thám " sát các trục lộ và các đường mòn, huấn luyện cho binh sĩ * biết sử dụng lao, lá chắn ; dao xùng, súng hỏa mai, súng thần " công, côn, gậy, gươm, giáo thì chẳng dùng làm gì ».

" Phải giữ bí mật các cuộc hành quân, nếu Thượng tấn công ta, phải gặt hết lúa của họ, Nhưng khi họ thua, không được trả thù, phải rộng lượng với họ, cho họ thực phầm, quần áo. săn sóc những người bị ốm đau ».

Trang sách 109• Khi những kẻ nồi loạn, đã chịu lỗi và quy phục ta, hãy tha thứ cho họ những lỗi làm khi trước •. (10) - Vẽ phương diện hành chánh.

Nguyễn Tắn bỏ chế độ giáo dịch, lập ra các Tồng Nguồn.

Dưi mỗi Tổng Nguồn có một số Đầu mục, Đầu mục chỉ huy một vùng bằng một xã hiện nay. Dưới quyền Đầu mục là Sách trưởng (Thôn trưởng).

Bắt đàu từ năm 1887 thì Trắn được chia ra làm 4 châu : (Trà My, Nghĩa Hành, Đức Phồ và Bòng Sơn). Mỗi Châu có một Tri Châu điều khiền và chỉ lo đến vấn đề Thượng. Dưới quyền Tri Châu có các Chánh Tồng và Phó Tổng người Kinh và Tồng Nguồn người Thượng. Các cấp Đầu mục và Sách trưởng vẫn được duy trì như cũ.

« Trai tráng được kiểm tra chặt chẽ và tên tuổi được ghi vào số danh bộ. Đồng bào Thượng trước kia không có họ, chỉ có tên, vì vậy khi lập sò danh bộ trai tráng từ 18 tuổi trở lên, các Chánh Tồng đã ghi vào trước tên riêng của mỗi người một chữ Đinh (tráng Đinh) như Đinh A, Đinh B, v.v... về sau chữ Đinh này đã biến thành họ chung cho đồng bào Thượng vùng Nam Ngãi. Đối với các đồng bào Thượng vùng Bình Phú lại hơi khác : trước tên riêng của mỗi người lại đề thêm một chữ « Man » có ý đề phân biệt với đồng bào Kinh : Man A, Man B, và chữ đó sau này cũng thành tên họ chung của các giống Thượng vùng Bình Phú ».

Khầu hiệu cho các cấp hành chánh được áp dụng như sau :

" Am hiều người Thượng, thận trọng và rộng lượng đối với họ, nhưng phải cương quyết trong vài trường hợp a. (10) (10) Phù Man tap Lục - Revue Indochinoise 1904

Trang sách 110- Vì phương diện thương mại.

Tại mỗi nguồn được thiết lập một chợ đề buôn bán trao đồi những phầm vật gọi là Trường thị. Tại nhiều nơi Trường thị đã bị thất bại bởi vì các nhân viên của Sơn Phòng đã nắm độc quyền buôn bán.

Các lái Thượng ở các vùng xuôi mang cá khô, ghè, đồ sành, vải vóc, vòng đồng, đồ trang sức, nhất là muối và gồng v.v... lên đồi lấy ngà voi, sừng tê giác, sừng hươu, sừng nai, gỗ tràm và nhất là quẽ ở Trà Bồng và Hậu Đức.

Dưới thời Gia Long việc buôn quế được tự do, nhưng đến thời Minh Mạng thấy việc buôn quế rất có lời nhà vua giữ độc quyền và giao cho các Lãnh Mại phụ trách, Lãnh Mại lại giao cho bọn lái buôn Thượng đi vào các vùng có quế thu thập.

Làm nghề lái buôn Thượng tuy rất cực nhọc và nguy hiểm nhưng rất có lời ; thường thường thì lời gắp đôi, riêng về muối lời gấp ba.

- Vè phương diện thuế khóa.

Đề thu phục nhân tâm, khi tới đảm nhiệm chức vụ Tiêu Phủ sứ, Nguyễn Tăn đã miễn thuế một năm và những năm sau bớt đi 120 quan : như vậy các buôn Thượng mỗi năm phải đóng - 1.350 quan. Ngoài ra Tiểu Phủ sứ lại còn ra lệnh mỗi năm nộp thêm 1.200 hộc lúa và một triệu cây mây.

Các Đầu mục và Sách trưởng có nhiệm vụ đi thu thuế và giao cho các Tồng Nguồn và các lái đi thu thập về nộp cho các Tri Châu.

Tuy vậy việc nộp thuế cũng tùy theo khả năng và nhân khẩu các nguồn nhưng việc kiểm soát và trừng phạt rất gắt gao vì những người thu thuế thường hay lợi dụng sự chất phác của người Thượng đề man trá và trái lại nhiều bộ lạc Thượng cũng rất cứng đầu không chịu đóng thuế. Vì vậy trong Phù Man tạp lục có ghi :

Trang sách 111" Nếu người Thượng thực không chịu đóng thuế thì hãy gặt hết lúa của họ, còn thường thường phải đõi xử cho đứng đăn vì họ rất trung thành và thực thà, không bao giờ muốn trốn thuế ». (11) Nhờ đường lối hữu hiệu kể trên, Nguyễn Tán đã thành công trong việc cai trị Trấn Sơn Phòng. Năm 1866-1867 tất cả các bộ lạc Thượng đều thần phục trừ một vài bộ lạc ở vùng rừng sâu phía Tây An Lão (Bình Định) nhưng đến năm 186g thì những bộ lạc cuối cùng đều chịu đầu hàng. 2. Phóp đặt nồn đô hộ tại Việt Nam Trong khi vua Tự Đức đang điều đình để lấy lại 3 tỉnh miền Đông và hủy bỏ hòa ước Nhâm Tuất (1862) thì Pháp tiến sang Cao Miên lập nền bảo hộ (1863) tại nước này rồi quay lại chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây (1867) Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Chiếm xong Nam Kỳ, người Pháp có ý đánh Bắc Kỳ đề thôn tinh cả Việt Nam hầu dễ bề giao thương với Trung Hoa.

Năm 1873 Pháp đánh chiếm Hà Nội, rồi thừa thắng chiếm luôn 3 tỉnh Trung châu : Ninh Bình, Nam Định và Hải Dương.

Hòa ưrớc Giáp Tuất (1874) buộc Pháp trả lại các thành đã chiếm và ta phải nhượng đứt cho Pháp 6 tỉnh Nam Kỳ, mở cửa Thị Nại (Qui Nhơn) và sông Nhị Hà cho người ngoại quốc vào buôn bán.

Việc chiếm Bắc Kỳ vẫn là chủ trương của Pháp, nên lấy cớ đất Bác loạn lạc, Pháp lại cho quân đánh chiếm Hà Nội và Nam Định (1882) ; rồi lợi dụng lúc vua Tự Đức băng hà (1883) và Triều đình Huế rối ren, Pháp cho hải quân đánh chiếm cửa Thuận An và uy hiếp Kinh thành Huế. (11) Phù Man tập lục - Revue Indochinoise 1904.

Trang sách 112Triều đình Huế phải ký Hòa ước Quý Mùi (1883) công nhận nước Pháp bảo hộ Việt Nam, được quyền đặt Công sử ở các tỉnh Bắc Kỳ ; Triều đình chỉ còn thực quyền cai trị từ Khánh Hòa đến Đèo Ngang.

Nhưng Pháp vẫn tiếp tục tiến quân ra ngoài Bắc và làn lượt chiếm đóng Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hưng Hóa và Tuyên Quang.

Hòa ước Quý Mùi được sửa thành Hòa ước Giáp Thân 1884 trong đó ghi nhận:

- Pháp là nước bảo hộ và thay mặt Việt Nam giao thiệp với các nước ngoài.

- Chủ quyền của Triều đình Huế được nới rộng từ Thanh Hóa đến Bình Thuận.

Kè từ đó, nước Việt Nam bị đặt dưới quyền đô hộ cửa Pháp và người Pháp sửa soạn lên tiếp thu Cao Nguyên, đặt những đồn binh và quan cai trị tại đó. 3. Đồng bảo Thượng với cuộc kháng chiến chống Pháp Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ, nhieu nhà ái quốc và nhân dân cả Kinh lẫn Thượng đều nồi lên chống cự. Nhưng vì thiếu chỉ huy thống nhất, thiếu phối hợp chặt chẽ và thiếu vũ khi tối tân, lại thêm một số người Việt đi làm tay sai mật vụ cho Pháp, nên các cuộc khởi nghĩa và các căn cứ kháng chiến của ta dần dàn bị dẹp tan.

Mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp (1862) là ông Trương Công Định, khi đồn Kỳ Hòa thất thủ (186I) ông chay về Gò Công, chiêu mộ nghĩa quân và phát động phong trào kháng chiến.

Cuộc kháng chiến được toàn dân hưởng ứng nhiệt liệt.

Cũng như đồng bào Kinh, đồng bào Thượng tham gia rắt tích

Trang sách 113cực : đồng bào Stiêng ở phía bắc Thủ Dàu Một và Biên Hòa, đồng bào Chrau (Chrô) ở phía Đông Bà Rịa đều đứng lên chiến đấu, họp thành một vòng đai bao vây Saigon ở phía bắc và đông bắc. Họ lấy rừng núi làm căn cử kháng chiến ; lực lượng. của họ lúc ần lúc hiện, lúc đánh lúc lui làm cho quân Pháp rắt hoang mang. Trong cuốn « Những năm đầu tiên ở Nam Kỳ » (12) Vial đã viết : « Từ những rừng rú, ở vùng Thượng, quân lính (cả Thượng lẫn Kinh) ào ra quét sạch các cứ điêm của quân Pháp, rồi làn vào rừng biến mất ». Những hành động du kích này làm cho Đại tá Loubière (Lu-bi-e) ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Đại tá Coquet (Cô-kê) ở Bà Rịa phải điên đầu ; hai Đại tá này phải tốn nhiều thời gian và quân sĩ tăng cường mới đầy lui được các lực lượng kháng chiến về phía rừng sâu và dàn dàn tiêu diệt họ.

Năm 1064, Trương Quyền, con ông Trương Công Định nối chí cha dấy quân chống Pháp. Ong được đồng bào Stiêng và M'nông hết sức giúp đỡ, cung cấp nhiều quân sĩ, lương thực và hướng đạo. Ong Trương Quyền phối hợp với nhà sư tên là Pou Combo (13) tồ chức nhiều vụ đột kích vào những toán quân thù rất hăng hái. Ngày 7 tháng 6 năm 1866 quân của hai ông đã tấn công tỉnh Tây Ninh, giết tên đầu tỉnh này là Thanh tra Larclauze và phục kích giết một Đại tá cầm quân đi ứng cứu tỉnh này, (Ia) Vial - Les premières Années de la Cochinchinc. (13) Theo B. Bourotte thì : " Nhà sư Pou Combo (Pu Công-bỏ) tự nhận là chầu vua Mên Ang-Chan III (1806-1834). Nám 1864-1865 sư này đòi lại ngôi vua, nhưng không được nên nòi lền chóng lại chính quyền. Uy tin của nhà sư bao trùm cả vùng Nạm Cửu Long. Ông hợp lực vứi Trương Quyèn tò chức một đạo quân 2.000 người gòm Mièn (Khơme) Tagal, Việt và Stiêng. Bộ chỉ huy của hai òng đát tại biên giới Việt-Mién ở vè phia đồng nam Snoul 15 cây số. Bị thua ở Kan-chor hai ong rút về khu vực của đồng bào M'nông. Năm 1875 trong cuộc tán công Phom Penh nhà sư bị tỉr trận ở Kien Svai và lực lượng của óng dăn dẫn bị tan rã".

Trang sách 114Sau vụ này, viên Thanh tra Reinhart được lệnh đi càn quét đoàn Nghĩa quân trên và nồi tiếng là ác ón hạng nhất vì tên này đã giết rất nhiều quân và dân ở vùng Trảng Bàng.

Năm 186g, đồng bào Stiêng lại nồi lên lần nữa và đặt căn cử tại phía bắc tỉnh Tây Ninh. Họ luôn luôn chận đánh những đoàn trâu bò từ bên Miên gửi sang tiếp tế cho quân đội Pháp và tổ chức nhiều cuộc đột kích vào những đồn Pháp ở vùng đồng bằng, trước tình hình này, viên Thanh tra Reinhart lar được lệnh mang quân đi dẹp với sự trợ lực của Quản Tắn. Hai tên này lại dỏ trò đã man cũ : cướp hết lương thực, tiêu diệt . tặt cả đồng bào và những làng Stiêng không theo chúng khiến cho một số làng phải về đầu hàng và một số khác phải rút sang Mên ần náu. Chúng tiến sâu vào rừng, đột nhập các căn cứ kháng chiến Stiêng và truy kích lực lượng này đến cùng khiến cho họ phải rút sang. Mên và gia nhập vào lực lượng của nhà sư Pou Combo.

Năm 1885, nước Tàu ký Hòa ước Thiên Tân nhận quyền bảo hộ của Pháp tại Việt Nam, Tướng De Courcy (Đờ Cuộc-xi) từ Pháp mới sang thấy kháng chiến còn hoạt động khắp nơi, bèn đem quân đi tàu vào Huế bắt triều đình ta phải chịu quyền • bảo hộ. Tướng này có thái độ ngạo mạn làm cho triều thần phẫn uất.

Đêm 4-7-1865, Tôn Thất Thuyết ra lệnh tắn công dinh.

Khâm sử và đồn quân Pháp ở Mang Cá ; quân Pháp giữ được thế thủ và đến sáng chúng phản công chiếm được kinh thành.

Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy lên Quảng Trị : röi từ Quảng Trị vua lên Tân Sở truyền hịch Cần vương kêu: gọi mọi người đứng lên kháng Pháp ; khắp nơi văn thân nghĩa: sĩ hưởng ứng nhiệt liệt vì vậy phong trào này được gọi là Phong trào Văn thân hay Phong trào. Cần virơng.

Tại Khánh Hòa và Phú Yên đồng bào Thượng tham gia

Trang sách 115Phong trào rất đông và giúp nhóm Văn thân thiết lập nhiều căn cứ kháng chiến tại miền núi.

Tại Ninh Hòa, năm 1887, ông Gia đứng lên khởi nghĩa, lấy dãy Hòn Vọng phu làm căn cứ và lập nhiều kho vũ khí ở trên miền Thượng.

Ông Mai Xuân Thường cũng lập căn cứ tại Cheo Reo và thường mang quân đa số là người Thượng, xuống Phú Yên đánh phá. Pháp phải mang Công sứ Aymonier (Ay-mô-ni-é), Thiếu tá De Lorme (Đờ Loớc) Trần Bá Lộc và quân lính từ trong Nam ra đánh đẹp. Năm 1887, chúng bắt được ông ta và đem đi giết.

Tại Phú Yên, năm ngoo có cuộc khởi nghĩa của ông Võ Trứ hiệu là « Vua Mọi ». Ong lập căn cứ tại dãy núi Mô Cheo (giữa sông Càu và Đồng Xuân) và tạo được một đoàn quân vào khoảng 1000 người trong đó một nửa là người Thượng.

Đêm 14 tháng 4 ông mang quân tắn công Sông Cầu nhưng bị thát bại. Đầu tháng 5 ông bị bắt trong một cuộc truy kích và đoàn quân của ông dằn dàn bị tan rã vì không có người chỉ huy.

Tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đòng bào Thượng cũng tích cực tiếp tay cho nhóm Văn thân kháng chiến. Họ tham gia rất đông vào nghĩa đoàn của ông Phó bảng Nguyễn Hiệu tục gọi là Hương Hiệu. Năm 1866 ông thiết lập căn cứ tại Trung Lập huyện Quế Sơn (Quảng Nam). Trong các đồng chí của ông có Nguyễn Thân người Quảng Ngãi, con của Tiểu Phủ sứ Sơn Phòng Nguyễn Tán dã dự vào nghĩa hội từ buồi đầu. Sau Thân làm phản, mang hết cả mọi điều hiều biết về tò chức quân cơ và lực lượng của Nghĩa quân cáo tỏ với giặc lấy công. Trước đây Nguyễn Thân đã được làm Sơn Phòng sử nhưng bây giờ y thấy Pháp mạnh nên theo Pháp đề tận diệt Phong trào Cần Virơng.

Ông Hiệu hoạt động được hai năm nhưng bị Nguyễn Thân bày nhiều kế hoạch cho Pháp nên nghĩa đoàn của ông bị đánh

Trang sách 116cin vớ. Tháng 6-1866 ông bị đại bại ở núi An Lâm, nhiều tù mục bị từ trận ; lương thực, tiền bạc, khí giới bị giặc tịch thu hầu hết. Muốn tránh cho đồng bào khỏi bị khủng bố, và vài tháng sau ông ra hàng, bị đóng cũi giải về Kinh và bị kết án tử hình Vài năm sau, Nguyễn Thân được đồi đi nơi khác đồng bào Thượng lại tiếp tục nồi lên chống đối, nhất là ở vùng ranh giới Bình Định và Quảng Ngãi. Tháng 4 năm 1900, Pháp phải cho xây đòn An Lão. Cuộc chống đối vẫn tiếp tục Pháp phải cho xây thêm đồn Ba Tơ, Lang Ri, Minh Long và Nước Vong vào năm 1901. 6. Trên Cao Nguyên cuộc kháng chiến tiáp rục Sau khi nước Cao Mên bị đô hộ, miền đồng bằng, miền duyền hải, vùng cận sơn Việt Nam bị chiếm đóng, người Pháp bắt đầu cho những toán quân lên thám sát và đóng đồn trên Cao Nguyên. Những toán quân này xuất phát hoặc từ duyên hải miền Trung đi lên hoặc từ Cao Mên đi sang.

Năm 1894, hai toán quân Pháp lần theo thung lũng Sông Ba và Sông Năng lên Cao Nguyên Darlac bị đồng bào Mdhur (Mờ-đua) chận đánh nên phải rút về đồng bằng.

Năm 1899, sau khi xây dựng xong căn cứ Bandon, Bourgeois (Buộc-doa) tiến xuống dàn áp đồng bào Rhadé Kpa, khắc phục được a tù trưởng Mewal và Me Kheune.

Năm 1900, Bourgeois lại muốn tiến xuống phía Nam đô hộ nốt đồng bào Bih, chuyên sống về nghè nông, ở dọc theo hạ lưu sông Ana và sông Khô nhưng bị lãnh tụ bộ lạc này là Ngenh cương quyết chống cự.

Ngày 1-3-1900 Bourgeois chiếm được Ban Tur, Ban Trap (14) Tràn văn Sơn - Việt Nam cách mạng cận sử.

Trang sách 117và hai ngày sau thì chiếm được bản doanh Ban Treuah của bộ lạc Bìh, Tù trưởng Ngeuh trốn thoát được vào rừng và kèu gọi toàn dân Bih di cư đi nơi khác : 250 gia đình người Bih dưới sự lãnh đạo của Ngeuh mang theo tất cả của cải, xương cốt của tô tiên đi ngược lên phía Bắc, đến một nơi hoàn toàn hoang vu ở vùng Trụng lưu sông Srepok và định cư ở đó, sống một cuộc đời hoàn toàn tự do.

Năm 190t ở phía bắc Cao Nguyên bùng lên một cuộc khởi nghĩa của đồng bào Sédang (Xe-đăng). Nghĩa quân tập kích giữa ban ngày đồn Psi (Po-si) nằm ở ngã ba sông Psi và sông Poko, đồn này được Pháp lập nên đề ngăn chặn mọi sự liên lạc giữa đồng bào Sédang với đồng bào Halang và Djarai ở phía Nam. Đồn bị đốt cháy, đồn trưởng Robert (Rô-be) bị đâm trọng thương, lính đồn còn lại rút về Kontum ; năm sau, nghĩa quân lại tăn công dồn Nong Pôi, giết đồn trưởng Henri (Hăng-ri) và phục kích giết viên đội Sicre (Xi-crơ) ở Kapeu nhưng đến cuối năm 1902 cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.

Quá xuống phía nam vào hồi tháng 1-1905, lại xảy ra phong trào đấu tranh của đồng bào Bahnar tại Kon Chorah (An-Khê), Pháp phải phái a đại đội khó xanh ở Chợ Đòn đi đàn áp. Một số buôn Thượng chịu hàng phục, một số khác ước lượng 20 buôn ở chung quanh Plei Bring dưới quyền thủ lãnh của tù trưởng Tai nhất định không chịu hợp tác. Bị cắt đưt đường tiếp tế, đoàn quân phải rút về Chợ Đòn.

Đến đầu tháng 1-1907 phong trào đấu tranh lại nồi dậy ở vùng Kon Klọt. Quân ở Chợ Đồn lại xuống đàn áp nhưng nghĩa quân Kon Klot chiến đấu rất kịch liệt bằng tên nỏ và đầy lui được địch. Mặc dầu Tù trưởng Kon Klot bị trúng đạn chết, đồng bào vẫn tiếp tục kháng cự. Sau cùng địch phải rút lui đề lại nhiều xác chết và bị thương trong đó có chủ đồn điền Pak Pan tên là Paris xưa kia đã chiếm không 500 mẫu ruộng của đồng bào ở vùng đó. Vài hôm sau viên Công sứ Bình Định dẫn quân lên đánh Kon Klot nhưng đồng bào đã rút đi nơi khác.

Trang sách 118Tháng 2-1907 Cuénot (Cuy-ê-nô) đại diện Công sứ Bình Định cùng đội Varney (Vác-nây) mang một đại đội đi chinh phục đồng bào Bahnar ở Pleipang ; dân làng ở đây đánh trống báo động, rào làng, cắm chông, bắn tên độc chống cự ; địch triệt hạ được hai buôn, giết độ 30 đồng bào rồi rút về Kontum.

Sang tháng 2 và 3-1908 Varney lại mang quân đến Pleipang, nhưng không dùng súng bắn đồng bào, lại dùng mánh khóe dụ dỗ nên đồng bào chất phác ở vùng này chịu về hợp tác.

Về phía cận sơn vùng duyên hải, tại Quảng Ngãi đồng bào Hré de Tia Cac nồi lên chống Pháp năm 1903. Giám binh Haguet (Ha-ghê) cùng viên đội Founé (Phu-nê) mang quân đi đàn áp. Nhiều cuộc giao tranh xảy ra ở Mang Gia, Nước Vo..

Sang đến tháng 2-1904 nhiều cuộc giao tranh kịch liệt diễn ra ở vùng ranh giới Quảng Ngãi và Bình Định, ở thung lũng sông Nước Dinh.

Sau đó đồng bào Hré tạm rút về vùng núi và đến tháng 4-1907 hàng ngàn nghĩa quân Hré xuất hiện ở gằn Đức Phô.

Pháp lại phái lính khố xanh đến đàn áp. Nghĩa quản chống cự ráo riết, đầy lui được địch, giết được tên đội chỉ huy rồi sau đó rút về vùng núi.

Đến tháng 9-19II, Tổng Ren chỉ huy nghĩa quân Hré lại xuống hoạt động ở vùng Đồng Mít. Địch ở đồn Liệt Sơn kéo ra đánh nhưng bị đầy lui ; sau đó nghĩa quân kéo xuống tấn công đồn Đức Phổ nhưng không chiếm được. Tháng iĩ quân ở đồn Đức Phố mang quân vào cần quét căn cứ của Tồng Ren ở vùng núi An Lão. Nghĩa quân chống cự kịch liệt nhưng cũng bị thiệt hại nhiều. Viên chỉ huy địch quân bị tử trận, địch vội rút về Đức Phồ, từ đó tình hình mới tạm yên.

Quá về phía bắc tại tỉnh Quảng Nam, tháng 6-1905 đồng bào Thượng Katu ở các làng A Sơ, A Yeung, A Bac nồi lên kéo tới đánh phá đồn An Điền (Đại Lộc). Lập tức viến đội

Trang sách 119Férez (Phê-rê) kéo một đại đội khố xanh tới càn quét 3 làng trên. Cuộc hành quân khá chật vật vì địa thế hiểm trở, vì những bãi chông của nghĩa quân khắp dọc đường đi.

Cuộc kháng chiến ở A Sơ rất kịch liệt, nghĩa quân dùng tên nỏ và dáo mác ngăn bước tiến của địch, địch phải rút lui, tiến sang đánh chiếm A Yeung và A Bac trước, rồi hôm sau bằng phía sườn mới đánh chiếm được A Sơ, Férez và một số lính bị trọng thương.

Hai năm sau, tháng 2-1907 đồng bào Thượng Sédang Beer lại nồi dậy, Férez và Sogni (Sô-nhi) lại dẫn lính ở đồn An Điền ngược sông Con tiến vào vùng Beer. Cuộc kháng cự của dân Beer rất mãnh liệt, họ dùng toàn tên nỏ thuốc độc bắn ra. Cuối cùng, Beer bị chiếm đóng. Địch chết và bị thương hơn to tên vì tên và cọc chông tầm thuốc độc.

Năm 1g10, nghĩa quân Sédang lại xuất hiện ở Trà My, huyện Tiên Phước. Suốt tháng 8, Férez dẫn lính đi càn khắp vùng Trà Vian, Tu Nac, Mang Tra giáp giới hạ Lào. Nhiều cuộc giao chiến xảy ra ở Dọc To và Kong Tong. Hai viên đội tây bị trọng. thương. Qua làng Mang Tra, địch bị dân không cho vào. Lính địch phải nhịn đói và không có chỗ nghỉ cho bọn bị thương vì hàm chông của nghĩa quân. (15) Phong trào đấu tranh võ trang của đồng bào Thượng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định khi lên khi xuống, khi mạnh khi yếu, nhưng không bao giờ bị dập tắt.

Tại miền nam Cao Nguyên cũng vậy, mặc dâu quân lính đông, đường sá tương đối không quá xa xôi như ở miền bắc Cao Nguyên mà việc chiếm ,đóng không được bao nhiêu. Cho tới năm 1914, Pháp mới đặt được Nha Đại lý ở Hôn Quản, đóng được đồn ở núi Chứa Chan (1902), núi Bà Rá (1904), Bù Đốp (15) Định Xuân Lâm - Việt sử cận đại VN.

Trang sách 120(I906), An Bình (191I) và mới bình định được một phần ba tinh Biên Hòa.

Nhất là tại Cao Nguyên Trung ương, sau khi, nhà khảo sát Henri Maitre bị ám sát năm 1914 tại Bunor và viên Công sứ tỉnh Kratié tên là Truffet bị giết chết năm 1g15 ở Sré Chi thì tất cả các lực lượng Pháp điều rút về vùng đồng bằng. 3. Pou Trang Lung, anh hùng kháng chiốn Thượng Pou Trang Lung là từ trưởng bộ lạc Biệt. Bộ, lạc này có phong tục tập quán như bộ lạc M'nông nhưng sống ở ranh giới Việt Miên gần vùng Ba-biên-giới và ở bên Miên trong khu vực tỉnh Kratié. Bộ lạc Biệt còn chia làm 2 chi phái :

Biệt Bunu'r ở phía Bắc và Biệt belu ở phía Nam.

Pou Trang Lung là loại người bé nhỏ nhưng mặt rất lớn và tiếng nói vang vang. Người Biệt đồn rằng thú dữ khi nghe thấy tù trưởng Lung la lên là phải lần trốn vào rừng ; ngoài ra, con người này lại có phép biến mặt mình thành mặt hươu (I6).

Người Biệt rất kính sợ Pou Trang Lung và các bộ lạc khác cũng rất kính nề.

Năm 1908, Henri Maitre được lệnh đi khảo sát) miền Kratié và cùng Cao Nguyên Trung ương, vùng này là vùng của Pou Trang Lung. Năm Igıo Maitre đặt một cơ quan hành chánh tại Bou Pou Sra. Sự hiện diện của người ngoại quốc và sự chiếm cứ của người Pháp trong vùng này làm Pou Trang Lung căm giận ; đến năm 1g12, nhân dịp H. Maitre nghỉ phép vắng mặt lính đồn lại đến đốt làng cướp bóc của cải, đập phá ghè rượu và giết vợ con của Pou Trang Lung, vị tù trưởng này liền huy (16) Có lẽ vi Pou Trang Lung là tù trưởng nên thường đeo đò trang sức trên đầu và vẽ trên mặt, nên người Biệt đứng xa trông mặt Lung mới gióng như mặt hươu.

Trang sách 121động các bộ lạc xung quanh đến tắn công, tiêu diệt đồn và nhà Đại lý Bou Pou Sra.

Năm 1g14, H. Maitre lại nhận được lệnh lên đàn áp các bộ lạc nói trên và thiết lập một trung tâm hành chánh mới.

Đến Bou Méra, Maitre đặt căn cứ tại đây và đánh nhiều trận ác liệt khiến cho Pou Trang Lung rất khốn đốn.

Tháng 8 năm đó, Pou Trang Lung lập mưu trá hàng và tổ chức một lễ thần phục tại B. Bunor. H. Maitre được mời đến chứng giám. Đến nơi, thấy đồng bào M'nông xếp vũ khí ở bên ngoài và được yêu cầu để hết vũ khí ở ngoài trước khi vào dự lễ, H. Maitre nghe theo, bỏ khầu súng lục của mình ra và cho lệnh trung đội lính hộ vệ không được mang súng vào, liên khi đó, Pou Trang Lung xuất hiện, ra lệnh giết: H. Maltre và 30 tên lính đi theo.

Tiếp theo đó, Pou Trang Lung đem quân đi giết viên Quận trưởng Miên và lính ở đồn Bou Pou Klia, rồi đến phá tan đồn Bou Pou Thong.

Chiến công của Pou Trang Lung có một tiếng vang rất lớn và được thần thánh hóa ; tất cả các bộ lạc Thượng ở Cao Nguyên Trung ương đều ngả theo Pou Trang Lang và tôn sùng Lung như một anh hùng ; những người Thượng xưa kia làm • tay chân của Pháp đều bị Lung trùng trị nặng nè và những kẻ nào sẵn sàng tiếp tay cho giặc đều bị giết chết.

Từ đó miền Cao Nguyên Trung ương được hoàn toàn tự đo như trước và đây cũng là lần đầu tiên ở trên miền Thượng mới có sự tập họp nhiều bộ lạc như vậy. 15 năm sau Pháp lại mon men lên chiếm đóng miền Cao Nguyên Trung ương, đồng bào M'nông liền giết ngay viên đại úy người Pháp ở Snoul là Gatille vào tháng 5-1931. 2 năm sau vào tháng 1o-1933 đồng bào tiêng lại giết tiếp

Trang sách 122viên khố xanh Morère ở Bà Rá và mở đầu cuộc khởi nghĩa chống Pháp của toàn thề đồng bào Thượng ở Cao Nguyên Trung ương dưới sự lãnh đạo của Pou Trang Lung.

Hồi đó Pou Trang Lung đã 50 tuổi, nhưng cũng còn quắc thước khỏe mạnh, dưới trướng ông ta có độ so người chỉ huy rất cương quyết và giỏi giang, Cuộc khởi nghĩa lan ra toàn vùng rộng 15 cây số từ Động sang Tây và 200 cây số từ Bắc xuống Nam (17). Vì trận địa qua rộng lớn nên việc phối hợp tác chiến không được chặt chẽ và các cuộc tắn công không được đồng nhịp.

Tháng giêng 1934, Nghĩa quận M'nông và Stiêng khởi sự tấn công đồn Bủ coh (cách đồn Bà Rá 35 cây số về phía nam) ; và bao vây đồn Bu Nard (cách đồn Bu-coh 20 cây số về phía nam) cuộc tấn công và bao vây bị đày lui.

Năm sau, vào đêm 4-3-1935 nghĩa quân Biệt bắt thần đến tắn công đồn Le Rolland bên Miên (cách đòn Ba Biên Giới 20 cây số về phía tây bắc) giết được tên lính gác, đột nhập vào được một phần đòn, giết được 5 tên địch và làm bị thương 8 tên khác.

Đêm 30 tháng 3 nghĩa quân Biệt lại đến tắn công đồn một làn nữa, nhưng đồn báo động kịp thời nên đoàn quân phải rút.

Ngày 24 tháng 4 nghĩa quân Biệt tấn công thêm đồn Ga- tille bên Miên cách biên giới Việt 15 cây số và cách đồn Bu- dop 40 cây số về phía bắc, nhưng bị đồn đầy lui.

Năm ngày sau, nghĩa quân Biệt lại tấn công đồn Gatille một lần nữa và chiếm được một phần đồn.

Hai tháng sau vào khoảng cuối tháng 6-1935 quân Pháp tập (17) Cdt. Nayo - La pénétration française dans les pays Mois.

Trang sách 123kích vào bản doanh của Pou Trang Lung, bắt được toàn bộ chỉ huy trong đó có cả Pou Trang Lung và đem ra giết hết.

Pou Trang Lung chết đi, việc đàn áp từng bộ lạc không người lãnh đạo trở nên dễ dàng ; người Pháp lại tự do chiếm đất Thượng khai phá đồn điền và không bị một ai ngăn cản. 6. Người Pháp chiêm đóng Cao Nguyên Trung vang Cao Nguyên Trung ương là một cao nguyên nằm giữa biên giới Việt Miên, về phía Tây Nam cao nguyên Darlac và phía Tây cao nguyên Đàlạt, cao trung bình 60o thước, trừ vùng Ba Biên Giới cao tới 1.000 thước. Cao Nguyên Trung ương gồm hai phần : phần ở Việt Nam gọi là cao nguyên M'nông, phần ở bên Miên gọi là Cao nguyên Chhlong. Đa số dân chúng sống trên Cao Nguyên Trung ương là người M'nông, có một ịt người Stiêng ở phía nam và riêng ở phía tây cao nguyên Chhlong còn có một số người Biệt.

Năm x929 người Pháp muốn khai phá miền cao nguyên để làm đồn điền và mở nhiều đường sá đề bình định cho dẻ dàng. Nhưng việc xâm nhập vào Cao Nguyên Trung ương bị chống cự kịch liệt và việc mở quốc lộ 14 từ Saigon - Ban-mê. thuột - Kontum qua ngả Bù Đóp, bị đánh phá dữ dội.

Tháng 5-1931, Gatille viên đại lý Shoul có nhiệm vụ mở con đường Sré Khtum, La Palkei vào Cao Nguyện Trung ương bị đồng bào M'nông phục kích và giết chết, Năm 1932, Pháp lại cho tiến vào Cáo Nguyễn Trung ương bằng 3 mặt : một mặt từ Sré Khtum ở Miên sang với một đại đội, một mặt từ Ban-mê-thuột xuống với một đại đội và mặt khác từ Bù Đốp lên với một đại đội.

Đến tháng 2-193a, đội quân ở phía bắc xuống lập được

Trang sách 124một đồn ở Bou Dieng Drom, bên sông Dakdam ngay biên giới Việt Miên.

Đến tháng 10-1932, đội quận phía tây sang lập thêm được đồn Le Rolland ở phía bên Cạo Miễn.

Nhưng trong suốt năm 1932, đội quân ở phía nam lên bị chận đánh liên miên ở Bou Mora.

Trước sự tiến quân và đóng đồn của Pháp, đồng bào Thượng liền áp dụng chiến thuật vườn không nhà trống và sang tháng giêng 1933 thì đánh tập kích vào những đồn đó nhưng bị đầy lui.

Sau đó ba đội quân tiến được vào trung tâm Cao Nguyện, lập đồn Ba Biên Giới và đồn Maitre.

Tháng 3-1934 đường mòn Ba Biên Giới và Ban Mê Thuột bắt đầu được xử dụng. Việc thành lập đồn Ba Biên Giới đề thống nhất chỉ huy vùng ranh giới ba xứ Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên . chuyển Nha đại lý Hành chánh Dakdam xuống đồn và việc di Maltre để giúp người Pháp dễ dàng mở những cuộc đàn áp đẩm máu người M'nông, người Dip, người Biệt, người Baheng và chiếm đóng nhanh chóng Cao nguyên M'nông:

Tình hình có vẻ tạm yên, nhưng đây chỉ là bề mặt : một năm sau, vào đầu tháng 4 cuộc khởi nghĩa lại bùng lên mãnh liệt và rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Pou Trang Lung, nhưng chẳng may nhà anh hùng này và số đồng chí chỉ huy bị giết chết nên cuộc nôi dậy bị thất bại ; và từ đó Cao nguyên M'nông và Cao Nguyên Trung ương không xảy ra một cuộc biến động nào quan trọng.

Ngược lại ở miền Bắc Cao Nguyền lại có nhiều dẫu hiệu nồi dậy của hầu hết các bộ lạc Thượng trên đó, • Miến Bắc Cao Nguyên dấy động. (1) Năm 1935, một người Thượng Phú Yên tự nhận mình là

Trang sách 125hiện thân của con Thần Bok Glaih (thần sấm sét đã ban gươm thần cho Hỏa Xá), có tài làm nhiều phép lạ.

Một hôm có tin đồn con dâu của ông này sinh ra một con trăn ; sự ra đời của hiện tượng lạ lùng này báo hiệu thời hoàng kim của đồng bào Thượng đã đến ; không ai phải cày cấy, lúa sẽ đầy đồng và đồng bào Thượng sẽ được tự do, tự mình làm chủ mình không bị người Pháp đô hộ nữa.

Tin đồn này bắt đầu lan truyền ở bộ lạc Djarai, Rhadé röi từ đó lan nhanh đến bộ lạc Sedang, Dié, Hré, Khatư ở phía Bắc và bộ lạc Sré, Mạ ở phía Nam.

Năm 1937 từng đoàn người Hré ở Quảng Ngãi, Bahnar Be. nam ở Bình Định, Koho ở Djiring mang đồ lễ đến viếng thăm :

Mawith, bố của đứa trẻ thần kỳ đó, đáp lễ lại bằng những chai nước suối.

Lợi dụng sự mê tín trên, những người yêu nước Thượng liền nghiên cứu tồ chức một cuộc khởi nghĩa để đuồi người Pháp ra khỏi Cao Nguyên ; họ cho người đi tuyên truyền, bán thứ « nước phép » của Ma Wih, nói rằng ai có thứ nước đó thì sẽ tránh được mọi tai họa, nhưng phải sẵn sàng tuân theo hiệu lịnh của thần do Ma Wih chuyển đạt.

Chờ mãi không thấy lịnh lạc gì cá, đồng bào Sédang, Dié, Bahnar, Bonom, Bahnar Alakong, Hré, liền tự động cắt đứt mọi liên lạc với các nhà cầm quyền Pháp.

Đầu năm 1938, đồng bào Sédang khởi sự đánh các đồn Pháp.

Đồng bào Thượng ở Bắc Kontum, ở Bình Định và Phú Yên liền theo gương đánh phá các cơ sở của thực dân Pháp, tự động đỡt những buôn ở gằn đồn binh và gây ra một cuộc xáo . trộn ghê gớm.

Tiếc thay vì các nhà lãnh đạo chưa chuẩn bị xong và nạn

Trang sách 126nữa) bắt đầu hoành hành nên đói (dân chúng không làm rầy người Pháp đã dẹp mau chóng, những cuộc nồi dậy và mua. chuộc dể dàng những đồng bào ở khu vực đói kém.

Sau vụ khởi nghĩa của Pou Trang Lung ở phía Nam và vụ dấy động về « phép• ở phía Bắc, bị thất bại, đồng bảo Thượng trên Cao Nguyên bắt đầu sống một cuộc đời nô lệ. 7 Những cuộc khảo sát của Pháp trên Cao Nguyên a) Phái đoàn Gautier.

Khi Pháp mới chiếm đóng Nam Kỳ, viên Thống đốc Lo Myre de Vilers ra lệnh cho Trung úy Amédée Gautier (A-mê-đê Gô-chi-ê) đi thám sát vùng biên khu Đông Bắc Nam kỳ.

Năm 1881, Gautier khởi hành từ thác Trị An đi dọc theo sông Đồng Nai. Đến ngã ba sông Dak Honai và sông Da Dung người dẫn đường không chịu đi về phía bắc và còn dẫn Gautier đi về phía đông ; khi tới sông Da Glun, chi nhánh của sông Bé, •thì Gautier dừng lại để khảo sát vùng Bu Đăng (thuộc quận Đức Phong, tỉnh Phước Long và quận Kiên Đức, tỉnh Quảng Đức) và đồng bào Stiêng. b) Phái đoàn Pavie.

Để chuẩn bị chống lại những cuộc gây rối do Xiêm gây ra từ ranh giới nước Trung Hoa xuống tới ranh giới Cao Miên, Au- guste Pavie nhận được lệnh tổ chức những cuộc thám sát địa thế và quân sự, đồng thời vẽ bản đồ Đông Dương. Cuộc thám sát được chia ra làm nhiều nhóm và từng giai đoạn khác nhau.

Riêng về phần Cao nguyên miền Nam thì được chia làm hai nhóm đi vào những năm 18go và 1891, nhóm thứ nhất gồm hai Đại úy De Malglaive và Tunnelet Faber được giao đi nghiên cứu vùng Sébang-biên.

Nhóm thứ hai gồm Đại úy Cupet, Đại úy Cogniard, Trung

Trang sách 127úy Dugast và Thanh tra Garnier có nhiệm vụ đi nghiên cứu vùng Kontum-Pleiku. Garnier khởi hành từ Huế, Dugast từ Đà Nắng, Cogniard từ Qui Nhơn và Cupet từ Kratié : điêm gặp nhau là Kontum.

Toán của Garnier và Dugast đã trải qua bao nhiêu giai đoạn hiểm nghèo mới vượt qua được vùng rừng núi dầy đặc cao ngt.

ở Bắc Kontum và hai bộ lạc nồi tiếng ở trên đó, bộ lạc Kha Tu rất lạc hậu, bộ lạc Sedang rất hung dữ. Tài liệu của toán này rất giá trị và đã giúp ích rất nhiều cho đoàn khảo sát đi mở đường 14 nối dài từ Kontum đi Quảng Nam vào năm 1935 và năm I96o.

Cupet rời Kratié tháng chạp 18go. Chặng đầu tiên là Ban- don. Từ Bandon Cupet đi lên phía bắc, tiến dọc theo sông Ayun và tới Kon-tum. Cuộc thám sát của Cupet được coi là thành công trong việc thuyết phục đồng bào Thượng hợp tác và trong việc ngăn chặn sự chiếm dân của người Xiêm trên phía tây vùng Thượng. c) Bác sĩ Yersin và những cuộc phiêu du ở Darlac và Langbian.

Bác sĩ Yersin người Pháp gốc Thụy Sĩ hồi trẻ làm viên chức tại Viện Pasteur ở Paris, sau làm Y sĩ cho Hãng Message- rie-Maritime và được cử sang Viễn Đông làm trên tàu « Saigon , chạy đường Saigon Hải Phòng.

Tháng 7-18go trong một chuyến tàu cặp bến tại Nha Trang, Bác sị Yersin dự trù một chuyến đi thám sát bằng đường bộ từ Nha Trang lện Cao Nguyên, rồi từ Cao Nguyên về Saigon.

Không tìm được người dẫn đường, ở Nha Trang ông đi bộ vào Phan Rí, rồi từ đó được dẫn lên vùng Djiring. Lúc đó lại vào mùa" mưa, việc di chuyền rất vắt và và mắt nhiều thì giờ nên Bác sĩ Yersin bỏ ý định đi bộ về hướng Saigon, và quay trở lại đi bộ xuống Phan Thiết, đáp thuyền ra Nha Trang đề độn tàu của mình từ Hải Phòng vào.

Trang sách 128Tháng 4-1892, Bác sĩ Yersin lại tổ chức một cuộc thám sát từ Nha Trang sang Stung Treng bên Cao Miên. Chuyến đi này được chuẩn bị kỹ lưỡng nên đoạn đầu từ Nha Trang, Ninh Hòa, M'drao, M'Siao tương đối dễ dàng. Nhưng từ M'Siao (cách Ban Mê Thuột 35 cây số về phía Đông) ông gặp rất nhiều trở ngại khi đi về phía Tây, nên phải vòng xuống phía Nam, đi dọc theo sông Boung, sông Krong Ana, rồi đi ngược lên theo sông Krong để tới Bandon. Tại đây Bác sĩ làm quen với tù trưởng Khoun Ieu Noup (Kun You Non) và được dẫn đi dọc theo Srépok bằng voi đến Long Path ; từ Long Path ông đi bằng xe bò và bằng thuyền đến Stung Treng, cuộc thám sát kéo dài trong 3 tháng, nhưng chặng từ Bandon đến Stung Treng chỉ mất có 12 ngày.

Sang tháng 3-1893, Bắc sĩ Yersin lại mở một cuộc thám sát dãy Trường Sơn từ Nha Trang vào Phan Thiết. Đến ngày 21- 6-1893, Bác sĩ Yersin tới Cao Nguyên Langbian và vô cùng ngạc nhiên khi thấy một vùng trống trải, không khí trong lành, phong cảnh hùng vi. Ông ở lại đây chừng một tháng đề nghiên cứu toàn vùng : Dankia, Ankroet, Arbre Broyé, Bosquet, Dran.

Năm 1899 khi Toàn quyền Doumer yêu cầu Bác sĩ Yersin tìm một nơi làm trung tâm dưỡng sức ở trên Cao Nguyên miền Nam thì Bác sĩ đề nghị Cao Nguyên Langbian và đến tháng 3 năm đó, chính Toàn quyền Doumer đã lên tận nơi quan sát và chấp thuận khởi công xây cất.

Năm 1895, bác sĩ đứng ra điều khiến Viện Pasteur ở Nha Trang, thỉnh thoảng mở những cuộc khảo sát ở Cao Nguyên nhưng chỉ chú trọng về y khoa và canh nông mà thôi.

Đến tháng 3-1943 Bác sĩ Yersin mất tại Nha Trang, hưởng thọ 80 tuổi. d) Nhà khảo sát D'odend'hal.

Prosper D'Odend'hal là một nhà thám hiểm, một nhà cai

Trang sách 129trị và là một học giả của trường Viễn Đông Bác Cồ, D'Odend' hal xưa kia đã thạm gia vào những cuộc thám sát của phái đoàn Pavie.

Năm 1904 D'Odend'hal khởi hành từ Phan Rang đi khảo sát Langbian và Darlac. Sau đó D'Odend'hal dừng chân tại Cheo Reo và tìm cách liên lạc với Hỏa Xá.

D'Odend'hal được Hỏa Xá tiếp đón nồng hậu. Nhưng khi Hỏa Xá mời D'Odend'hal uống rượu và ăn thịt gà, nhà khảo sát bị đau nên từ chối. Sự kiện này làm cho Hỏa Xá nghi ngò và khi D'Odend'hal cố nài nỉ xem gươm thần để viết nốt thiên khảo sát, Hỏa Xá lại càng nghi ngờ thêm nữa.

Sau đó D'Odend' hal lại gửi cho Đồn trưởng Cheo Reo một cái thư, Hỏa Xá chọ là thư xin viện binh nên ra lệnh cho thuộc /hạ dùng lao và gậy giết chết D'Odend'hal : hôm đó là ngày 7 tháng 4 năm 1904.

D'Odend'hal chết đi đề lại rất nhiều báo cáo rất hấp dẫn về phong tục tập quán của bộ lạc Thượng Djarai, Rhadé, và thiên du ký về những đoạn đường đã đi trên Cao nguyên Langbian và Darlac. e) Nhà thám sát Maitre Henri Maitre là một nhà khảo sát rất hăng say, không nè gian khổ và nguy hiềm nên đã đi được rất nhiều nơi khó khăn mà từ trước đến nay ít ai đi tới. Sự nghiệp của Maitre không kém công trình của phái đoàn Pavie.

Maitre lại là một nhà văn có tài, viết rất nhiều và nói tiếng Thượng rất giỏi. Từ khi sang Đông Dương (1905) trong suốt ba năm trời, Maitre leo đèo vượt suối khắp vùng Ban Mê Thuột và các cao nguyên lân cận, đề khảo sát và viết cuốn « Les Régions Mọi du Sud Indochinois » (Những vùng Thượng ở miền Nam Đông Dương). Tác phầm này được giải thưởng Armand Rousseau của Hội Địa Lý.

Trang sách 130Sau đó Maitre lại viết cuốn « Les Jungles Mọi » (Rừng núi Thượng), về đồng bào Thượng ở vùng Ba Biên Giới. Sách dày 580 trang chiếm được giải Pierre Fournier và được các nhà khảo cứu hết sức ca ngợi.

Cho tới ngày nay hai cuốn sách trên hãy còn rất giá trị cho những ai muốn biết về Cao Nguyên miền Nam và muốn tìm hiều đồng bào Stiêng, Biệt, Bih, Preng, Dip, Rekong, Hodrung, M7, Sré, Cop, Hỏa Xá và Thủy Xá.

Ngoài ra Mạitre còn là một nhà cai trị. Năm IgIo, Maitre được giao đi thiết lập hành chánh tại vùng Ba Biên Giới và. trong năm đó Maitre đặt đồn tại Bou Pou Sra, nhưng đến năm 1g12 đồn này bị tù trưởng Pou Trang Lung phá hủy để trả thù cho vợ con bị lính đồn giết. Hai năm sau, Maitre lại được lệnh lên tái lập hành chánh và đàn áp dân chúng tại vùng này nhưng bị Pou Trang Lung lập kế giết đi : lúc đó vào tháng 8 năm 1g34. 8. Việc tổ chức cai trị của Pháp ở Cao Nguyên Hồi Pháp thuộc, chánh sách cai trị Đông Dương đều tùy thuộc một phần lớn các viên Toàn quyền, Khâm sứ. Đặc biệt Le Myre de Vilers, de Lanessan, Doumer, Paul Beau, Pierre Pasquier lại rất chú trọng đến miền Cao Nguyên và mỗi người đều có chánh sách riêng về Thượng. a) Chánh sách Thượng đầu tiên của Pháp.

Chánh sách này do Thống đốc Le Myre de Vilets dt ra năm 138o và giao cho Trung úy A. Gautier đi thực biện từ năm 1881 đến 1885 (xem đoạn trên).

Chính sách này gồm những điểm chính sau đây: 1. Tổ chức những cuộc khảo sát địa thế, phong tục tập quán,

Trang sách 131dân ở vùng đang có cuộc nồi dậy hoặc vùng dự định chiếm đóng: 2. Đóng 1 hay nhiều đòn binh đẻ gây ảnh hưởng và lập một đại diện hành chánh để cai trị vùng đó. 3. Tìm những vùng dân chúng dễ hợp tác, dùng những biện pháp thân hữu để lôi cuốn họ, tránh dùng biện pháp mạnh.

Chính sách này không thu lượm được nhiều kết quả ở vùng đòng bào Stiêng vì bản tính họ rất hung dữ luôn luôn chống đối và ở vùng đồng bào Mạ tương đõi hiền lành hơn nhưng thích tự do nên luôn luôn tìm cách lần tránh. Hơn nữa phong trào kháng chiến chống Pháp lúc đó rất mạnh, nên đồng bào Thượng nhất định không chịu hợp tác.

Tuy nhiên A. Gautier cũng móc nối được một người minh hương tên là Tống Hen, có biệt hiệu là " vua Mọi ». Tông Hen lúc đó 75 tuổi nhưng rất giàu có và có nhiều vợ đẹp. Vợ của y toàn là con các vị chủ làng mà y đã mua với giá rất cao. Các bò vợ của y đều được thường xuyên cung cấp những thực phẩm vật dụng hiếm hoi như muối, vải vóc, đồ trang sức nên đối với y rất trung thành, uy tịn của y lan rộng từ thác Trị An (Biên Hòa tới núi Ông (Bình Tuy) và thượng lưu sông La Ngà (Lâm Đồng).

Tổng Hen rất khôn ngoan, một mặt y vẫn chịu phục tùng các nhà cầm quyền Việt Nam, mặt khác y vẫn liên lạc với Pháp cho nên y vẫn duy trì được nhiều quyền hành trong vùng.

Toàn quyền Richaud với thi nghiệm Mayrena (18) Sử gia khi chép lịch sử miền Thượng, nhà khảo sát khi đi (18) Theo tài liệu của :

- Thanh Sơn - Khảo luận Thượng và Kinh - Nguyệt San văn hóa số 20.

Trang sách 132nghiên cứu đồng bào thiều số, công chức lên phục vụ tại miền Thượng, du khách đi viếng cảnh Cao Nguyên không mấy ai là không biết đến tấn bi hài kịch của một tay phiêu lưu người Pháp tên là Mayrena tự xưng là « Marie đệ nhất, vua xử Sédang».

Mayrena là một tay đẹp trai, khỏe mạnh, bắn nỏ rất hay và đánh kiếm rất giỏi, thông minh và cương quyết nhưng phải tính rất lưu manh, bán trời không văn tự.

Năm 1888, y sang Á Đông để cốt tìm vàng Attopeu hên Lào.

Toàn quyền Đông Dương hồi đó là Richaud thấy hắn lanh lợi bèn trao nhiệm vụ thu phục đồng bào Thượng vùng đó để nước Pháp thừa dịp sẽ nắm lấy quyền cai trị và gạt hẳn ảnh hưởng của nước Xiêm đang chiếm cứ một vài vùng ở miền Thượng.

để làm thuộc địa.

Mayrena được viên Công sứ Qui Nhơn là Lemire giới thiệu với các linh mục ở Kontum, vì thế khi tới Kontum vào tháng 5 năm 1888 y được các vị nầy, nhất là L.M. Guerlach hết lòng giúp đỡ.

Y lên Dakto, trô tài đánh kiếm, bắn tên với đồng bào Sédang và không ai thắng được y. Là một bộ lạc hiếu chiến, nhiều anh hùng tính nay thấy một người gan dạ và tài giỏi đồng bào Sédang liên mến ngay Mayrena và tôn y lên làm vua.

Ngày 3 tháng 6 Mayrena lên ngôi gọi khu vực của đồng bào Sédang là « Vương-quốc Sédang • và lấy hiệu là « Marie đệ nhất, vua nước Sédang ».

Chẳng bao lâu, liên minh Bahnar, Rơngao, Bơnôm ở trung tâm và đông Kontum trước kia được thành lập để chống lại người Djarai cũng chịu thần phục. Toàn quốc được đặt dưới quyền một vị Tề tướng người Thượng do các bô lão cử ra tên Krui.

Vua Marie đệ nhất đặt ra quốc kỳ, cho in những con tem (niêm) mà di tích được trưng bày trong một cuộc triên lãm do

Trang sách 133viện Bảo tàng Khải Định ở Huế tổ chức hồi trước năm 1945:

Ngai vàng và kiệu sơn son của y ngày nay hãy còn đề ở Kontum.

Hoạt động của Mayrena làm cho người Xiêm tức tối và tìm cách ngăn chặn. Khi viên tù trưởng bộ lạc Kayon (bộ lạc này nằm ở giữa bộ lạc Halang và Kasseng) đến viếng thăm Mayrena, lúc về liền bị các viên chức người Xiêm ở Attopeu gây khó dễ và tịch thu tất cả các phầm vật do Mayręna tặng.

Dần dần Mayrena tưởng mình có toàn quyền buôn bán đất đai của vương quốc nên định nhường lại cho một nhóm người Đức. Vè Âu Châu y sống một cuộc đời vương giả và khi thiếu tiền y lừa gạt những người chất phát bán cho họ huy chương, phầm tước, công điền công thổ ở Kontum.

Năm 188g khi Mayrena ở Bi sang, giữa đường được tin Chánh phủ Đông Dương cấm nhập nội và hiện đang bị truy nã, y bèn lần tránh trên một hòn đảo nhỏ tên là Poulo Tioman và chết ở đó.

Viên Khâm sứ Reinhart ở Huế bèn cử viên Công sử Qui Nhơn lên Kontum thu xếp các công việc của Mayrena.

Tháng 3-188g tại Kon-Trang các vị tù trưởng chấp thuận cho viên Công sứ lên ngôi thay thế Mayrena, còn Krui thì vẫn • đứng đầu các liên minh như trước và tới năm 18gs thì vương quốc bị giải tán. ( c) Cải tờ Cao Nguyên.

Sau khi chánh thức đô hộ Việt Nam (Hòa ước Giáp Thân 1884) người Pháp liền áp dụng ngay chánh sách " chia đề trị » và phân nước Việt Nam ra làm nhiều khu vực, mỗi khu vực một chế độ riêng. Vùng đồng bằng có Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, vùng núi có miền Thượng du Bắc Kỳ và miền Cao Nguyên Trung Kỳ.

Trang sách 134Ngày 3-10-1893 Xiêm ký với Pháp Hòa ước Bangkok công nhận chủ quyền của Pháp ở Cao Nguyên An Nam và nước Cao Miên, liền đó, người Pháp sát nhập Cao Nguyên miền Nam vào miền Nam nước Ai Lao.

Ngày 16-10-1893 Khâm sứ Trung Kỳ là Boulloche đề nghị lên Cơ mật viện xin :

- Hủy bỏ chế độ thương mại có tính cách độc quyền tại các vùng Thượng.

-- Hủy bỏ việc thu thuế bằng các phầm vật. ..

- Để người Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các vùng Thượng.

Đề nghị này được nhà vua chuẩn y và từ năm 1899, vùng Thượng miền Nam bắt đầu thuộc quyền bảo hộ của Pháp.

Năm 1900 Pháp lập đồn An Lão trực thuộc hẳn Tòa Khâm sứ Qui Nhơn.

Năm 1901 Pháp dặt một nha đại lý tại vùng Trà My, lập một đồn tại Ba Tơ, sau đó một đồn tại Lang Ri, Minh Long, Nước Vong để lo vấn đè Thượng.

Năm 1904 Pháp dặt đon hành chánh tại M'drac (tây Ninh Hòa) đặc trách vấn đề Thượng tại Khánh Hòa.

Từ đó công việc cai trị được chia ra rõ rệt :

- Chánh phủ Nam triều chỉ còn trông nom những vùng người Kinh.

- Tại vùng Thượng việc cai trị giao cho các Tòa Đại lý hoặc đòn hành chánh trực thuộc người Pháp.

Năm 1905 chế độ Sơn phòng bị chánh thức bãi bỏ.

Tại miền tây Cao Nguyên ngày 22-1I-1904, người Pháp tách Darlac khỏi Ai Lao và trả về cho Việt.

Trang sách 135Ngày 4-7-1902 Kontum và Bandon được chuyển giao lại cho Việt Nam. d) Pasquier và thông tư ngày 30-7-1923.

Theo gương Toàn quyền P. Doumer và P. Beau, viên Khâm sứ Trung Kỳ là P. Pasquier đưa ra một thông tư trong đó ấn định những nguyên tắc định hướng nâng đỡ đồng bào Thượng đồng thời cũng tìm cách ngăn chặn không cho đồng bào Kinh lên miền Thượng lập nghiệp và hạn chế một phần nào thực dân đồn điền đang bóc lột nhân công Thượng.

Pasquier ra lệnh cho các viên Công sứ phải sưu tập những phong tục, tập quán, văn hóa của từng bộ lạc, định cư định canh đồng bào Thượng, huấn luyện cho họ cách thức trồng cây ăn trái, hoa màu phụ và mở những lớp đặc biệt dạy về y tế. Vẻ giáo dtc phải chọn những giáo viên cùng một sắc dân với học trà va đùng tiếng thò dân đề dạy viết đọc, làm tính cùng phong tục tập quán của sắc dân đó.

« Các vị công sứ phải đích thân xem xét đến vấn đề khai khắn đòn điền và ngăn chặn những sự va chạm giữa chủ đồn điền và thồ dân, sự can thiệp đúng lúc không cho chủ đồn điền bóc lột quá mức thổ dân, việc ngăn chặn người Việt lên miền Thượng và việc nâng đỡ người Thượng phát triền chứng tỏ chúng ta không chủ trương đàn áp một sắc tộc nào cả ».

Pasquier lại cho thiết lập rất nhiều đường sả ở Cao Nguyên để nhà cai trị Pháp có thể đi vào các Buôn tiếp xúc với thổ dân và kiểm soát không cho người Kinh lên sinh sống với người Thượng. Tờ thông tư còn nói rõ : « Ở Lang Bian thì sự đã rồi ; ở Kontum cần hạn chế sự khuếch trương của người Việt và ở Darlac chánh sách biệt lập tỏ ra rất phù hợp ».

Pasquier lại lấy vùng Darlac do Sabotier cai trị đề làm mẫu cho các nhà cai trị Pháp ở Cao Nguyên ; khi được cử lên làm

Trang sách 136đại diện ở Darlac (1912) Sabotier liền chủ trương « đất Thượng của người Thượng " và cấm không cho người ngoài vào khai thác.

Chính Sabotier cũng tự coi mình như người Thượng, sống đơn giản, không tiện nghi, không người hầu kẻ hạ. Nói tiếng Rhadé như người Rhadé, lấy vợ Rhadé con vị tù trưởng Kun Yu Nob, xử kiện bằng tiếng Rhadé, Sabotier hy sinh làm việc cho người Rhadé không kể đêm ngày ; từ chương trình học tập cho trẻ em Thượng đến việc xây trường, mở nhà thương, từ việc nghiên cứu mở đường đến việc dựng nhà máy điện, tất cả đều đo Sabotier điều khiển.

Sabotier còn gửi những học sinh Rhadé thông minh đi học nghè như thợ máy, thợ điện hoặc học chuyên môn như canh nông, y tá, giáo viên v.v...

Trong 16 năm trời tận tụy Sabotier đã mang lại cho Darlac .

điện, nước, điện thoại từ Banmêthuột - Bandon, 608 cây số đường và đường mòn, ngăn chặn sự phá rừng, hòa giải các từ trưởng, mang lại cho người Rhadé một niềm hãnh diện.

Nhưng rồi Sabotier cũng phải nhường cho thực dân đồn điền ào ạt lên khai phá đất Rhadé, bóc lột dân Rhadé trong việc làm phu đồn điền và xây dựng sản nghiệp trên xương máu người Rhadé.

Khi Sabotier phải đổi đi nơi khác, sống những ngày cuối cùng cô đơn, túng quẫn thì không được ai nhắc nhỏ đến, ngay cả cuốn Bidué sưu tập tục lệ Rhadé, tập trường ca Densan nói lên vẻ đẹp của thần thoại Rhadé cũng không được một tiếng khen.

Và người ta còn so sánh và khen ngợi sự thành công của chính sách mở rộng ở miền Kontum, nơi đó Thượng và Kinh sống hòa hợp tạo dựng được nhiều tiến bộ tốt đẹp.

Trang sách 137VI. Thời kỳ độc lập 1. Cuộc đảo chánh 9-3-1945 Năm 1940, Pháp bị Đức đánh bại, phải chịu cho Nhật đem quân sang đóng ở Việt Nam, Ai Lao và Cam Bốt đề lập căn cứ đánh Anh Mỹ. Chẳng bao lâu Nhật chiếm nốt cả nước Phi Luật Tân, Thái Lan, Miến Điện, Indonésia và lập ra khối Đại Đông Á.

Đến năm 1945, phe Đức Nhật yếu thế, khối Anh Mỹ năm phần thắng, quân Pháp ở Việt Nam sẵn sàng đợi quân Anh Mỹ đồ bộ để làm nội ứng.

Ngày 9-3-1945, Nhật ra tay trước, lật đỗ Pháp và trả quyền lại cho Việt Nam. Vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ tất cả Hòa ước Việt Pháp ký từ trước. Ông Trần Trọng Kim đứng ra lập chánh phủ Việt Nam độc lập.

Nhưng Nhật vẫn nắm quyền hành, thu thóc gao tích trữ làm cho hơn hai triệu người chết đói, dân chúng rất căm phần sẵn sàng nồi lên ở khắp mọi nơi.

Ngày 19-8-1945, lợi dụng Nhật đầu hàng Mỹ, dân chúng nồi lên cướp chánh quyền. Việt Minh đứng ra lập chánh phủ . dành quyền lãnh đạo. Trong khi đó quân Pháp nhờ Anh giúp đỡ trở lại chiếm Saigon và các tỉnh miền Nam. 2. Pháp tái chiếm Cao Nguyên Tháng 12-1945 Pháp đưa Lữ đoàn Viễn Đông số một lên chiếm Banmêthuột nhưng hị chặn lại ở Buôn Hô và ở dãy núi Chukti cách Banmêthuột 40 cây số về phía Bắc.

Ngày 21-6-1949 Pháp mở một cuộc tấn công lên phía Bắc.

Trong ngày đó Quân Pháp chiếm được Chukti và ngày 23 chiếm Chu Drek (ở Bắc Banmêthuộc go cây số) trên quốc lộ 14.

Trang sách 138Một đoàn quân khác phát xuất từ Bokeo bên Miên bất thần chiếm Thanh Bình trên quốc lộ 1g nối dài, cách Pleiku 30 cây số về phía tây nam và ngày 25 tiến vào Pleiku. Trong ngày đó một cánh quân khác chiếm Cheo Reo.

Ngày 26-6 quân Pháp chiếm Kontum và vài ngày sau chiếm nốt Dakto, Daksut, Dakglé. Cũng trong ngày đó một đoàn quản khác tiến xuống An Khê nhưng bị phục kích dứ dội tại đèo Mang Giang, hai ngày sau An Khê bị chiếm.

Thế là toàn thể Cao Nguyên bị Pháp tái chiếm đóng.

Trưởc cuộc tiến cống như vũ bão của quân Pháp, quân ta lần lượt rút lui để bảo toàn chủ lực ; cuộc kháng chiến của toàn dân Thượng cũng như Kinh khởi sự.

Và trên Cao Nguyên chiến tranh du kích bắt đầu. 3. Cao Nguyễn miền Nam : Hoàng Triều Cương Thổ (1) Đến năm 1949, trước tinh thần chiến đấu của nhân đân Việt Nam, người Pháp phải trả cho Chính phủ Việt Nam cả hai miền Cao Nguyên Nam và Bắc sau thỏa hiệp 8-3-1949. Mặc dầu vậy, người Pháp vẫn muốn bảo vệ quyền lợi của họ trên Cao Nguyên nên cố tình nhãn mạnh vào sự khác biệt giữa Kinh Thượng và yêu cầu Chính phủ Việt Nam ban hành những qui chế đặc biệt cho đồng bào Thượng với sự thỏa thuận của Chính phủ Pháp.

Sau đây là đoạn văn trích trong giác thư đề ngày 8-3:1949 của Tồng Thống Cộng Hòa Pháp Quốc kiêm Chủ Tịch Liên Hiệp Pháp gởi Hoàng đế Bảo Đại, liên quan đến vấn đề trên :

" Đối với các dân tộc không thuộc về giống nòi Việt Nam mà khu vực cư trú lịch sử vẫn ở trên lãnh thổ Việt Nam và (1) Tài liệu của bộ Phát Trièn Sắc Tộc.

Trang sách 139theo truyền thống vẫn qui thuận Hoàng triều, thì Hoàng đế Việt Nam sẽ ban bố những qui chế riêng biệt cho Đại biểu các dân tộc đó. Các quy chế này sẽ ấn định với sự thỏa thuận của Chính phủ Pháp có bồn phận riêng biệt đối với dân tộc thiều số ấy (!). Những quy chế ấy đồng thời phải đảm bảo các quyền lợi tối cao của nước Việt Nam và sự tự do tiến hóa của các dân tộc trong sự tôn trọng tục lệ cổ truyền của họ ».

Trong một bức thư khác cùng ngày, Tồng Thống Vincent Auriol xác định thêm về quy chế đặc biệt : • Về những quy chế đặc biệt sẽ ban hành cho những dân tộc tuy không phải là Việt Nam, nhưng từ xưa đến nay vẫn sống trên lãnh thổ Việt Nam, Chính phủ Việt Nam mỗi khi ban bố hay thay đồi quy chế ấy phải thỏa hiệp trước với Chính phủ Pháp quốc Cộng Hòa ». •Trong văn án của những quy chế đó, những thể thức thi hành sẽ định rõ cho đôi bên. Chính phủ Pháp không có ý đặt quyền quản trị Chính phủ Việt Nam dưới một kiềm soát riêng biệt nào ».

Trong phúc điệp cùng ngày 8-3-1949, Hoàng đế Bảo Đại thỏa thuận các điều khoản trong các giác thư trên và đề thi hành, ngày 15-4-1950, Quốc Trưởng Bảo Đại ra đạo dụ số 6 tổ chức vùng Cao Nguyên thành hai Hoàng triều Cương thô Bắc và Nam đặt dưới quyền quản trị của vị Khâm Mạng Hoàng triều Cương Thô. Người Kinh lên Cao Nguyên vẫn bị hạn chế đến mức tối đa.

Theo điều 2 Sắc lệnh số 3 ngày 25-7-1950, các tỉnh Darlac Đồng Nai Thượng, Lâm viên, Pleiku và Kontum họp thành một địa phận hành chánh riêng biệt gọi là miền Nam thuộc Hoàng triều Cương thò dưới quyền một Ủy viên Đức Quốc Trưởng và đặt dưới quyền Toà Khâm Mạng do một vị Khâm Mạng quyền hành, một Quốc Vụ Khanh trông coi,

Trang sách 140Ngày 21-5-1951, Quốc Trưởng Bảo Đại ra đạo dụ số 16/QT TD ban hành một quy chế riêng cho các sắc tộc Thượng tại Cao Nguyên Miền Nam. Quy chế này gồm các điều khoản như sau :

I) Tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào Thượng. 2) Tôn trọng các vị Tù trưởng, bô lão, những người có uy tín trong giới đồng bào Thượng và hướng dẫn những nhân vật này vào việc điều hành các cơ sở Hành chánh, Chính trị, Tư pháp trên Cao Nguyên. 3) Tổ chức Tòa án phong tục Thượng ; các vụ ản liên quan giữa người Thượng và Kinh hoặc đối với người Pháp sẽ do Tòa án hỗn hợp xét xử. 4) Thành lập một hội đồng kinh tế để phát triền kinh tế trên Cao Nguyên. 5) Quyền chủ đất Polăn được tôn trọng ; cac vụ mua, thuê bán đất đai của đồng bào Thượng được nhà càm quyền hành chánh giải quyết theo phong tục tập quán Thượng sau khi hội ý với vị Tù trưởng địa phương. 6. Chính phủ nghiên cứu và yếm trợ các kế hoạch phát triển Y tế, Văn hóa, Xã hội trên vùng Thượng để nâng cao đời sống đồng bào Thượng. 7. Thổ ngữ được dùng làm căn bản cho việc giáo dục ở bậc Sơ và Tiếu học ; Việt ngừ và Pháp ngữ được coi là phụ. 8. Đào tạo cán bộ Thượng các ngành Quán sự, Y tế, Hành chánh và Giáo dục cung ứrng cho nhu cầu địa phương. 9. Việc thi hành quân địch không áp dụng gắt gạo với đồng bào Thượng và các binh sĩ Thượng được tổ chức thành những đơn vị Sơn cước, ưu tiên phục vụ tại Cao Nguyên.

Nhìn chung bản Quy chế này đáp ứng phần nào nguyện

Trang sách 141vọng của đồng bào Thượng nhưng khuyết điểm là không nói lên được sự hiện hữu của các sắc tộc thiều số trong cộng đồng Việt Nam.

Chế độ Hoàng Triều Cương Thồ đặt Cao Nguyên thành đất tư của Hoàng Triều, người Kinh lên lập nghiệp vẫn bị hạn chế đến mức tối đa. Do đó, giữa. Kinh và Thượng bị phân hóa trong hơn nửa thế kỷ vẫn còn có sự ngăn cách, không có dịp giao tiếp thông cảm dìu dắt nhau tiến bộ, chung sức xây dựng đất nước. 4. Chính phủ Ngõ Đình Diệm và đồng bào Thượng.

Vừa lên cầm quyền, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm yêu cầu Quốc Trưởng hủy bỏ Hoàng Triều Cương Thò. Đề nghị được chấp thuận, ngày 11. 03. 1955 Quốc Trưởng phê chuẩn đạo Dụ số 21 sát nhập các vùng Cao Nguyên miền Nam và miền Bắc vào lãnh thổ Quốc gia Việt Nam và đặt hoàn toàn thuộc quyền quản trị của Chánh phủ Quốc Gia.

Phải thành thật công nhận rằng quyết định trên là một thắng lợi lớn lao của nhân dân Việt Nam. Toàn dân Kinh cũng như Thượng đều vui mừng bởi sự ngăn cách không còn nữa.

Kinh Thượng bình đẳng, nhất trí, cùng nhau kiến thiết lại đất nước sau hàng thế kỷ nô lệ và chiến tranh. Ngay từ ngày chế • độ Hoàng Triền Cương Thồ được bãi bỏ, đồng bào Thượng hân hoan mở rộng cánh tay đón tiếp hàng vạn người di cư, những người anh em ruột thịt lên Cao Nguyên. Tình huynh đệ Kinh Thượng gắn bó tưởng không bao giờ chia rẽ được.

Điều 2 của Đạo Dụ số 21 vừa kề nói rằng : « Něn tồ chức Hành chánh các vùng nói trên, cùng quy chế riêng của các dân tộc có phong tục khác người Việt Nạm cư trú tại các vùng ấy, sẽ ấn định do những Dụ sẽ ban bố sau ».

Về tô chức Hành chánh, Tòa Đại biều Chánh phủ được thành lập thay thế cho Tòa Khâm sử, các tỉnh được lập thêm, phần

Trang sách 142chia lại ranh giới v.v... nhưng còn quy chế riêng cho đồng bào Thượng có phong tục khác người Kinh, không thấy đề cập tới.

Chẳng những vậy, Chính phủ Diệm còn áp dụng những biện pháp như :

- Phủ nhận quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng, - Không tiếp tục yêm trợ cho việc điều hành các tòa , án phong tục tập quán.

- Hạn chế việc dạy thổ ngữ Thượng v.v...

Thêm vào đó :

- Chánh quyền lại thiếu biện pháp giáo dục đồng bào di cư lên Cao Nguyên nên họ đã đụng chạm nhiều đến phong tục tập quán của đồng bào Thượng.

- Trong số đồng bào di cư nhất là những đợt sau có một số thuộc thành phần bất bảo hoặc cựu cán bộ Việt cộng mà làng xã không muốn chứa chấp. Chính bọn này đã gây nhiều sự phá hoại cho tình đoàn kết Kinh Thượng.

- Chính quyền lại không nâng đỡ những trí thức Thượng.

Họ không được giao phó những chức vụ quan trọng và không được hưởng quyền lợi tương xứng.

- Cơ quan địa phương không chịu giải quyết mau lẹ những nỗi khó khăn của đồng bào Thượng, lại lợi dụng sự hiền lành chất phác của họ để bóc lột.

- Một số ngoại nhân có công khai phá miền Cao Nguyên, thấy quyền lợi của mình càng ngày càng bị thu hẹp hoặc mới đến Cao Nguyên thấy đồng bào Thượng bị chèn ép, thiệt thòi bèn xúi dục họ đứng lên đấu trạnh.

- Một số Việt Cộng lợi dụng sự bất mãn của đồng bào Thượng mở những cuộc tuyên truyền chống chánh phủ và đào sâu sự chia rẽ Kinh Thượng.

Vì những nguyên nhân trên, nên một số nhân sĩ và trí thức Thượng đã đứng lên phản đối : Phong trào Bajarak (xuất

Trang sách 143xứ từ tên 4 Sắc tộc lớn trên Cao Nguyên Bahnar, Jarai, Rhadé, Koho) nhen nhúm năm 1957 và bộc phát vào tháng 8 năm 1958 Để giải quyết vấn đề, Chánh phủ cho giam giữ những nhân vật lãnh đạo phong trào, phân tán những công chức, quân nhân Thượng về miền xuôi. Tuy phong trào Bajaraks năm 1958 bị tan rã, nhưng phong trào này đã làm cho Chánh phải xét lại chủ trương đường lối và lưu ý nhiều hơn tới nguyện vọng của đồng bào thiều số. Nhằm xoa dịu phần nào bất mãn của đồng bào Thượng, Chánh phú cho thành lập Nha Công tác Xã hội miện Thượng và ban hành một bán chính sách Thượng.

Nếu đem so sánh bản chính sách Thượng trên của chính phủ Ngô Đình Diệm với bản • Phương hướng và nội dung công tác văn hóa, văn nghệ miền núi » của Bắc Việt thì ta thấy rằng :

Tổng Thống Diệm đã đi trước Bắc Việt tám năm khi đề ra chính sách Thượng vụ trên.

Nội dung bản « Phương hướng và nội dung công tác văn hóa, văn nghệ miền núi » do Bắc Việt phồ biến năm 1965 không khác với chính sách của chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1958 có chăng chỉ là luận điệu giải thích theo đường lối Cộng Sản và vận động đồng bào Thượng vào mục tiêu chiến tranh ». (2) Công bình và thành khần giở lại chồng văn thư, chỉ thị cũ liên quan đến chính sách Thượng của chính phủ Ngô Đình Diệm ta thất có rất nhiều thiện chí mong muốn xây dựng cho đồng bào Thượng một đời sống tiến bộ. Phủ Tồng Thống và Văn phòng Cố vấn Thượng vụ có rất nhiều chỉ thị để cán bộ phải lưu ý đến việc nâng cao đời sống của đồng bào Thượng và phải rất thận trọng, tránh va chạm đến tín ngưỡng, đến phong tục tập quán của người Thượng, phải vận động các thân hào nhân sĩ Thượng để hướng dẫn đồng bào Thượng tham gia công cuộc cải tạo xã hội v.v... Tuy nhiên, cán bộ thừa hành đã không làm đúng chỉ thị (2) Paul Nur - Sơ lược về chính sách Thượng vụ trong lịch sử Việt Nam,

Trang sách 144và cốt làm cho lấy nhiều, lấy xong đề làm hài lòng thượng cấp nên bất chấp cả những hành động gây bất mãn, thù oán trong lòng dân Thượng. Từ bất măn với cán bộ đến bất mãn với Chính phủ không bao xa.

Sau khi phong trào tự trị 1958 bị tan vỡ Việt Cộng tiếp tục lợi dụng sự bất mãn của đồng bào Thượng với Chính quyền, đưa cán bộ vào Nam phối hợp với cán bộ nằm vùng vận động cho Phong trào Tây nguyên Tự trị.

" Một số cán bộ Thượng có uy tín tập kết ra Bắc được đưa trở vào Nam và cho giữ những chức vụ quan trọng như :

- Y Bih Aléo, Phó Chủ tịch Mặt trận giải phóng Miên Nam kiêm Chủ tịch Phong trào Tây nguyên Tự trị.

- Y Jonh Nié K'Dạm, có tin được thăng Thiếu Tướng trước khi trở vào Nam với nhiệm vụ tổ chức du kích quân trên Cao Nguyên.

Một số nhân vật chính trị và quân sự Thượng cộng khác cũng thấy có tên trong những truyền đơn kêu gọi đồng bảo Thượng như Y Bih - Y Thang Nié - K'Dam, Nay Der, Y Phong trào Tây nguyên Tự trị tại Cao Nguyên miền Nam tái xuất hiện vào cuối năm 1959. Trong cuộc vận động cho phong trào này, Việt Cộng đã huấn luyện cán bộ xử sự trong tinh thần tôn trọng Phong tục tập quán ngôn ngữ của đồng đào Thượng học tiếng Thượng, thay đổi trang phục như người Thượng để hòa mình vào sinh hoạt của đồng bào Thượng. Một số cán bộ của chúng lấy vợ Thượng. Chúng còn đưa một số thanh niên Thượng đi huấn luyện và hoạch định những chương trình dạy chữ cho đồng bào, khuyến khích bãi bỏ những điều mê tín, hướng dẫn cải cách sinh hoạt, tăng gia sản xuất v.v... Ngoài ra, từ năm 1958, Việt Cộng còn tổ chức đưa từng đợt 50 người Thượng tuổi từ 2o đến 50 ra thăm miền Bắc.

Trang sách 145Bắc việt tin rằng những nhân vật trong phái đoàn thăm hải cò động cho Chính thể viếng này khi trở về làng sẽ hằng Cộng Sản và yếm trợ cho Việt Cộng tại miền Nam.

Kết quả là với chánh sách vừa kề, vào cuối năm 1959, Việt Cộng đã tổ chức được từng loạt những cuộc chạy núi. Nhưng chỉ một năm sau đồng bào Thượng tỉnh ngộ, vì trước những cuộc hành quân qui mô của quân đội và các kế hoạch bao vây kinh tế hữu hiệu của chánh quyền miền Nam, Việt Cộng lâm vào tình trạng quản bách, thiếu hụt lương thực quay ra bóc lột dân chúng, khiến đồng bào Thượng nhận rõ ngay bộ mặt phỉnh phở và chính sách phi nhân, phi dân tộc của chúng. Năm 196ị, Việt Cộng phải dùng võ lực đề tồ chức các vụ chạy núi, và cũng vì vậy, cuối năm 196I đã có những cuộc di cư ty nạn Cộng Sản của đồng bào Thượng, sang năm 1962, cuộc di cư ty, nạn trở thành một phong trào ». (2) Sau Cách mạng người ta lên án Ngô Đình Diệm là chủ trương đồng hóa người Thượng, nào là bãi bỏ Tòa Án phong tục Thượng, cấm dạy thổ ngữ Thượng v.v... Thực ra Chính phủ Diệm chỉ có một sai làm là phủ nhận quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng, thiếu chuần bị tư tưởng của quần chúng Kinh và Thượng khi thực hiện những cuộc di cư lên Cao Nguyên nên đã gây ấn tượng không tốt đẹp cho đồng bào Thượng. Còn Tòa Án phong tục, thật ra cho đến năm 1965 Tòa ấn Phong tục Thượng tại Darlac vẫn hoạt động, việc dạy thổ ngữ Thượng chỉ thiếu người dạy chứ chính quyền không cấm đoán. 5. Chính sách Thượng vụ của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa sau Cách mang 1-11-1963.

Sau Cách mạng, các Chính phủ kế tiếp từ Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ đến Chính phủ Phan Huy Quát, ít nhiều đều lưu tâm đến vấn đề Thượng vụ:

- Các lãnh tụ Thượng bị giam cầm từ 1958 được trả tự do và được giao phó cho những chức vụ quan trọng.

Trang sách 146- Nha Công tác Xã hội miền Thượng được cải tiến thành Nha Đặc trách Thượng vụ.

- Nhiều cuộc Đại hội, Hội thảo giữa nhà cầm quyền và đại diện các Sắc tộc Thượng được tổ chức để thăm dò nguyện vọng của đồng bào Thượng. Do đó một chính sách Thượng dựa trên căn bản Kinh Thượng bình đằng và đoàn kết thực sự tôn trọng phong tục tập quán và nâng đỡ đồng bào Thượng được Thủ Tướng Nguyễn Khánh ban hành ngày 17-10-1g64. Chính sách này cũng hoạch định một chương trình nâng đỡ đồng bào Thượng trên mọi địa hạt hành chánh, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tuy nhiên những năm đầu tiên sau Cách mạng, đất nước chúng ta lâm sao tình trạng chia rẽ, hỗn loạn chưa từng có, ngoài tiền tuyến áp lực quân sự của địch ngày một gia tăng, nên các Chính phủ vừa kề chưa thực hiện được những điều đã hứa.

Đột nhiên đến ngày 20-9-1964 do sự xúi giục của Fulro lực lượng đồn trú tại Sarpa, Buprang, B. Miga (quận Đức Lập, tỉnh Quảng Đức), B. Briêng (quận Buôn Hô, Darlac) nồi loạn chiếm đồn Ba Biên Giới, quận Đức Lập, đồn Srépok, cầu 14, đài phát thanh Banmêthuột và bắt giữ O. Y Bham Enuôl. 28.g Chính phú tơg quyt dra Sarpa là củ đinm nủối Nià, đầu hàng : Lực lượng Fulro còn lại rút về biên giới Việt Miên, đem theo Ong Y Bham Enuôl và lập căn cứ tại trại Le Rolland thuộc Cam Bốt, cách biên giới Việt vào khoảng to cây số.

Fulro là chữ tắt của • Front Unifié de lutte de la race opprimée » dịch là Phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức.

Phong trào này gồm 3 thành phần " 1. Mặt trận giải phóng Cao Nguyên miền Nam (Front de

Trang sách 147la libération des Hauts Plateaux du Sud Việt Nam) gồm một số người Thượng. 2. Mật trận giải phóng Cao Nguyên xứ Chàm (Front de la libération des Hauts Plateaux du Champa) gồm một số người Việt gốc Chàm. 3. Mật trận giải phóng xứ Cao Nguyên Hạ (Front de la liberation du Kampuchéa - Krom) gồm một số người Việt gốc Miên.

Thực ra phong trào Fulro chỉ có tên thôi, chưa có người lãnh đạo và chưa có lực lượng mạnh mẽ gì cả. Sau cuộc bạo động tháng 9 lực lượng Fulro mới thành hình và bầu Y Bham Enuôl làm Chủ tịch.

Đâu năm 1965, tình hình quân sự trở nên rất nghiêm trọng, quân đội Bắc Việt xâm nhập càng ngày càng nhiều, càng công khai. Việt Cộng tấn công các cơ sở quân sự và hành chánh càng ngày càng mãnh liệt.

Trước sự nguy vong của dân tộc, tháng 6-1965 quân đội phải đứng ra đảm nhiệm vai trò lãnh đạo quốc dân và từ đó tình hình đất nước mới được ổn định.

Riêng về mặt công tác Thượng, Chính phủ do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ lãnh đạo đã tuyên bố trong bản tuyên cáo ngày 02-8-1965 như sau :

" Chính phủ long trọng xác nhận ý chí sẽ tiếp tục thực hiện những điềm trong chương trình đã thỏá hiệp với đại diện các Sắc dân Thượng tại Pleiku hồi tháng 10-1964 ».

Sau đó ngày 23-8-1965 một phái đoàn Fulro do Ông Y Dhé Adrong cầm đầu được cử về Banmêthuột đề liên lạc và thảo luận với chánh quyền tìm giải pháp cho anh em Fulro trở về hợp tác.

Trong khi đó, ngày 12-12 lại xảy ra một cuộc bạo động

Trang sách 148thứ hai ở quận Phú Thiện thuộc tỉnh Phú Bồn do một nhóm quá khích Fulro là Y Dhơn Adrong, Y Nim Hmook (cả 2 là cựu giáo viên) và Y Nam Eban (cựu Thiếu Uy lực lượng đặc biệt) chủ trương. Cuộc bạo động này gây cho 32 người thiệt mạng, và 26 người bị thương và bị quân đội dẹp tan ngay.

Liền sau đó một đại hội Thượng Kinh được tổ chức tại Kontum ngày 12-2-1966 có các nhân sĩ Thượng tham gia lên án gắt gao nhóm quá khích đã gây nên cuộc bạo động và thỉnh cầu Chính phủ tiếp tục tiếp xúc với phái đoàn Fulro.

Để đầy mạnh công tác Thượng vụ, ngày 12-2-1966 Chính phủ nâng Nha Đặc trách Thượng vụ lên thành Phủ đặc ủy Thượng vụ và ngày 17-10-1966 một đại hội khác được tổ chức. tại Pleiku để kiểm điểm những công tác đã thực hiện. Trong dịp này 500 cán bộ, cán binh Fulro chính thức về hợp tác với Chính phủ. 6. Đại hội các Sắc tộc thiểu số năm 1967.

" Năm 1767 Chính phủ nghiên cứu tường tận nguyện vọng về mọi sắc luật ấn định quy chế riêng biệt cho đồng bào thiểu số. Điều này được ghi trong Hiến pháp, các phái đoàn đại diện đồng bào thiều số liên tiếp trình thỉnh nguyện, thêm nữa ngày 02-6-1967 phái đoàn Fulro do chính ông Y Bham cằm đầu, hội kiến với Chính phủ đã ký tên xin Chính phủ sớm ban hành quy chế riêng biệt cho đồng bào thiều số.

- Cũng vì vậy, Chính phủ đã quyết định triệu tập Đại hội các Sắc tộc thiều số trên toàn quốc vào ngày 25-26-6-1967 để đúc kết thỉnh nguyện chung của đồng bào thiểu số toàn quốc, Đại hội sau khi ngày nhóm họp đã đệ trình Chính phủ :

- Một bản thỉnh nguyện.

- Một bản kiến nghị.

- Một bản tuyên ngôn.

Trang sách 149Nội dung 3 văn kiện trên thỉnh cầu Chính phủ sớm ban hành một quy chế riêng đặc biệt nhằm bảo đảm những quyền lợi đặc biệt của đồng bào thiêu số, giúp đồng bào thiếu số theo kịp đà tiến bộ của dân tộc, bảo đảm phong tục tập quán cũng như sinh hoạt riêng tư. Ba văn kiện trên cũng long trọng nói lên ý nghĩa của toàn thể đồng bào thiều số cương quyết chống lại mọi âm mưu, chia rẽ dân tộc, những chủ trương phân hóa, tự trị của bất cứ cá nhân, đoàn thể hay Quốc gia nào. Ngày bế mạc Đại hội, Thiếu Tướng Chủ Tịch ủy ban Hành Pháp Trung Ương đã long trọng chấp nhận thỉnh nguyện của đồng bào thiểu số và cam kết sẽ cho thực hiện.

Trước nguyện vọng thiết tha của đồng bào thiêu số, ngày 29-8-1967 Trung Tướng Chủ tịch Ủy ban Lãnh Đạo, Quốc Gia và Thiếu Tướng Chủ tịch Ủy ban Hành Pháp Trung •Uơng đã lên Banmêthuột chủ tọa buồi lễ và duyệt ký Sắc luật số 033/67 ban hành * Qui chế Đặc biệt nâng đỡ dồng bào thiểu số theo kịp đà tiến bộ của dân tộc ».

Sắc luật gồm có những điều khoản như sau :

Không kể điều thứ nhất, thứ mười mở đàu và kết luận thông thường của những đạo luật, điều thứg nói về nguyên tắc áp dụng, 7 điều khác trình bày các biện pháp nâng đỡ đồng . bào thiều số một cách rõ rằng, sáng sủa, không có những danh từ khó hiều, dè dặt, co dăn thường thấy ở trong Đạo luật và ngay cả trong bản Hiến pháp hiện hành.

Từ điều thứ 2 đến điều thứ 8.

- Điều ả điều 3 điều nói về việc thành lập các cơ quan đặc trách về đồng bào thiều số, việc đào tạo cũng như nâng đỡ trong việc xử dụng cán bộ và các cấp chỉ huy người thiều số để trực tiếp tham gia vào các ngành hoạt động trong Chính phủ.

- Điều 4 nâng đỡ thanh niên gốc thiều số trong việc thi hành nghĩa vụ quân sự; biệt đãi các con em những gia đình

Trang sách 150hữu công và đào tạo điều kiện cho các thanh niện Thượng trực tiếp tham gia việc bảo vệ Cao Nguyên.

- Điều 5 xác nhận quyền sở hữu đất đai của người Thượng, dự trù những chương trình giúp đỡ động bào thiêu số phát triển kinh tế cùng dự trù một Cơ quan nghiên cứu phát triền nông nghiệp cho đòng bào thiêu số.

- Điều 6 và 7 ăn định các biện pháp nâng đỡ phát triển về ý tế, giáo dục và xã hội. Thổ ngữ được tôn trọng và được dạy thêm với chương trình bảo vệ và phát huy văn hóa miền Thượng.

- Điều 8 nói về việc duy trì các tòa án tập quán và cho phát triển thêm, đồng thời sưu tầm và lưu giữ những luật lệ bất thành văn.

Nếu chỉ sơ lược có lẽ chưa nói lên được đầy đủ, nhưng nếu ai đã đọc kỹ Sắc luật số 033/67 đều có chung nhận định là bản Qui chế này đã hoạch định rõ ràng những nguyên tắc căn bản cho việc nâng đỡ đời sống đồng bào thiểu số. (1) Bản Quy chế này đã đáp ứng từng thỉnh nguyện của đồng bào thiều số qua Đại Hội các sắc tộc toàn quốc ngày 25-26/6/ 67. Chẳng những vậy, Quy chế cũng đã rút tỉa được những ưu điềm của các bản Quy chế cũ và các chính sách Thượng vụ đã áp dụng từ năm 1954 đến. nay. Người ta cũng thắc mắc :

Nhiều sự nâng đỡ quá rộng rãi như về văn hóa, xã hội lại có thể là con dao hai lưỡi, nếu các cơ quan đặc trách Thượng vụ không sáng suốt áp dụng sẽ chỉ có lợi cho những Sắc tộc đã sản có khả năng tiến bộ.

Tuy nhiên khuyết điểm này sẽ được giải quyết nếu điều 9 (1) Nguyễn văn Bản Sắc luật in ở phần " Tài liệu dọc thêm »

- Tài liệu của Bộ Phát triền Sắc tộc.

Trang sách 151của Sắc luật được thi hành đứng đắn. Nhũng biện pháp nâng đỡ đồng bào thiểu số ấn định trong Sắc luật nhằm mục đích chính là giúp đồng bào thiểu số sớm theo kịp đà tiến bộ chung của dân tộc. Vì trình độ sinh hoạt của các Sắc tộc không đều nên đề đạt mục đích trên, các Bộ, các Cơ quan chuyên môn sẽ phối hợp chặt chẽ với các Cơ quan đặc trách về đồng bào thiều số nói ở điều 2 để nghiên cứu chương trình kế hoạch, ban hành những biện pháp áp dụng và ấn định thời hạn thi hành nhất định cho thật với thực trạng của từng địa phương và trình độ của từng Sắc tộc.

Nhìn vào hiện tại, bản Sắc luật số 033/67 ngày 29-8-67 là một chính sách Thượng vụ mệnh danh.« Chính sách' dân tộc Hòa đồng, Đồng tiến » theo truyền thống Hòa nhi Bắt đồng đã đáp ứng được nguyện vọng của toàn dân và riêng của đồng bào thiểu số. Đây là một chính sách đã mang lại thông cảm, đoàn kết Quốc gia và giúp cho các Sắc tộc Thiều số có cơ hội tự do phát triên • (2).

Thành quả đầu tiên của chánh sách này là sự trở về với dân tộc của toàn thể lực lượng Fulro ngày 1-2-196g với :

- 2.257 cán bộ võ trang - 3.214 thân nhân gia đình - 895 súng cộng đồng và cá nhân., Tiếc rằng trong ngày đoàn tụ dân tộc thiếu mất một ông Y-Bham-Enuôl vì ông và gia đình bị một nhóm người quá khích Blan, Ksor Duôt, Y-Nam Eban, Ya-Ngneh) (Kpa Dơn, Kpa giữ lại và đưa đi Phnom-Penh.

LỊCH SỬ MIỄN THƯỢNG đến đây tạm dừng. Ngày xưa đồng bào Thượng đã âm thầm tranh đấu đề sống Tự Do và dựng sử thì ngày nay, trong tình đoàn kết Kinh Thượng đồng bào Thượng sẽ vững tay viết những trang sử đầy tiến bộ.

Trang sách 152Tái liệu tọc thêm HAI PHIÊN VƯƠNG CỦA TRIỀU ĐÌNH VIỆT NAM THỜI TRƯỚC :

THỦY XÁ HỎA XÁ Hàu hết các bộ, lạc ở miền Thượng du và đến cả Lào và Cam-bốt, đều biết đến hai vị thủ lãnh của bộ lạc Jarai : Thủy Xá và Hỏa Xá. Mỗi giống đều có tên chị hai vị thú lãnh đó.

Sau đây là những tên của Hỏa Xá. Người Jarai gọi là Patau Pui (Ma lửa) hoặc là Patau Ngo (vua ở phương Đông).

Người Rhadé gọi là Mtau Pui (vua lửa) người Bahnar và Habau gọi là Bok Re Dau, Beur Dao, Oc uy Rdau, người M'nông gọi là Adecht Leu (vua ở miền trên), người Lào gọi là Sadet Fại (vua lửa) hoặc Sadet Theung (vua ở miền trên) người Cam Bốt gọi là Sdacht Phleung (vua lửa), người Việt Nam gọi là Hỏa Xá, người Pháp vẫn gọi là «Sadet du feu».

Và sau đây là tên của Thủy Xá : người Jarai gọi là Patau Ya (vua nước), hoặc Patau Lu (vua phương Tây), người Rhadé gọi là Mtau la (vua nước), người M'nông gọi là Adecht Tang (vua miền dưới) và Lào gọi là Sadet Nam (vua nước) hoặc Sadet Sam (vua miền dưới) và Cam Bốt gọi là Sdacht Teuk (vua nước) người Việt Nam gọi là Thủy Xá, người Pháp gọi là « Sadet de l'eau».

Theo các nhà nhân chủng học thì tương đối người Jarai có nền văn minh cao hơn các bộ lạc «Indonésien» khác ngay từ thời thượng cồ, bộ lạc Jarai có lẽ vẫn ở dưới sự thống trị của những vị thủ lãnh Pháp sư (Chef sorcier).

Trang sách 153Nhờ ở vị trí hiểm trở, nhờ ở sự đoàn kết và tinh thần hiếu chiến nên bộ lạc Jarai ngày nay vẫn là một bộ lạc lớn.

Người Jarai cho là các vị thủ lãnh pháp sư của họ có nhiều pháp thuật nên mọi người phải kình sợ nên gọi là Patau. Theo lời truyền tụng lại thì có ba vị thủ lãnh pháp sư Patau Pui (vua lửa) Patau la (vua nước) và Patau Kateo (vua gió) nhưng ngày nay người ta chỉ còn biết đến hai vị thủ lãnh pháp sư đó, có rất nhiều quyền lực đối với người Jarai hiện nay nhiều.

Tuy vậy ta cũng có thể hiểu được là với tình trạng xã hội của đồng bào Thượng, quyền lực của các vị đó cũng chỉ tương tự như quyền lực của các tù trưởng bên Phi mà thôi. Vậy không nên coi các vị pháp sư đó như những vị quốc vương thật sự ở các quốc gia có tò chức rõ rệt tuy cũng được Triều đình Việt Nam phong là Phiên vương, nhưng cũng không thể so sánh hai vị Phiên vương Jarai với các Phiên vương khác là vua Chiêm Thành và vua Cam Bốt.

Những truyền thuyết về hai vị thủ lãnh đó chứa đầy những thần thoại, có những việc xảy ra tưởng như sự việc lịch sử nhưng thực ra đã bị thêm bớt rất nhiều và thường thì các việc mâu thuần nhau.

Ngay từ năm 1883 khi J. Moura viết cuốn Le Royaume du Cambodge cũng phải nói là về lịch sử của hai vị thủ lãnh Jarai ta không thế đi ngược lại quá khứ để biết rõ hơn và ta chỉ còn có thê dựa vào trí nhớ của người đương thời mà thôi.

Tuy vậy danh nghĩa của hai vị thủ lãnh đó được lan truyền khắp các vùng lân cận Lào, Cam Bốt, Việt Nam mãi đến tận thế kỷ 20, hai vị thủ lãnh đó còn được các đồng bào Thượng tôn sùng. Vì vậy ta cũng có thê đoán là thời xưa quyền lực của hai vị đó cũng lớn và đã được dân Jarai sùng bái và tuân theo mệnh lệnh, ta cũng có thể đoán là khi xưa bộ lạc Jarai phải là một bộ lạc rất mạnh ở vùng Cao Nguyên Trung Phần, vì vậy các vị thủ lãnh của người Jarai đều được các bộ lạc khác kính sợ các vị thủ lãnh Jarai đã có những liên lạc ngoại giao với hai vương quốc

Trang sách 154Cambodge và Việt Nam. Hồi đầu thế kỷ 20 bộ lạc Jarai vẫn chưa hoàn toàn chịu theo chế độ Pháp; Prosper D'odend'hal vì muốn Ép người Jarai theo chế độ Pháp và muốn bắt buộc thủ lãnh Hỏa Xá phải cho người xem các bảo vật của vị từ trưởng đó giữ nên đã làm người Jarai nghi ngờ và bị họ giết.

Vì những lý do kể trên nên ta cần phải viết rõ về hai vị thủ lãnh Jarai. Năm 1959 có dịp qua vùng Cheo Reo là nơi có làng Hỏa Xá, tuy có một số người Jarai xin với vị thủ lãnh Hỏa Xá ưng thuận đưa tôi đến thăm nơi giữ các bảo vật của Phiên Vương Hỏa Xá, nhưng vì tôi phải về Saigon không thể ở lại Cheo Reo lâu ngày nên không đi và đã để lỡ dịp thăm làng của:

Hỏa Xá.

Nhưng hiện ta có nhiều các tài liệu nói về các vị Hỏa Xá và Thủy Xá như Moura : Le Royaume du Cambodge Paris 1883.

Adh. Lechere : • Un conte Pnong Prang et I Yang » trong tạp chí Revue des tradictions populaires năm 18g8. Lavallée : notes ethographiques sur les diverses tribus du Sud Est de L'Indochine» trong tạp chí của Ecole Française d'Extrême Orient năm Igo1. A.

Le Clere • Légende djarai sur l'origine du sable sacré par le roi du feu » trong tạp chí Revue Indochinoise năm 1904. P. Guerlach : • Quelques notes sur les Sadet » trong tap chi Revue Indochinoise năm 1905. H. Bernard : « Les populations Moi du Darlac » trong tạp chí của Ecole Francaise d'Extrême Orient năm 1907. H.

Maitre : Les Jungles moi, Paris I912. B.J. Jouin : Légende du feu trong tạp chí của Société des Études Indochinoises năm 1951. Trong tuần báo Văn Đàn số 23 và 24 tháng 2 năm 1960, cũng có bài về « Nguồn gốc của hai bộ lạc Thủy Xá và Hỏa Xá" của ông Tô Nam Nguyễn Đinh Diệm, một mặt khác trong các sử liệu của Việt Nam bằng chữ hán cũng nói đến Thủy và Hỏa Xá đó là Đại Nam chinh biên liệt truyện, sơ tập, quyền thứ 32 và Khâm Định Đại Nam Hội diễn sự lệ quyền 134.

Nhờ các tài liệu kề trên ta cũng biết khá rõ về lịch sử của hai vị thủ lãnh Jarai, Thuy Xá và Hỏa Xá. Ô. B.Lafont hội viên

Trang sách 155cia Ecole Française d'Extrême Orient, bạn đồng nghiệp của tôi cũng có viết về hai vị thủ lãnh Jarai nhưng tài liệu này chưa được xuất bản. Một mặt khác L.M.J. Dournes hiện ở vùng Cheo Reo và đã sống trên đó từ mấy năm nay cũng đang sửa soạn viết về các đồng bào Jarai và sẽ nói đến Thuy Xố và Hỏa Xá. Chắc chăn là hai Ông Lafont và Dournes sẽ cho ta biết thêm nhiều điều vè hai vị thủ lãnh Jarai, nhưng tôi có thể nói là cho đến nay chưa một ai được đồng bào Jarai, thuận cho xem các bảo vật đó, chỉ được nghe hoặc người Bahnar hoặc người Rhadé hoặc người Jarai kể lại mà thôi. Tôi mong trong ít lâu nữa sẽ có thể đến tận nơi để khảo sát tường tận về các bảo vật đó.

Ta có thể chắc chắn là đã từ xưa các người Jarai đều sống dưới quyền thống trị của hai vị thủ lãnh là Patau Pui (Hỏa Xá) và Patau Ya (Thủy Xá), khi trước các vị thủ lãnh đó có nhiều uy quyền chứ không phải như ngày nay.

Trong lịch sử Chiêm Thành có nói là người Chàm đã chiẽm đất của người Mada ở hai tỉnh Phú Yên và Bình Định, ngày nay người Mada phải bỏ đát của hai tỉnh đó lên ở miền núi, như vậy ta có thể đoán người Mada nói trong các bia Chàm là người Jarai ngày nay, người Mada (tức Jarai) đã chiến đấu rất dũng cảm để giữ đất của họ. Trong thần thoại của người Jarai về Patau Pui (Hỏa Xá) cũng nói đến cuộc chiến tranh này.

Người Jarai chắc chắn đã bị người Chàm cai trị trong rất lâu ngày, ngôn ngữ của người Jarai rất gần với tiếng Chàm, hai bên có thể hiểu nhau được. Trước hồi chiến tranh để lấy lại độc lập của Việt Nam trên vùng Cheo Reo còn có một cái tháp do người Chàm xây. Tháp này bị một võ quan Pháp trưởng đòn Cheo Reo phá đi lấy gạch để xây lô cốt và lấp đường hồi (1953) (!). L.M. Dournes mới cho tôi hay là ông có tìm được ở địa phận của ông nhiều tượng Chàm.

Một điềm quan trọng do L.M. Guerlach kề lại mà ít người

Trang sách 156để ý đến là vị thủ lãnh Hỏa Xá khi chết xác được thiêu. Đó là một ảnh hưởng Chàm rất rõ rệt, vì ngoài trường hợp đặc biệt đó, tất cả các đồng bào Thượng không bao giờ lại thiêu xác người chết.

Ta hãy xét qua đến các thần thoại của các đồng bào Thượng về hai vị thủ lãnh Hỏa Xá và Thủy Xá.

SỰ TÍCH THỦY XÁ VÀ HỎA XÁ THEO TRUYỀN THUYẾT CỦA NGƯỜI JARAI (Do Lavallée sưu tầm) Đời xưa có một ông vua rất lười « M'tao Lah» sống ở trên một hòn đảo. Lười đến nỗi nhà vua chỉ nằm dưới cây « Nara » một loại vả, đợi quả rơi xuống vào chính miệng của ông. Một hôm có một chiếc thuyền đi gần tới đảo thì bị đắm.

Tất cả mọi người trên thuyền đều bị chết đuối chỉ trừ có một người tên là Pộ Thê vì bơi được tới đảo đó nên sống sót. Pô Thê đến gần cây « Nara » thấy nhà vua nằm dưới gốc cây bèn hỏi cách rời khỏi đảo để đến đất liền. Nhà vua trả lời : « Hãy nhặt những quả của cây « Nara » và đưa cho ta ăn rồi ta sẽ nói cái bí quyết đó... "

Sau khi được Pô Thê cho ăn no, nhà vua nói « chiều nào cũng có một nghìn con lợn rừng đến đảo này để ăn quả cây « Nara » những con lợn rừng này đi trên mặt nước bề nhờ có một hòn ngọc quí « A Tao » con lợn rừng già ngậm ở trong miệng và dẫn các con lợn khác đi theo. Khi tới đảo và muốn ăn quả cây « Nara » con lợn rừng già phải nhả hòn ngọc đó ra và để ở dưới đất. Khi ăn xong thì lại ngậm hòn ngọc đó vào miệng. Anh hãy nấp sau cây này, khi thấy con lợn rừng đặt

Trang sách 157hòn ngọc trên đất, anh cướp lẩy hòn ngọc đó, thì anh có thể đi trên bế để tới đặt liền.

Chiều đến Pô Thê thấy một nghìn con lợn rừng đi trên mặt bề để đến gần cây « Nara •, đoàn lợn rừng này đi thành hàng một, con đi sau ngậm đuôi con đi trước trong miệng, khi đã tới gốc cây « Nara », con lợn rừng già để hòn ngọc xuống đất rồi tất cả bầy cùng ăn « Nara ».

Nhưng ngày hôm đó, Po Thê vì sợ đàn lợn rừng nên không dám vào giữa bầy đó để lấy trộm viên ngọc.

Ngày hôm sau nghe lời khuyên của nhà vua, Pô Thê đặt quả « Nara» thành từng đống rất xa nhau, đống thì ở gằn bờ bề, đống thì ở sâu trong đảo, chiều tới đoàn lợn này lại đến như thường lệ, sau khi con đầu đàn đã đặt viên ngọc xuống đất cả đoàn cùng ăn quả. Ăn hết đống quả thứ nhất, bày lợn rừng sang đến đống thứ hai, rồi dần dần đi xa viên ngọc đặt gần đống thứ nhất. Pô Thê lấy cắp viên ngọc đó, muốn tránh cơn giận của bầy lợn rừng Pô Thê phải leo trốn trên cây cao khi bày lợn rừng đã ăn xong và thấy đã mất viên ngọc có phép mầu nhiệm thì cả bầy lợn rừng cuống lên và cùng nhảy xuống bề trở về đất liền nhưng cả bầy đều chết đuối.

Vì đã chiếm được hòn ngọc quí nên Pô Thê đi trên mặt • nước và trở về đất liền mà không gặp nguy hiểm gì.

Có một người có một quả « Pô Kui » quả này có phép lạ là khi chủ nó ném quả đó xuống đất thì có thể làm ra gió và mựa, người này thấy Pô Thê đi được trên mặt nước bèn đến gần Pô Thê rồi đề nghị đồi « Pô Kui » lấy hòn ngọc quí. Pô Thê bằng lòng đồi hòn ngọc lấy quả « Pô Kui ».

Pô Thê liền xin quả « Pô Kui » làm mưa to gió lớn, quả đó vì bị chủ cũ đem đồi lấy vật khác như một kẻ vô lễ nên tức giận khi được Pô Thê ném quả ấy về phía chủ cũ bèn làm ra bão lớn và mưa to mưa gió mạnh đến nỗi người đó

Trang sách 158bị ngã lăn xuống và chết. Pô Thê lấy lại được luôn ngọc qui « A Tao ».' Đi một ngày đường xa nữa Pô Thê gặp một người có hai thứ bảo vật « Kloi Ka A Chan • cái giây thừng có phép tự nó trói buộc được, và « Akai Tha », cái gậy có phép tự nó đánh các người, Pô Thê đề nghị đồi ngọc "A Tao, lấy hai bảo vật này. Người đó thuận đồi, Pô Thệ ra lệnh cho giây thừng và gậy trả thù chủ cũ đánh đến nỗi người này chết.

Thế là Pô Thê có 4 bảo vật rất linh : hòn ngọc, quả Pô Kui, giây thừng và gậy.

Pô Thê còn gặp một người có nắm những viên đá quí, những viên đá này có thể biến thành một nghìn chiến sĩ hoặc một nghìn con ong, hoặc một nghìn con kiến. Những viên đá này tên là « Pol-r'tanpol -- R'ho » người này còn có một bảo vật nữa là « Wai-chán atú-nhon », một cái roi bằng mây, roi này có thể làm đang ngày hóa ra đêm được, người có bảo vật đó đề nghị liên kết với Po Thê, Po Thê ưng thuận và cả hai người cùng đi với nhau.

Hai người đi đến bờ một con sông lớn nơi mà vua tất cả các dân tộc trên thế giới đang hội họp : Vua Chàm, vua Cam Bốt, vua Việt Nam, vua Lào, vua Rhadé, vua Jarai... Tất cả các vị đó đang cố lặn xuống sông đề tìm cây gươm thần vừa rơi từ trên trời xuống và mọi người đều thấy chiếu sáng ở dưới nước sông. Gươm thần ở trong bao mà vẫn thấy sáng rực. Vua Chàm chiếm được gươm, nhưng Pô Thê lấy gươm của vua Chàm mang vẽ cho người Jarai. Trong khi đó vua Cam Bốt chiếm được vỏ gươm đem về Cam Bốt.

Người Chàm vi giận người Jarai đã tranh lấy gươm nên khai chiến với Jarai, chiến tranh luôn trong nhiều năm. Nhờ có nhiều bảo vật nên Pô Thê đã có thề đánh nhau rất lâu với quân - Chàm, nhưng vì người Chàm cũng có nhiều phép thuật nên

Trang sách 159không bên nào thăng được bên nào. Pô Thê ben nói với gươm thần nếu thại là gươm từ trời xuống thì hãy tỏ cho oai linh hoặc giúp người Jarai, hoặc người Chàm và hãy tỏ cho mọi người biết là dân tộc nào được giữ gươm thần.

Pô Thê giết chết hai con trâu trắng và trâu đen đề tế gươm thần.

Pô Thê tay cầm gươm thần xông vào đánh quân Chàm, gươm thần phun ra nhiều lửa và nước nên tất cả quân Chàm đều bị chết cháy và chết duối, không một người Chàm nào trốn thoát vì roi mây làm cho trời tối đen nên người Chàm không biết đường đề trốn thoát.

Sau đó ít lâu Pô Thê trao gươm lại cho vị thủ lãnh gọi là vua lửa « Patau Pui » rồi Pô Thê biến mất không còn để dấu vết gì lại. Pô Thê còn dặn người Căm Bốt có lãy được vỏ gươm thần vì trời đã chia cho người Jarai gườm thần và người Căm Bốt vỏ gươm là muốn hai dân tộc phải liên kết với nhau. Nhưng khi định cho ngưởi Cam Bốt vỏ gươm nghĩa là phần kém, thì đã định là những tặng phầm trao đòi giữa hai vị vua Cam Bốt và Patau Pui (Hỏa Xá) phần của Căm Bốt phải nhiều hơn. Tặng phầm của Căm Bốt gồm có voi, cáng, vái v.v... chính vị thủ lãnh Jarai tặng lại Cam Bót người đề làm nô lệ, ngà và sừng tê giác.

Trong thần thoại kể trên ta không thấy nói đến Thủy Xá (Patau Ya) nhưng quyền của Thủy Xá cũng không kém quyền của Hỏa Xá.

Cả hai thủ lãnh Hỏa Xá và Thủy Xá đều ở vùng giữa sông Ayun và chi nhánh của hữu ngạn sông Bá, đồng bào Thượng gọi là sông Apar, vì vậy cũng có người gọi là đất của hai thủ lãnh Jarai và Ayun Apar, vị thủ lãnh giữ cây gươm thăn ở làng Ban Yun cũng còn có tên là làng Patau Ngo. Còn vị thủ lãnh Thủy Xá ở làng. Patau Ya trên sông Ya Lap, một chi nhánh của sông

Trang sách 160. Nam Liêu, chảy vào sông Srépok tức Sé Bang Kan. Thủy Xả giữ một quyền trượng (Sceptre) bằng gỗ, hình như có nạm ngọc.

Quyèn trượng này có tên là Tam bong Phék.

Gươm thần của Hỏa Xá làm ra lửa, nước, làm trời đất mù mịt và reo rắc sự chết, cây quyền trượng của Thủy Xá chỉ có phép làm cho ai đứng đến gần đó phải chết. Nhưng trái lại quyền trượng này có thể làm cho người chết hồi sinh. Khi sờ vào một đầu quyền trượng thì người chết, nhưng nếu một đầu quyền trượng kia chạm vào xác chết thì xác chết đó hồi sinh.

Thủy Xá còn giữ một hòn đá, đó là quả của cây Nak Yang.

Theo truyền thuyết thì khi quả nầy chín là ngày thế giới tận thế có người cho là quả đó bắt đầu vàng.

Lavallée cho là Hỏa Xá và Thủy Xá khi chết truyền chức lại cho con.

Ngày nay nhà ở của hai vị thủ lãnh không khác gì các nhà khác của đồng bào Thượng. Dân dưới quyền của hai vị thủ lãnh đó gửi đến làng của mỗi thủ lãnh vài người nô lệ đề hầu.

Lavallée cho là người được giữ gươm thần được chọn trong số các nô lệ. Khi người giữ gươm chết thì xác được đem thiêu, Người giữ gươm thần không được sống lâu năm nên mọi người đều sợ gươm thần, Lavallée nghi là chính Hỏa Xá đã thủ tiêu người giữ gươm thần bằng thuốc độc. Người giữ gươm thần phải ngày đêm luôn luôn ở cạnh cây gươm thần bọc trong vải.

Các đồng bào Thượng không hiều tại sạo có hai vị thủ lãnh đó.

Thằn thoại thuyết chỉ nói đến một vị thủ lãnh đó là Hỏa Xá, về Thủy Xá thì các đồng bào Thượng cho là đã có từ rất xưa và họ cũng không biết là tại sao mà có.

Hai vị thủ lãnh Hỏa Xá và Thủy Xá sống rất hòa thuận, họ ưa sống trong bí mật, họ tránh không đề cho người thường tháy họ và khi thấy nói người Âu châu đến vùng đó thì họ đi trốn vào rừng ngay. Họ tuyên bố là họ phải đi vào rừng

Trang sách 161là cốt đề tránh sợ gặp các người da trang sẽ làm cho họ mất tình khiết.

Đồng bào Thượng cho là nếu lấy gươm thằn ra khỏi lớp vải quấn ở ngoài thì thế giới sẽ bị tiêu diệt. Khi viên quan cai trị người Pháp Odend'hal qua nhà Hỏa Xá và muốn nhất định đòi xem gươm thần đó đã bị Hỏa Xá từ chối và cho người giết chết Odend'hal lẫn tùy tùng.

Khi người Pháp lên chiếm đóng vùng Cao Nguyên các đồng bào Thượng có xin Hỏa Xá dùng phép thiêng của gươm thần giết quân Pháp. Nhưng gươm thần không còn linh thiêng nên đã không giết được quân Pháp. Người Thượng đồn rằng trông thấy một quả lửa từ căn nhà chứa gươm thần bay lên trời và biến về phương Nam.

SỰ TÍCH HOÁ XÁ THEO TRUYỀN THUYẾT CỦA NGƯỜI BAHNAR (Tài liệu của L.M. Guerlach) Thời xưa tại đất Jarai có một người dân tên • Xep Xep » có nhiều nô lệ và rất nhiều hàng hóa. Trong tát cả của cải có hai khối sắt to nhỏ không đều nhau. Số phận của Xep có liên hệ tới khối sắt nhỏ, vì vậy nên nếu khối sắt đó bị thay đòi hình dạng thì linh hòn của Xep cũng bị đau đớn.

Con của Xep muốn có một cây gươm nên xin với cha một khối sắt để đánh gươm.

Xep nói với con lấy khối sắt lớn, đừng dụng đến khối sắt nhỏ vì lẽ là một tai vạ lớn.

Người con thấy khối sắt đó lớn quá sợ phải khó nhọc mới

Trang sách 162đánh được gươm nên mới chọn khối sắt nhỏ vì người con không biết là khối sắt này có mật thiết đến đời sống của cha nó.

Người con đem sắt vào lò rèn để đánh gươm, nó không biết là nó hành hạ linh hồn của bố nó.

Khối sắt tuy mới được thành hình hẳn hòi nhưng cứ sáng rực lên mãi khí nóng bốc ra nhiều đến nỗi hòn đá tảng để làm đe chảy ra như sáp ong và nước chạm vào sắt đó cũng bị bốc thành hơi nước. Người con sợ quá không biết cầu cứu vị thần linh nào nữa.

Trong khi đó một người nô lệ tên Pang sửa soạn mài đề làm kiếm, vì lấy lưỡi dao để tước mây hắn lỡ tay dao cắt sâu vào ngón tay và máu chảy ra rất nhiều, Pang nói với người con chủ : « Khối sắt gì mà sáng rực và thiêu cả các thứ chạm vào.

Hãy đề tôi thử xem sao ».

Khi nói xong Pang để vài giọt máu chảy trên kiến sắt thì bốc sôi sùng sục lên, Pang vội kêu : « Nó muốn ăn thịt tôi, nó muốn ăn thịt tôi».

Sau đó mọi chủ gia đình đến thăm Pang và mang tới một vò rượu và một con gà. Pang uống rượu cùng với các chủ gia đình, rồi ăn một đùi gà, tim và gan gà rồi ngồi bên cạnh lưỡi gươm còn đang đỏ rực và lấy mồm cắn lưỡi gươm. Một vùng lửa bao bọc cả người Pang. Người Pang đã nhập vào lưỡi kiếm như vậy Pang đã đi theo chủ nó là Xep. Liền sau đó lưỡi gươm nguội đi. Từ đó có thần linh ở trong lưỡi gươm. Người ta lãy vải đỏ bọc ra ngoài lưỡi gươm và đặt ở trong một cái giỏ bằng tre. Người ta cũng còn giữ cành mây, cái nắp nồi, 1 ống tre trong có muối và ớt. Đó là những đồ dùng của Xep, không bao giờ ai dám đem lưỡi gươm thần ra khỏi bọc vải vì sẽ là ngày tận thế.

Tất cả các vật đó đều để trong một lều nhỏ ở gần trong nhà Hỏa Xá, Mọi người cho là những vật đó có nhiều phép lạ.

Trang sách 163Trong một vụ bệnh dịch cúm có nhiều người chết, người Thượng Hagon nói là tại Bok Redau (tức Hỏa Xá theo tiếng Bahnar) nhận được ít đồ cúng nên tức mình mở cái ống đựng muối và ớt và đem xóc ống đó nên mọi người bị ngạt mũi và hắt hơi.

Khi Hỏa Xá chết thì các trai tráng trong làng họp tại nhà Rong, trong khi họ đang ngủ một người gia trong làng hỏi một cách bất thình lình « Ai sẽ là Bok Redau » trong tất cả các trai tráng đang ngủ có người trả lời « chinh là tôi ». Sáng hôm sau, khi trở dậy người ta thấy người đó đeo ở cổ tay một cái giây bằng sợi do thần linh buộc.

Trên đây là thần thoại của người Bahnar kể lại cho L.M.

Guerlach.

Nhưng theo L.M. Guerlach sự thật khác vậy muốn chọn người kế nghiệp Hỏa Xá, tắt cả các cận thần của Hỏa Xá đã chết, hội họp đề chọn người có đủ các đức tính cần thiết. Người con trai của Hỏa Xá không được nối nghiệp cha vì Hỏa Xá phải lẩy vợ giòng họ khác. Theo tục lệ thì các con thuộc họ người mẹ, vậy không thề trở nên Hỏa Xá, vì Hỏa Xá phải là ngườii thuộc giòng của họ Xep. Thế cho nên phải chọn người em út. hoặc một người cháu của vị Hỏa Xá và người này đã thuận thì người tạ lấy một đôi bông buộc vào cổ tay.

Khi đã lên làm Hỏa Xá, người mới nối nghiệp vẫn giữ những vị cận thần của xị Hỏa Xá củ và chọn thêm các cận thần mới tại những làng khác cũng thuộc quyền cai trị của Hỏa Xá.

Trước thời người Pháp lên cai trên Cao nguyên Trung Phần thì chương trình đi thăm các. nơi của Hỏa Xá trong năm đầu tiên và hai năm sau lại đi một làn nữa. Cách hai năm sau lại đi một lần thứ bà và mãi năm năm sau lần thứ ba mới làn thứ tư. Rồi từ đó không có kỳ hạn nữa. Hỏa Xá muốn đi lúc nào cũng được.

Trong khi đi thăm các nơi thì các dân làng phải giết một con trâu, một con lợn đề làm lễ cúng và đề ăn, còn phải đem tặng một

Trang sách 164nồi đồng lớn, một con bò, một còn lợn còn sống đề Hỏa Xá đẹm về nhà riêng. Mỗi gia đình còn phải dâng hoặc một cái cuốc nhỏ bằng sắt, hoặc một ít sáp ong, hoặc những hạt cườm.

Nhưng khi Hỏa Xá không được đích thân đi thăm các làng và chỉ có một cận thần làm đại diện cho Hỏa Xá thì chỉ giết một con lợn đề cúng, và những tặng phầm gồm có một lợn sống, một cái chén. Những vật đó tất cả các làng đều phải dâng cho Hỏa Xá.

Những cận thần của Hỏa Xá gồm có : 1) Người cao trọng nhất là người giữ việc đồ nước vào trong vò rượu đề Hỏa Xá uống. 2) Người nấu cơm cho Hỏa Xá. 3) Hai người quản tượng đề dẫn voi và đặt cái bành trên lưng voi. 4) Người giữ việc rèn con dao đề cắt các dây bông buộc ở cô tay. 5) Một người chuyên đan những gùi và giỏ cho Hỏa Xá. 6). Người giữ việc buộc những sợi dây lên cổ tai vị Hỏa Xá mới được cử, sau 7 năm nếu sợi dây đó không bị đứt thì những sợi dây đó sẽ bị cắt và đem đốt.

Ngoài những vị cận thằn kể trên còn cỏ bốn người đàn bà : 1. Người giữ việc kéo bông đề lấy dây buộc lên cỡ tay vị Hỏa Xá mới được cử. 2. Người giữ việc dệt các khố -màu trắng mà vị Hỏa Xá mới được cử mặc hầu làm lễ nhận chức. 3. Người giữ việc may các áo. 4. Người giữ việc khâu các túi nhỏ trong đựng thuốc lá của Hỏa Xá.

Khi được tin vị Hỏa Xá mới được chọn thì tỉnh Phú Yên

Trang sách 165cử người mang một cái bình bằng bạc lên làng của Hoa Xá, bình bạc này để dùng trong việc tang lẻ.

Tuy Hỏa Xá giữ những bảo vật nhưng cũng không tránh khỏi các bệnh tật. Khi sắp chết thì các cận thần và gia đình Hỏa Xá hội họp chung quanh và đặt tay trên người Hỏa Xá. Khi đã hết hơi thở thì một người lấy dao đâm vào bụng Hỏa Xá. Có người cho là những cận thần không đợi cho Hỏa Xá thở đến phút cuối cùng, sau khi đã bàn bạc và thấy Hỏa Xá sẽ chết thì họ giúp cho Hỏa Xá chóng chết bằng cách đâm dao cho Hỏa Xá chết sớm. Người ta nói câu : « Bok Redau (Hoa Xá) không chết tự nhiên, người ta phải giết vị đó ».

Khi tin Hỏa Xá chết được loan ra thì hầu hết các làng đều cử đại diện đến dự đám táng. Trong nhiều ngày ta thấy tiếng than khóc, tiếng thanh la, tiếng trống mỗi người đem theo một vò rượu, một con lợn hay ít nhất một con gà. Trong tang lễ phải uống nhiều rượu.

Trong khi những người này đang khóc, uống rượu thì những người khác sửa soạn một giàn bằng gỗ đã được chọn lọc, đặt xác trên đó và thiêu xác.

Khi đã thiêu xong xác, các cận thần lấy tro của tim, các răng và xương đốt ngón tay dựng trong bình bạc mà các đại diện Việt Nam đã mang từ Phú Yên lên. Những tro than và tro của xác thiêu đều được đề trong một cổ áo quan và được đem chôn. • Trên mộ có làm nhà mồ tạm thời dưới đó có đặt bình bạc đựng tro của tim v.v... Khi người vợ góa của Hỏa Xá tới mộ khóc thì bà này phải lấy bình đó buộc ở sau lưng như khi mang một đứa trẻ nào. Bà góa khóc lóc lấy chồi quét mộ, đồ qước vào một cái chén nhỏ, đặt gạo trên một cái lá.

Khi đã khóc xong bà góa đó lại đặt bình bạc lên trên mộ, khép cửa rào chung quanh mộ rồi ra về, cứ mỗi đầu tháng âm lịch lại làm lễ bên mộ. Cứ như vậy trong năm năm liền. Sau thời gian đó các người cất một nhà mồ rất đẹp rồi làm lễ bỏ mộ, bình bạc được chôn cùng với áo quan. Sau lễ này không ai săn sóc đến mộ nữa.

Trang sách 166SỰ TÍCH HỎA XÁ VÀ THỦY XÁ THEO TRUYỂN THUYẾT CỦA NGƯỜI RHADÉ (Tài liệu của Bác sĩ B.Y. Jouin) Thời xưa có một người tên là Y Thih, một hôm mẹ của Y Thih đi kiếm rau trong rừng trong mùa nắng, vì khát bà đi tìm nước để uống, nghe thấy tiếng nước chảy nhưng bà không tìm ra mãi sau mới thấy nước ở một gốc cây bà liền uống. Sau khi uống nước đó bà thấy có thai và sinh ra một đứa con trai, khi sanh đứa trẻ thì cũng có một khối sắt cùng ở trong bụng bà cùng ra với đứa trẻ. Khi đứa trẻ đã lớn, (đứa trẻ tên là Y Thih) khóc và đòi lấy miếng sắt để làm một con dao bầu nhưng miếng sát lại thành ra hình một cái cuốc chét. Y Thih phải nung cái cuốc để cố đánh thành dao bầu, nhưng cuốc đó trở nên một cái búa, phải nung cái búa đó để chữa thành con dao, phải nung con dao thì lại hóa ra cái liềm, lấy liềm rèn đúc lại mới thành ra gươm và đó là hình thức cuối của sắt đó. Y Thih mài gươm cho sắc và nung lửa đỏ lên rồi ngâm gươm vào nước, nước bị gươm hút khô, Y Thih mang gươm đi nhúng xuống sông, nước sông cũng bị cạn; khi trở về nhà Y Thih gặp một người đàn bà bụng chửa, lưỡi gươm đó như kéo người đàn bà đến gần rồi đâm xuyên qua người đàn bà đó và trở nên trong sáng ; sau đó Y Thih làm bao gươm, cán gươm.

Sau đó ít lâu có một bệnh dịch làm nhiều người trong làng bị chết. Thấy nhiều người chết quá Y Thih lấy gươm ra và đặt trên lửa đốt bằng trấu và Y Thih cho là chính gươm này đã làm ra bệnh dịch. Khi lửa đang nung thanh gươm Y Thih bị ốm và bệnh của Y Thih mỗi ngày thêm nặng. Lúc đó mọi người mới nhớ ra là đang nung thanh gươm và mới mang gươm ra khỏi lửa và đem gươm ra mài trong bảy ngày bảy đêm, khi gươm đã bóng sáng thì Y Thih lại khỏe mạnh như cũ.

Một hôm Y Thih đi cùng với một người con gái vào rừng kiếm rau, khi khát nước tìm không ra nước uống Y Thih liền

Trang sách 167nói với thanh gươm : «Nếu gươm là một vị thàn, tôi cắm mũi gươm xuống đất sẽ có nước chảy vọt ra và tôi sẽ có nước uống, nếu như vậy là gươm thật là một vị thần .. Khi Y Thih cắm mũi gươm xuống đất thì ngay khi đó nước chảy ra và cho đến ngày nay nước ở chỗ đó vẫn chảy, đó là con sông Ea Dah ở gằn làng Buôn Klat.

Hồi đó có một người Lào tên là K'bang và một người Chàm là Yang Prong vì thử sức với Y Thih bị thua nên cả hai liên kết với nhau đánh một mình Y Thih. K'bang và Yang Prong lấy gươm của Y. Thih ném xuống nước. Sau đó Y Thíh trở về làng và bắt đầu bị ốm. Tin đồn ra xa, có các người Lào và người Việt đến thăm Y Thih và lội xuống nước đề tìm thanh gươm, khi thấy gươm thì các người chia như sau : người Lào giữ cán gươm, người Việt giữ bao gươm và Y Thih giữ lưỡi gươm, Y Thih sai lãy tủ làm một căn nhà để cất gươm trong đó và chỉ định một người để giữ.

Theo Jouin thì Y Thih mới thật là Hỏa Xá tức Aê M'dao chủ của cây gươm thần và người giữ cây gươm này ở làng của Y Thíh tức Plei M'tao chỉ là người giữ gươm Aê Buôn và người này không quan trọng bằng Y Thih. Theo trong truyện thì Y Thih được coi như một vị thần sống và một vị tướng tài đã đánh quân Lào và quân Chàm, đã dùng gươm thần để giết nhiều quân thù.

Sau khi thanh gươm bị ném xuống hồ ở Pleiku thì thanh gươm thần đó chỉ còn cái lưỡi không có cán và bao. Lưỡi gươm được bọc trong vải và có một người được cử ra để giữ gươm.

Người giữ gươm không được ra khỏi ngôi nhà trong có lưỡi gươm thần.

Còn riêng Y Thih thì có thể đi chơi các làug và dẫn theo vài người tùy tùng để nhận các lẻ vật của dân các làng tặng Aê M'dao (tức Y Thih).

Bác si Jouin cho là không một ai được xem lưỡi gươm thần

Trang sách 168Người. Jarai và người Rhadé không dám nói về Hỏa Xá vì, sợ nói ra thì sợ có bệnh dịch phát sinh như bệnh đậu mùa, bệnh dịch tả v.v.. Mỗi khi mang lưỡi gươm ra khỏi bọc vải sẽ có bệnh dịch, nếu càng đề lưỡi gươm ở ngoài lâu thì cảng nhiều người bị nạn.

Người ta còn cho rằng Y Thih đã làm những hạn hán và vì đó mà có nhiều bệnh dịch.

Mỗi khi có bệnh dịch tại một làng là dân làng phải làm lễ cúng Aê M'dao, lê này gọi là lễ Thôê Aê. Trong lễ này phải giết một con trâu trắng và nếu làng nghèo thì phải dâng một con lợn trắng, lễ này phải làm ở ngoài hàng rào của làng rồi tất cả mọi người trong làng đều phải dự lễ này. Khi làm lễ Thôê Aê mà có giết trầu bò hay lợn thì phải có ba vò rượu, những súc vật giết phải để. nguyên chứ không được chặt nhỏ ra, Một người phải đọc những lời khăn đề mời Y Thih và tất cả các tùy tùng vào hưởng lễ vật ; những súc vật đó phải được ăn ngay tại chỗ chứ không được đem vào trong làng, hay nếu còn thừa cũng phải bỏ lại ở ngoài làng.

Sau khi làm lễ xong dân làng treo ở cồng làng những đầu khi, giây kích chân voi v.v.. để tỏ ra cho biết là có bệnh dịch trong làng và cấm người ngoài không được vào làng, sự cấm đó dài bảy ngày và không những cấm người ngoài vào làng mà còn phải kiêng hát, đánh chiêng trống hay thổi một nhạc cụ nào khác, cũng có khi lễ đó làm ngay trong nhà có người ốm và cấm người lạ vào nhà.

Theo Bác sĩ Jouin thì Y Thih có đánh quân Chàm với quân Xiêm Lào và đã chết vào khoảng 90 năm nay rồi. Khi Y Thih sắp chết thì các người cầm ngọn dáo đâm vào ngực Y Thih.

Sở di có sự đó là để những vị hung thần ở trong người Y Thih sợ. Xác Y Thịh được thiêu như kiếu người Chàm. Gỗ để thiêu phải lãy trên cây chứ không được dùng gỗ đã rơi xuống đất.

Ngay sau khi Y Thih chết một người đàn bà già mà vẫn được mọi người nghe theo, nằm mê để xem người con trai nào được chọn làm Hỏa Xá và lấy sợi hăng buộc ở cổ tay như kiều Lào.

Trang sách 169B. S. Jouin không biết rõ là người con trai được chọn là dân làng Plei M'tao (làng Hoa Xá) và sau khi đến làng Plei M' tao EA theo phong tục mẫu hệ, hay là chính Hỏa Xá ngày nay là cùng một tông tộc với Y Thih và đã ở sẵn làng đó và lấy tên là làng Plei M'tao EA, làng của Thủy Xá. Khi làm lễ tôn vị Hỏa Xá mới tồ chức cuộc vui lớn, nhảy múa đặc biệt của người Jarai và uống rất nhiều rượu. Trong lề đó các người đàn bà đọc những lời khấn, những lời khăn đó được truyền khàu lại cho những đứa con gái còn nhỏ tuồi.

Theo BS Jouin thì khi Y Thih, vị Hóa Xá đầu tiên, chết đi các tùy tùng mới chọn người kế vị và từ đó mới có vị Thủy Xá đầu tiên. Thủy Xá mới chính là ngựời nối nghiệp Hỏa Xá vị thủ lãnh đã có cây gươm thàn. Thủy Xá có phép làm ra các bệnh dịch, làm hạn hán và do đó có những nạn đói kém.

Tới nay đã có 8 vị Thủy Xá nối nghiệp vị Hỏa Xá đầu tiên là Y Thih, vị Thủy Xá thứ nhưt có lẽ là gốc ở làng Plei M'tao EA (Plei : làng; M'tao : Patau : vua, EA : nước). Hoặc đã chọn làng này đề ở, các vị Thủy Xá và các tùy tùng thường đị trong đất của người Jarai và Rhadé đề nhận các đồ do dân chúng tặng, để hòng tránh được những bệnh dịch, hạn hán đói kém.

Khi trước vua Cạm Bốt có mang những vật qui giá đến tặng Thủy Xá. Những tặng phằm được một đoàn voi mang từ nước Cam Bốt tới, chỉ mới vào khoảng thế kỷ XIX, nước Cam Bốt mới thôi không gửi tặng vật cho Thủy Xá. Thủy sá hiện ở làng Plei M'tạo EA và tên là AÊ BÔ, cho đến năm 1951 khi Bác sỉ Jouin viết bài về Thủy Xá và Hỏa Xá, AÊ BO đã phải làm lễ cầu an cho các khách ngoại quốc đó và có lẽ chính lễ này là đề làm yên lòng các vị thần linh.

AÊ BÔ đã hai lần đến thăm Ban Mê Thuột. Từ làng Plei M' tạo EA đến Ban Mê Thuột phải mất 140 cây số, vì vậy nên hành

Trang sách 170trình của AE BÒ rất phiền toái, lại AÊ Bồ không được vào và dừng lại ở một làng nào thế cho nên phải có ở dọc đường những nhà trạm để Thủy Xá nghỉ và phải dâng các thức ăn cho Thủy Xá và các tùy tùng.

Năm 1941, người Pháp có tồ chức lễ tuyên thệ của các đồng bào Thượng và Thủy Xá AÊ BÔ được mời tới dự lẽ.

Ngẫu nhiên năm đó có hai ngôi nhà lớn của người Rhadé bị cháy và hai con voi lớn bị chết trong khi làm lễ tuyên thệ. Người Rhadé cho là sự có mặt của Thủy Xá AÊ BÔ nên mới xảy ra tai nạn đó.

Bác sĩ Jouin cho là hai người được nói đến trong lời khấn Y Thih.

KƠ YU AÊ BÔ NGÔ AÊ BUÔM Phía tây AÊ BÔ phía đông AÊ BUÔM Vậy ta có hai người để trông nom vây gươm thần đó là AÊ BÒ, người nối nghiệp tinh thần của Y Thih, AỆ BUÔM người giữ căn nhà có thanh gươm thần, vai trò của AÊ BUÔM chỉ là người được chỉ định để giữ ngôi nhà có gươm thần và người ta nhầm gọi AÊ BUÔM là Hỏa Xá vì kể từ Y Thih chết đi thì không có Hỏa Xá nữa và thần linh của thanh gươm và các vị hung thần khác đã theo Thủy Xá hiện nay là AÊ BÔ và chính AÊ BUÔM c. , dưới quyền AÊ BÒ.

AE BUÔM là người thứ 4 được cử giữ gươm thăn, người thứ nhất chính do Y Thih chỉ định. AÊ BÔ không lúc nào được dời ngôi nhà có gươm thần. AÊ BUÔM cũng được nhận các lễ vật nhưng không nói đến tên trực tiếp khi các người cầu khẩn. Chỉ khi nào khấn đến EA M'TAO vị Hỏa Xá đầu tiên, thì nói đến tên AÊ BUÔM, nhưng tên AÊ BUOM được đọc sau của Thủy Xá AÊ M'TAO.

Trang sách 171Bác sĩ Jouin tóm tắt lịch sử Hỏa Xá như sau :

Chủ nhân của thanh gươm thần tức Hóa Xá (độc nhất) AÊ BUOM BA M'TAO EA Thủy Xá Người giữ ngôi nhà có gươm AÊ BÔ hiện nay là nối nghiệp thần. Người giữ gươm thứ về tinh thần của AÊ M'DAO nhất được cử ngay từ khi (Hỏa Xá) vị Thủy Xá đàu Y THIH còn sống đưới tiên được cử sau khi Y quyền của AÊ BO (Thủy Xá) THỊH đã chết. chỉ là một vị thần hạng dưới ngày nay thường được nhằm Địa vị quan trọng hơn AÊ coi là Hỏa Xá.

BUÔM. các tài liệu lịch sử Cam Bốt và Việt Trước khi xét đến Nam ta hãy tạm kiểm điểm lại các nhận xét của các nhà Bác học Pháp về Hỏa Xá và Thủy Xá. Các tác giả Ad. Leclère, Lavallée Guerlach, Jouin đều có nói đến 2 vị thủ lãnh Jarai.

Nhưng tất cả đều dựa vào các truyền thuyết hoặc người Bahnar hoặc người Rhadé, hoặc người M'nong nói đến Hóa Xá và Thủy Xá. Vì vậy ta thấy không được rõ rệt lắm. Chỉ có hai Bắc học L.M. Dournes hiện ở Cheo Reo, và B. Lafont là đã sống trọng xã hội Tarai nên đã biết tương đối rõ rệt hơn về hai vị thủ lãnh Jarai nhưng tiếc rằng L.M. Dournes chưa viết gì vè đồng bào Jarai, những công trình khảo cứu của ông hiện đang in chưa xong. Tuy vậy ông Lafont cũng cho tôi biết qua về các thủ lãnh Jarai Hỏa Xá và Thủy Xá, theo ông thì có 3 vị thủ lãnh. 1. Đối với người Jarai ở phía Đông Nam Cheo Reo vị thủ

Trang sách 172Patau Keteo (vua gió, Sadet du vent) là quan trọng. Trái lại người Tarai ở phía Bắc và ở phía Tây không biết đến vị thủ lãnh này. 2. Người Jarai ở Ia Hleo và người Rhadé ở phía Bắc tỉnh Darlac coi Thủy Xá là quan trọng. 3. Hỏa Xá (Patau Pui, Sadet du feu) đều được tất cả người Jarai và các bộ lạc Thượng kính sợ. .

Theo người Jarai thì Hỏa Xá có thể làm ra các bệnh dịch và hạn hán. Nhưng trái lại nếu được thỉnh cầu thì Hỏa Xá có thể làm ra mưa, vì vậy nên đồng bào Jarai khi cần đến phép của Hỏa Xá để có mưa, cũng gọi là Hỏa Xá là Thủy Xá.

Chính các đồng bào Jarai cũng dùng danh từ Hỏa Xá và.

Thủy Xá một cách không nhất trí như vậy, nên Bác sì Jouin mới bị lầm Thủy Xá là người nối nghiệp Hỏa Xá.

SỰ TÍCH CỦA HỎÁ XÁ THEO TRUYỀN THUYẾT CỦA NGƯỜI M'NONG (Tài liệu của AD. Leclère) Một thần thoại của người M'nong nhưng có lẽ thần thoại này có nguồn gốc ở Cam Bốt mà ra, kể một cách khác sự tích của cây gươm thần.

Ngày xưa có hai anh em người M'nong là Prang và Lyang cùng sống chung với nhau. Một hôm người em út là Lyang tìm được hòn đá quí có phép lạ có thể xuyên qua mọi vật có thể sát hại hoặc làm tan vật đó.

Sau nhiều sự bất hòa, Lyang bị người anh đuổi đi, Lyang đi theo giòng sông và đi tới đất Tuy Hao (?) tại Trung Hoa.

Lyang được một cặp vợ chồng già nuôi.

Trang sách 173Vua Trung Hoa phải đem công chúa Noong Pon dâng cho một con rồng. Lyang định cứu công chúa Noong Pon. Muốn vậy Lyang đi đến đất của người Yeak. Người Yeak thuộc loại yêu tinh, nhưng cũng có khi rất lành. Vì Lyang làm được nhiều phép lạ nền được người Yeak kính phục. Lyang nhờ vua của Yeak lấy hòn đá qui đánh thành một cây gươm. Vua Yeak bằng lòng lấy hòn đá quí cho vào lò lửa và đánh thành gươm.

Gươm này có thể chém được các cây cối rất lớn mà không bị sứt mẻ.

Khi đã có gươm quí Lyang vội trở về cái lâu đài trong đó công chúa Noong Pon đang đợi con rồng tới. Lyang lãy gươm quí chặt được đầu rồng. Sau đó, Lyang xin công chúa Noong Pon đừng nói sự thật với vua khi vua đốn tìm công chúa.

Sau bảy ngày nhà vua không thấy con rồng trở lại, liền sai người đi xem xét, khi được báo tin là con ròng đã chết, nhà vua đi đến cung điện và hỏi công chúa tên người đã cứu thoát được công chúa. Công chúa Noong Pon nghe lời Lyang nên bảo không biết là ai và chỉ trao lại cho vua cái vỏ gươm và cái mép có tua của chiếc khăn quàng của vị ân nhân đó.

Muốn tìm ra người đó, nhà vua cho họp hết các người M'nong, người Jarai, người Samré, người Stiêng vì những giống người này dùng gươm và khăn quàng, nhưng không một cái gươm nào vừa với cái vỏ đó và không một cái khăn quàng nào •hợp với viền có tua, vì vậy nhà vua cho gọi các người Cam Bốt, người Ăn Độ, người Lào, người Xiêm, nhưng cũng không tìm thấy vị ân nhân đã cứu được công chúa.

Nhưng nhà vua nghe thấy có một người M'nong hiện ở nhà vợ chồng già đã nuôi Lyang. Vua sai người đi gọi người đó, nhưng người này không chịu đến. Vua sai mười, rồi năm chục, rồi hai trăm người lần lượt đến mời người đó, nhưng cũng vô ích. Lyang chỉ đưa cho họ xem thanh gươm và khăn quàng và bảo họ đem trình nhà vua. Hai trăm người muốn mang thanh

Trang sách 174gươm, nhưng tất cả mọi người cùng chung sức cũng không nhắc nồi thanh gươm quí.

Mãi sau Lyang mới ra trình diện, nhà vua trọng thưởng và gả công chúa cho.

Sau này Lyang nối nghiệp vua và trị vì nước Trung Hoa nhưng rồi có cuộc chiến tranh, Lyang thua trận phải bỏ đi và để thất lạc thanh gươm quí. Lyang đẻ bao gươm ở Cam Bốt cán gươm ở Xiêm và nhà vua mang lưỡi gươm lên đất Jarai.

Giáo sư NGUYỄN THẨM Tìm hiều đồng bào Thượng Nguyệt San Quê Hương số 29 CHÍNH SÁCH CHƯ HẦU ĐỐI VỚI CÁC SẮC TỘC THƯỢNG MIỀN NAM Ở NGOÀI TRẤN NAM Trấn Nam hay Sơn Phòng Trấn chẳng qua chỉ là nơi mà nhà cầm quyền Việt Nam dùng làm thí điểm cho việc tìm kiếm Chính sách Thượng vụ đối với các sắc tộc Thượng tại miền Nam, những chính sách thực hiện ở Sơn Phòng Trấn nếu có kết quả sẽ được đem áp dụng cho các bộ lạc vùng Cận Sơn đọc theo phía đông dãy Trường Sơn từ Quảng Nam vào tới Ninh Bình Thuận, còn các bộ lạc khác vùng Bình Trị Thiên và các sắc tộc lớn trên Cao Nguyên hàu như thoát hẳn ra ngoài sự kiểm soát của Triều đình Việt Nam và được coi là những Thuộc quốc, Thuộc Mar Các sắc tộc trên Cao Nguyên gồm những sắc tộc lớn như Sédang, Bahnar, Djarai, Rhadé, Maa v.v... Mỗi sắc tộc ở riêng

Trang sách 175từng khu vực. Đặc biệt nhất là sắc tộc Diarai, được lãnh đạo bởi hai pháp sư Hỏa Xá, đã từng một thời hùng mạnh đàn áp các sắc tộc bạn như Rhadé và Bahnar vào cuối thế kỷ thứ XVIII.

Mặc dù các sắc tộc trên đã lần lượt trở về với cộng đồng Quốc gia Việt Nam từ thế kỷ thứ XV, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam bận rộn với nạn phân tranh, nội chiến, lại phải đối phó với ngoại xâm, nên vẫn để cho các sắc tộc này tự lập, tự tồn. Thậm chí trong khoảng thời gian từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX các sắc tộc Djarai - Bahnar - Sédang - Rhadé có những biến động lớn lao, sắc tộc nọ đàn áp sắc tộc kia đến nổi một vài bộ lạc nhỏ đã lầm vào tình trạng hầu như bị tiêu diệt mà Triều đình Việt Nam cũng không biết tới.

Việc giao tiếp giữa Triều đình Việt Nam với các Thuộc quốc, Thuộc Man dựa theo tiêu chuẩn áp dụng cho các nước chư hầu : hàng năm phải đóng thuế và bạ năm một kỳ phải triều cống.

Như phần trên đã trình bày : Hai phiên vương Hỏa Xá và Thủy Xá đã được Ông Bùi Tá Hán tiến cử và được Triều đình Việt Nam tấn phong, nhưng rất tiếc là hiện nay chúng tôi không có sử liệu để được biết sự giao tiếp giữa các Phiên quốc này với Triều đình Việt Nam từ thời Chúa Nguyễn đến ngày Nguyễn Vương thống nhất sơn hà ra sao. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể đoán được là sự liên lạc này không có gì đặc biệt.

Từ đời vua Gia Long, nhờ có tập NHU VIỄN trong Khâm định Đại nam Hội diễn sự lệ được biên soạn theo dụ chỉ của vua Thiệu Trị và Tự Đức nên được biết phần nào về sự giao tiếp của Triều đình nhà Nguyễn với các Thuộc quốc, Thuộc Man.

NHU VIỄN, theo định nghĩa của Viện khảo cổ trong bản dịch của ông Tạ Quang Phát và Bửu Cậm do Bộ Văn hóa Giáo dục xuất bản năm 1965 (tập I) thì : « Nhu là an, viễn là xa. Nhu

Trang sách 176Viễn là nói về cái đức của bậc để vương phô cập gần xa làm cho dân chúng nơi nơi đều được yên ổn và kính phục Triều đình...

Phần Nhu viễn trong bộ Khâm định Đại nam Hội diễn sự lệ gồm ba quyền, trong đó ghi chép đầy đủ chi tiết những việc như :

Vua chúa hoặc sứ bộ các nước đến triều yết vua ta ; thiết lập và bảo vệ sứ quán, đón và đưa các sứ bộ... », nghĩa là bao gồm tất cả chính sách ngoại giao với các nước bạn và làm yên các Thuộc quốc Thuộc Man của Triều đình nhà Nguyễn.

Căn cứ theo bộ Nhu viễn này thì các địa phương thuộc ảnh hưởng của hai pháp sư Thủy Xá và Hỏa Xá (toàn bộ khu vực của sắc tộc Diarai, một phần đất thuộc Bahnar ở phía bắc và Rhadé ở phía Nam) được coi là Thuộc quốc, các bộ lạc và sắc tộc khác là Thuộc Man.

Sau đây là những đoạn trích trong tập Nhu viễn nói về chính sách của Triều đình nhà Nguyễn đối với các Thuộc quốc và Thuộc Man kể trên.

I. Đối với Thuộc quốc - Năm Minh Mạng thứ Io (1829), nước Thủy Xá phái người đến Trấn Phú Yên kêu xin nạp cống.

- Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) triều nghị chuần định cho sứ bộ Thủy Xá đến Kinh đô dâng cống.

- Sứ bộ được tỉnh Phú Yên « phái người đến đồn Phú Yên nghinh tiếp về công quán ở tỉnh yên nghỉ, khoản đãi. Đến khi sứ bộ lên đường, tỉnh Phú Yên phái một viên Thông phán hoặc Kinh lịch sung chức trường tống, lại phái một cai đội chỉ huy hai mươi lính hộ tống sứ bộ ấy. Đến chỗ giao tiếp giữa hai tỉnh thì quận viên chuyển đưa sứ bộ ấy với viên Trường tống và viên thông ngôn, tất cả bảy vị, cứ mỗi vị được cấp một cái võng với hai phu khiêng tư trang của sứ bộ và năm quân binh đi theo ».

Trang sách 177" Bộ Lễ thông tư cho các hạt Bình Định, Quảng Nghĩa, Quảng Nam, mỗi nơi phải phái quân viên cùng dự bị phu trạm theo thứ tự các hạt mà nghình tiếp ».

Tại Kinh đô, sử bộ được Bộ Lễ tiếp rước trang trọng với đầy đủ lễ nghi dành cho sứ giả của một Tiều Quốc.

Khi vào triều cống, sứ bộ Thủy Xá được Vua vời lên Điện ủy lạo hỏi hạn (xét rằng việc triều cống của nước này là thuộc làn đầu, nên được Vua vời lên ủy lạo hỏi han để biều thị cải ý làm yên lòng người ở xa đến). Còn khoản ban trà thì vẫn bỏ ».

Căn cứ vào đoạn văn này thì mặc dù hai Phiên vương Thủy Xá và Hỏa Xá tuy được tấn phong từ giữa thế kỷ thứ XVI nhưng mãi đến năm 1831 Thủy Xá mới bắt đầu liên lạc nạp cống với Triều đình Việt Nam, còn Hỏa Xá mãi đến đầu năm Thiệu Trị (1841) mới Triều cống.

Vua truyền thưởng cho Phiên vương Thủy Xá : "... gấm nhà Tống 2 cây, vũ đoạn 2 tấm, trứu sa 2 xấp, sa la ta 8 tấm. Cho sử thần bạch kim to lượng, trứu sa lam 1 đoạn, quế sa ta 2 tấm, là màu 3 tấm, áo tạy hẹp bằng khoáng nhung tây lót vải vàng 1 cái, quần bằng trứu sa trơn màu lam và bằng trứu sa màu cánh kiến mỗi thứ 1 cái. Cho bốn kẻ đi theo mỗi người bạch kim 5 lượng, trứu sa trơn 6 thước, áo tay hẹp bằng vũ đoạn màu lục lót vải vàng 1 cái, quần bằng trứu sa và bằng đại sa màu cánh kiến mỗi thứ 1 cái. Cho năm tên đi theo, mỗi người bạch kim 2 lượng, đại sạ màu cánh kiến mỗi người i đoạn. Cho người thông ngôn áo tay hẹp bằng the lam I cái, quần bằng trứu sa màu cánh ,kiến 1 cái.

Trên đường về sứ bộ cũng được đưa tiền trang trọng như lúc đi.

Sau làn sứ bộ Thủy Xá đến kinh đô triều cống đó, nhà vua đinh nghị chuẩn định " về sau hề đến kỳ nước Thủy Xá

Trang sách 178đến cống, khi sứ thần ấy đến an nghỉ nơi công quán ở Phú Yên, thì viên Trấn quan ấy phải tâu báo chọn ngày tốt trần thiết các đồ nghi trượng ở Hoàng cung. Trước sân phải đặt bàn riêng để các phầm vật dâng cúng ».

" Viên Trấn quan và các quan binh của hạt ấy đều mặc phầm phục và phân ban ra, dẫn sứ thần nước ấy cung kính làm lễ triều cống, 5 lạy rồi làm lễ bái tạ. Trống quan ấy thu nhận các phầm vật dâng công khoản đãi và chờ Bộ Lễ giao phát các phậm vật tặng thưởng cùng tờ thiếp đỏ với công văn, lại lựa ngày tốt cần thiết như lúc đầu rồi dẫn sứ thần nước ấy quỳ. Một viên quan thuộc Trấn mũ áo đàng hoàng đọc tờ thiếp sứ thần ấy lại làm lễ bái tạ rồi đi ra ».

Mặc dù có đình nghị nạp cống ở Phú Yên như trên, sứ bộ Thủy Xá vẫn còn đến Kinh đô Huế triều cống, chúc thọ, mừng lễ đăng quang v.v... nhiều làn nữa. Vào những năm Minh Mạng 15 (1834), 21 (1840); năm Thiệu Trị (2841) và năm đầu Tự Đức (1848), Thủy Xá và Hỏa Xá cũng cử sứ bộ về Kinh đô mừng lễ đăng quang.

Qua những lần tiếp xúc với sứ bộ Hỏa Xá, và Thủy Xá, nhà vua đã có ý định nâng đỡ cho các sắc tộc Thượng bớt tự ty mặc cảm và cải thiện dân sinh. Ý định đó được biểu lộ qua các chỉ dụ như sau :

« Năm Minh Mạng thứ 15 (1834) có chi dụ day từ trước đến nay tất cả những tờ biểu văn của nước Thủy Xá cùng những dụ chỉ, tấu, báu, chương, sở khen thưởng nước ấy có dùng chữ Ma phải bôi sửa ra chữ Lung cho dùng xưng hô. (Xét rằng tục nước ấy, người có quan chức gọi là Lung, mới sửa gọi là Ma) ».

" Lại có chỉ dạy : làn nầy Quốc Trưởng nước Thuy Xá đã theo hạn kỳ dâng cống, kính thuận đáng khen nên đã dạy cho sứ thần nước ấy đến kinh đô chiêm cận. Nhân nghĩ đến chánh và phô sứ nước ấy đã rong ruồi từ xa đến chẳng từ lao khồ

Trang sách 179cũng đáng xót thương, ngoài phần thưởng cấp theo định lệ, Trâm gia ân cho Hữu Ty tức thì lãnh vật liệu cắt may áo mão thường triều a bộ tùng thất phầm văn giai, ngày sứ bộ ấy đến công quán thì trước tiên phải ban thưởng cho chánh và phó sứ mỗi người i bộ đề có sản khi hành lẻ tiến cống >. • Lại có dụ dạy : « Năm nay nước Thủy Xá đúng đến kỳ dâng cống, nay Quốc vương nước ấy là Ma Lâm cần thận ủy thác các bồi thần là Ma Duyên Ma Tài làm chánh sứ và phó sử đến Kinh đô triều cống kính dâng phầm vật, Trăm nghì nước đó ở vào một góc xa xôi, thắt nút dây mà cai trị, tự cày lãy mà ăn, phong tục còn theo người Thượng cồ, nhưng người đều có đủ tóc và răng như chúng ta ắt phú bầm của họ cũng có năng trí thì sao lại không có thể giúp họ làm lành được ?

Cho nên Thánh nhân đã lấy văn minh mà giáo hóa man rg, phải lấy lễ nghĩa dẫn dắt họ, khiến họ ngày ngày theo phong tục văn minh : bèn trước định kỳ ban thưởng cho sử thằn này áo mão toàn bộ ». • Hôm nay Trầm ngự điện cho sứ thần ấy triều cống, Trầm thấy tận mắt bọn họ áo mão từ chỉnh, quỳ lay thung dung đều hợp lễ tiết, lòng Trẩm khen thưởng sâu xa, những phầm vật gì để ban thưởng thì hãy cho thu nhận. Lại thưởng thêm cho hai người sứ thần ấy mỗi người sa đoạn mỗi thứ một cụốn; • cho một viên thông sự the ta hai tấm ; cho ba viên hành nhân mỗi người mẫu ty một tấm, lại ban thưởng cho chánh sứ họ Lĩnh, vẫn giữ tên Duyên, cho phó sứ họ Kiệu, vẫn giữ tên Tài, khiến cho biết tên và họ đề nhiễm theo phong tục văn minh (Tứ dữ Thuộc quốc).

Vào năm đó, cũng nhằm mục đích đè cho các Thuộc quốc nhiễm theo phong tục văn minh, nhà vua còn ân thưởng ngoại lệ cho Phiên vương Thủy Xá :

- I bộ đồ uống trà bằng sứ tây.

- I bộ đồ uống rượu bằng pha lê.

Trang sách 180- Một cái hộp pha lê vẽ chỉ vàng có cả dĩa.

- Một cái hộp bằng pha lê in bóng.

- Hai nhần vật bằng mã não đỏ. :I Đối với Thuộc Man Thuộc Man gồm các bộ tộc nhỏ, ở trong Nam, khu vực của các Bộ tộc này được gọi là Mương, ngoài Bắc là Châu.

Theo Như Viễn thì trong những năm đầu niên hiệu Gia Long, Tù Trưởng của các Mương và các Tri Châu đều đã đến Kinh đô dâng cống.

Các Thuộc Man có bồn phận hàng năm phải nạp thuế ở các Trấn đã định. Các bộ tộc trong vùng Trắn Man cũng chịu chung lệ ấy. Việc đến kinh đô dâng cống là một đặc ân không phải là thông lệ, và theo sự ghi chép trong Nhu Viễn thì hình như chỉ các bộ tộc vùng Bình Trị Thiên là năng tới kinh đô, còn các bộ tộc ở xa kể cả vùng Trấn-Man thì chỉ tới kinh đô vào những dịp Đại lễ.

Trên đường đi và về, các phái bộ Thuộc Man cũng được tiếp đãi, đưa rước tử tế, binh lính hộ tống, giữ an ninh chặt chẽ.

« - Năm Gia Long thứ 4 (1805)... Lại nghị chuần hể rợ Cam Lộ đến cống thì được doanh Quảng Trị phái quân viên thuyền bè hộ tống đến kinh đô. Lúc trở về vẫn do binh thuyền của doanh Quảng Đức và Quảng Trị luân phiên đưa về nước ».

« - Năm Gia Long thứ 8 (1809)... Lại triều nghị chuần định khi rợ cống ở Cam Lộ dâng cống thì doanh Quảng Trị phái thuyền và quân binh đến bến Cam Lộ nghinh tiếp đến tỉnh lỵ. Một viên quan ở công đường hộ tống sứ bộ đến kinh đô ».

Khi sử bộ trở về thị doanh Quảng Đức phái năm chiếc

Trang sách 181thuyền, I viên cận sự, 20 quân binh hộ tống đến xã Phương Lang. Doanh Quảng Trị phái quân viện tiếp đón hộ tống đến chợ Cam Lộ mới thôi ».

« - Năm Minh Mạug thứ 10 (1829), triều nghị chuẩn định cho rợ cống ở Cam Lộ đến cống thì doanh Quảng Trị chiếu lệ cũ nghinh tiếp đến trấn rồi vẫn phái một viên thông phán do đường thủy hộ tống đến Kinh đỏ. Phủ Thừa Thiên ra lịnh cho quân binh có khi chờ ở bến cửa Đông Bắc tiếp đón sử bộ ấy đến công quán mà vẫn để quân binh ấy ở lại hộ vệ giữ gìn ».

«- Đến khi sứ bộ ấy trở về thì được binh thuyền Phủ Thừa Thiên đưa đến cầu ranh giới Quảng Trị rồi thuyền và quân binh ở Quảng Trị đưa đến Cam Lộ, Khi vào triều cống, phái bộ Thuộc Man phải chiêm vọng ở ngoài, chỉ trong những trường hợp đặc biệt mới được vào sân chầu chiêm bái.

Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nghị chuần cho các thồ ty chín châu phủ Cam Lộ đến Kinh Đô chiêm vọng, Vua ngự ở điện chính cho phép dân những thồ ty cùng các trưởng tống viên ấy mũ áo đàng hoàng do cửa hữu túc đến sân chầu làm lễ năm lạy rồi được dẫn ra ngoài. Về sau hể gặp ngày song nhật, viên quan Bộ Lễ dẫn người ấy mặc đồ thường đứng chờ ở phía ngoài Hữu đoan môn, như gặp xe vua đi ra ngoài hoàng thành thì được phép đi theo chiêm ngưỡng ».

"- Năm đầu Thiệu Trị (1841)... Bọn thổ ty chín châu phủ Cam Lộ lại đến Kinh đô chúc mừng lể lên ngôi, được cho phép chiêm bái, nghi thức cũng đồng như của hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá.

« - Năm đầu Tự Đức (1848) bọn thô ty chín châu phủ Cam Lộ đến Kinh đô chúc mừng lễ lên ngôi, được cho đến chiêm bái, nghi tiết cũng như hồi năm đầu Thiệu Trị ». (NV - Triều- cận).

Trang sách 182Phần thưởng nhà vua ban cho các phái bộ Thuộc Man cũng rất đặc ,biệt :

Năm 1822, Vua Minh Mạng thưởng cho các sứ bộ Thuộc Man về Kinh đô lại mừng gồm :

- Năm viên tống thưởng mỗi người được :

Năm lạng bạch kim, Một áo trận bằng nhung màu lam lót màu cánh kiến.

Sáu thước trứu sa trơn màu lam.

Một tấm the thơm màu cánh kiến.

Ba tấm là màu hoàn mặu.

- Quan lang mỗi người được :

Một cái áo trận bằng trừu màu lam lót vải đỏ.

Một đoạn đai sa màu cánh kiến.

- Và mỗi man dinh được một tấm vải đỏ.

Về sau, nhằm mục đích cải thiện dân sinh cho các sắc dân Thuộc Man, nhà vua đã dành cho các phái bộ Thuộc Man những tặng vật hữu dụng hơn. * - Năm Minh Mạng 10 (182g)... Lại có dụ day : Những thò ty đạo Cam Lộ bấy lâu là bề tôi của triều đình đời đời giữ việc dâng cống, năm ngoái nhân dịp biên vụ ấy mới nghe được triều đình với liền tề tựu ngay. Trầm xem lòng cảm kích của chúng chân thành nên đã xuống chỉ dạy kỷ dâng cống năm nay, khi bọn ấy đến Kinh đô nhận thưởng từ nay, khi bọn ấy đến Kinh đô triều đình bèn thưởng cho ba viện Tri Châu người bản thổ đị đến ấy áo mão thường triều mỗi người một bộ đề tỏ lòng khen thưởng. Hôm đó quan Bộ Lễ dẫn bọn thờ ty ấy vào lạy chầu theo nghi thức cung kính làm lễ dâng cống và tạ ơn. Cách họ lay quỳ, khi tiến khi dừng, xem ra khá trang nhã

Trang sách 183thuần thục, Trầm nhân nghĩ bọn họ ở nơi hẻo lánh xa xôi từ trước tới nay chưa từng tập tành lễ độ, làn này mới mặc đồ đội mão theo nghi pháp lại có thể chiêm cận ở chốn điện đình không trái với lễ nghi, dường như việc chịu cảm hóa ấy đã do lòng chân thành mà ra, thật là đáng khen, ngoài các hạng phầm vật theo lễ thưởng và gia thưởng đã có sắc lệnh cho bộ ấy tuân theo mà châm chước và đợi chiếu chỉ ban cấp. • - Nay trước tiên đem những bỗ tử màu xanh trong bộ y phục tùng thất phầm của ba viên tri châu người bản thồ ấy đang mặc đồi cho thứ màu đỏ đề rõ lễ đặc cách ». * Lại thưởng cho ba viên thổ tri châu ấy và sáu người đi thay, mười bảy viên thổ lại mục, tất cả hai mươi sáu viên áo • dài bằng the thiệt mỗi người một cái, cho mười viên đầu mục, mỗi người áo dài bằng the thiệt một cái, khiến cho bọn ấy đều biết tập theo phong hóa mặc áo, đội mão đề thanh ủy và giáo hóa của triều đình làn lăn truyền mãi vộ cùng . (NV - Tứ dữ Thuộc Man).

III. Các biện pháp an dân khác - Đào tạo thông ngôn và phiên địch Thượng ngữ :

Đề hiều rõ dân tình và được biết rõ ràng về các bản văn ngoại quốc cùng các Thuộc Quốc, Thuộc Man. Vua Gia Long cho tuyển dụng tại các thành trán một số thông dịch viên Thượng ngữ đảm nhiệm các công tác thộng ngôn, thông sự, hướng dẫn sử bộ (hành nhân) và phiên dịch các bản văn Thượng ngữ.

Những thông dịch viên này được xếp vào hàng Hàm Bát phầm và cửu phầm.

- Năm Minh Mạng thứ 8 (1827), nhà Vua cho thiết lập hành nhân ty, lại lập Chánh Bát phầm Hành nhân và Chánh Cửu phầm Hành nhân.

Trang sách 184- Năm Minh Mạng thứ 15. (1834)... • lại có dụ rằng : Từ nay hề có thư từ của nước Phiên thuộc gởi tới phải tức khắc dịch ra Quốc âm và đệ lên chung với lá thư chánh, bất tất phải dịch ra chữ nho ».

" Bài dịch phải căn cứ ở bản chánh, sự lý dịch ra phải đều minh bạch, cần thiết là không thể tự ý thêm một chữ hay bớt một chữ có thể đưa đến tội không nhỏ ».

Tiến lên bực nữa, nhằm đào tạo những thông dịch viên người địa phương, năm Minh Mạng thứ 15 (1834), « nhà vua ra lịnh cho ấn quan ở Bộ, Viện về cách lựa chọn trong số con em của các thuộc viên, cho quan kinh doãn lựa chọn trong số Sĩ dân ở hạt, những người từ Iô tuồi trở xuống tính chất khá minh mẫn lại biết qua kinh sử, văn nghĩa, do Bộ Lễ lập danh sách phân loại tâu lên, quan phải ưu đãi cấp lương khiến chúng học tập ngôn ngữ, chữ nghĩa của các nước Tây dương và Phiên thuộc, chờ khi chúng học tập xong thì đem những người có kiến thức có thể dùng được sẽ liệu lường mà thâu dụng...»

- Phủ dụ Thượng dân và các biện pháp đối với quân binh hoạt động trên vùng Thượng.

Năm Minh Mạng thứ 2 (1841) nhà vua quyết định vẽ bản đồ Quốc gia từng vùng, từng địa phương để dùng vào công việc Quốc phòng. Công tác được giao cho Giám thành Phó sứ Đỗ Phúc Thịnh cùng binh sĩ đến các Đạo, các Mương khảo sát. Vì sợ những cuộc hành binh làm cho Thượng dân kinh động và đề phòng ngừa binh sĩ ức hiếp dân, nhà Vua đã nghiêm quân lịnh ngăn cẩm binh sĩ không được sách nhiễu, nhờ vả thổ dân, mua bán phải phân minh, ngoài ra còn ban dụ cho Tù trưởng ở các vùng hành binh gồm Mương Vanh, Trà Bôn, Thượng Kế, Phá Băng, Xương Cầm, Trầm Bòn, Lang Thần thuộc đạo Cam Lộ như sau : • Từ xưa khi có Quốc gia, phàm đã thuộc trong bản đồ

Trang sách 185phải rõ ràng cương giới, các mương của các người đã thuận phục làm tôi của bản triều đã hơn hai trăm năm, giữ phận triều cống hàng năm, lòng chung thuận thành thật ẩy rất đáng khen.

Chỉ vì núi sông đường xá chưa được rõ ràng, nên nay chuẩn cho viên Giám thành Phó sứ Đỗ Phúc Thịnh dẫn binh lính do bọn quản đạo Tôn Thất Thành, Nguyễn Văn Ngôn đến những đạo ở các mương của các người xem dò núi sông đường sá vẽ thành bản địa đồ tiến dâng lên xem để làm công vụ chế trị và giữ nước. Chỉ vì dân chúng ở biên viên của các ngươi chưa hiều ý ấy, nên đặc biệt có dụ này đề dạy cho biết, các người phải bảo cáo, khiến cho tỏ cái ý đầy ơn đức của Triều đình. Khi quân của viên Giám thành đến đấy, các người phải hướng dẫn minh bạch, chở khá kinh hãi nghi ngờ. Còn việc tiêu pha trong cuộc hành trình mỗi ngày của quân viên, Trầm đã cấp: phát thừa thãi, dồi dào, việc mua bán trong lúc thi hành cốt phải được thuận tình. Những tệ đoan và yêu sách, ức hiếp đều đã nghiêm cẩm ngăn dứt, không phiền các ngươi phải cực nhọc cùng cấp ».

- Tỏ lòng xót thương dân.

Chương Tuất Điền trong Nhu Viễn nói về những trợ cấp của nhà vua cho các lân quốc và Thuộc quốc, Thuộc Man mỗi khi những quốc gia hoặc Bộ tộc này có việc tang chế hoặc gặp nạn. • Toàn chương không thấy đề cập đến các thuộc quốc trên Cao Nguyên, chỉ có một đoạn nói về việc nhà vua chu cấp cho mãy người trong phái bộ của các Thuộc Man như sau : * - Năm Minh Mạng thứ 21 (1840) chỉ dụ dạy làn này trong số những người Thổ ty, lại mục đến Kinh đô lạy chầu có tri câu n bn T d cu T Bang la Lnh ciêu, lại mục người bản thổ ở Xương Thịnh là Chiều Mang, thông ngôn ở phủ Trấn Man là Nguyễn Bá Mai, lần lượt bị bệnh mà mất, thật đáng thương xót, gia ân cho Lãnh Chiều được chu cấp tiền năm mươi quan, cho Chiêu Mang tiền hai mươi quan, cho Nguyễn Bá Mai

Trang sách 186tiền 6 quan, do hai tỉnh Quảng Trị và Thạnh Hóa xuất tiền kho cấp phát đề tỏ lòng thương xót ».

Tóm lại, chính sách của nhà Nguyễn đối với các Thuộc quốc, Thuộc Man và chính sách an dân đề cho địa phương tự trị, cốt sao cho các sắc tộc Thượng một lòng thằn phục, đừng quấy nhiễu vùng trung châu trong khi Triều đình còn đang phải đối phó với sự dòm ngó của các nước Âu chậu và cũng vì chưa tìm kiếm ra một chính sách thỏa đáng đề đặt các sắc tộc Thượng. vào sự lãnh đạo thống nhất của Quốc gia.

Mặc dầu mục đích của chính sách này quá nhỏ hẹp nhưng cũng cho ta nhiều kinh nghiệm thực tế và quí báu là cần phải có sự bình đẳng và rộng lượng trong việc giao tiếp với người Thượng, phải biết thưởng đúng lúc và rộng rãi, ngoài ra Triều đình nhà Nguyễn cũng tỏ ra rất sáng suốt trong việc giáo dục binh sỉ, xây dựng và đào tạo cán bộ vậy.

Trích « Sơ lược về chính sách Thượng vụ trong lịch sử Việt Nam » của Paul Nur TIẾN VỀ HƯỚNG NÚI ÔNG LÊ VĂN QUYỀN Người Việt Nam ưa lập nghiệp quanh quần ở chốn bình nguyên. Con đường phát triển sinh lực dồi dào của dân tộc là con đường Nam Tiến, đã từ lâu, chúng ta được nghe mãi luôn điều này. Sự thật nhận định trên chỉ là một cái đúng phiến diện. Chỉ nhìn thấy có một nửa sự thật. Người yêu nước làm sao thâm cảm với truyền thống hào hùng chiếm trọn miền sơn hải có từ thuở dựng nước Văn Lang ? Sử sách thực dân ghi chép như

Trang sách 187phải rõ ràng cương giới, các mương của các người đã thuận , phục làm tôi của bản triều đã hơn hai trăm năm, giữ phận triều cổng hàng năm, lòng chung thuận thành thật ấy rất đáng khen.

Chỉ vì núi sông đường xá chưa được rõ ràng, nên nay chuần cho viên Giám thành Phó sứ Đỗ Phúc Thịnh dẫn binh lính do bọn quản đạo Tôn Thất Thành, Nguyễn Văn Ngôn đến những đạo ở các mương của các người xem dò núi sông đường sá vẽ thành bản địa đồ tiến dâng lên xem để làm công vụ chế trị và giữ nước. Chỉ vì dân chúng ở biên viên của các ngươi chưa hiều ý ấy, nên đặc biệt có dụ này đề dạy cho biết, các người phải báo cáo, khiến cho tỏ cái ý đầy ơn đức của Triều đình. Khi quân của viên Giám thành đến đấy, các người phải hướng dẫn minh bạch, chở khá kinh hãi nghi ngờ. Còn việc tiêu pha trong cuộc hành trình mỗi ngày của quân viên, Trắm đã cấp: phát thừa thãi, dồi dào, việc mua bán trong lúc thi hành cốt phải được thuận tình. Những tệ đoan và yêu sách, ức hiếp đều đã nghiêm cẩm ngăn dứt, không phiền các ngươi phải cực nhọc cùng cấp».

- Tỏ lòng xót thương dân.

Chương Tuất Điền trong Nhu Viễn nói về những trợ cấp của nhà vua cho các lân quốc và Thuộc quốc, Thuộc Man mỗi khi những quốc gia hoặc Bộ tộc này có việc tang chế hoặc gặp nan. :

Toàn chương không thấy đề cập đến các thuộc quốc trên Cao Nguyên, chỉ có một đoạn nói về việc nhà vua chu cấp cho mấy người trong phái bộ của các Thuộc Man như sau : * - Năm Minh Mạng thứ 21 (1840) chỉ dụ dạy làn này trong số những người Thổ ty, lại mục đến Kinh đô lạy chầu có tri châu người bản Thổ ở châu Tá Bang là Lãnh chiêu, lại mục người bản thổ ở Xương Thịnh là Chiêu Mang, thông ngôn ở phủ Trấn Man là Nguyễn Bá Mai, làn lượt bị bệnh mà mất, thật đáng thương xót, gia ân cho Lãnh Chiều được chu cấp tiền năm mươi quan, cho Chiêu Mang tiền hai mươi quan, cho Nguyễn Bá Mai

Trang sách 188tiền 6 quan, do hai tỉnh Quảng Trị và Thạnh Hóa xuất tiền kho cấp phát đề tỏ lòng thương xót ».

Tóm lại, chính sách của nhà Nguyễn đối với các Thuộc quốc, Thuộc Man và chính sách an dân đề cho địa phương tự trị, cốt sao cho các sắc tộc Thượng một lòng thằn phục, đừng quấy nhiều vùng trung châu trong khi Triều đình còn đang phải đối phó với sự đòm ngó của các nước Âu chậu và cũng vì chưa tìm kiếm ra một chính sách thỏa đáng đề đặt các sắc tộc Thượng, vào sự lãnh đạo thống nhất của Quốc gia.

Mặc dầu mục đích của chính sách này quá nhỏ hẹp nhưng cũng cho ta nhiều kinh nghiệm thực tế và quí báu là cần phải có sự bình đẳng và rộng lượng trong việc giao tiếp với người Thượng, phải biết thưởng đúng lúc và rộng rãi, ngoài ra Triều đình nhà Nguyễn cũng tỏ ra rất sáng suốt trong việc giáo dục binh sỉ, xây dựng và đào tạo cán bộ vậy.

Trích « Sơ lược về chính sách Thượng vụ trong lịch sử Việt Nam • của Paul Nur TIẾN VỀ HƯỚNG NÚI ÔNG LÊ VĂN QUYỀN Người Việt Nam ưa lập nghiệp quanh quần ở chốn bình nguyên. Con đường phát triền sinh lực dồi dào của dân tộc là con đường Nam Tiến, đã từ lâu, chúng ta được nghe mãi luôn điều này. Sự thật nhận định trên chỉ là một cái đúng phiến diện. Chỉ nhìn thấy có một nửa sự thật. Người yêu nước làm sao thâm cảm với truyền thống hào hùng chiếm trọn miền sơn hải có từ thủở dựng nước Văn Lang ? Sử sách thực dân ghi chép như

Trang sách 189đình Huế dùng vào các công tác Miền Thượng đều có một tác phong nghiêm chinh giống y như thày, nghĩa là hết sức tín nghĩa với các sắc dân miền núi, đối đải với họ một cách bình đẳng, thân ái, tuyệt đối không dùng mưu lừa chước dối bao giờ.

Lớp người hậu sinh ở thế hệ hiện kim có thề cơi Lê Văn Quyền như một ông tồ huấn luyện cán bộ công tác Thượng vận.

Tuy chỉ lãnh một chức quan nhỏ ở Hành Nhân Ty song Lê Văn Quyền là người có viên lược, muốn mở đặt ngàn dậm.

Cậu bé chăn trầu ở huyện Đồng Xuân thưở nọ vẫn hằng ước mơ lưu lại cho người đời sau một sự nghiệp phi thường. Chiều chiều, đứng bên bờ sông nước Hương Giang, nhìn những đám mây trời bay về Trường sơn, lòng người tuấn kiệt ở đất Phù Yên xôn xao nhiều cảm hoài thương nhớ, Lê Vẫn Quyền mong muốn có cơ hội lên thăm xứ Nam Bàn, tiến về miền Banmé- thuột xa xôi.

Năm 1835, vua nước Thủy Xá là Ma Lam sai hai sử giả là Ma Duyên, Ma Tài đi đường Cùng Sơn xuống Phú Yên, đem các đồ phượng vật như sừng tê, ngà voi, cống hiến triều đình Huế. Vua nước Thủy Xá được triều đình ban cho áo mũ, gấm vóc và được cho danh tỉih là Vĩnh Bảo. Hai vị sử giả cũng được tiếp đãi ân cần. Nhận làm công việc thông ngôn, Lê Văn Quyền có dịp trực tiếp tâu với nhà vua về kế sách biên phòng mở • mang đất nước về phía Tây Trường sơn, đề phòng những tai biến từ bờ sông Khung đưa lại, vua Minh Mạng ngợi khen là người có kiến thức biết lo lắng cho quyền lợi Quốc gia.

Năm 1840, Lê Văn Quyền được lịnh đi thám sát vùng đất Cao nguyên ở ngàn Tây, đặc biệt lưu ý đến hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá ở vùng Banmêthuột. Là một lão luyện trong công tác miền Thượng, Lê Văn Quyền khảo cứu tường tận về lễ nghi, phong tục miền sắp đến từ cách ăn uống đến lối chào đón, xưng hỏ. Phái đoàn Lê Văn Quyền đi từ đồn Phước Sơn, sáu ngày đường đến nơi dự định. Hướng đạo là những bạn thân người

Trang sách 190Thurong mà Le ya Quyên quen bife tử theo còn buôn muối ở Phú- Yên.

Chuyến đi Cao Nguyên dha Ll Vka Quyền có kết quá tốt đẹp, phái đoàm được các vua Hòa Xá, Thủy Xá tiếp đãi trọng hậu, coi như sử giả nhà Trời. Lúc phái đoàn trở về, sử giả Hỏa Xá theo gót đến kinh đ6, cống biến phương vật sừng tệ, ngà voi, vua Hỏa Xá được vua Thiệu Trị bạn cho danh hifu là Ciu Bảo.

Vĩnh Bảo, tên Thủy Xá, Cửu Bảo, tên Hỏa Xả những tên mang âm hưởng Việt Nam. Lê Văn Quyền đã thất chặt tình tương thân giữa hai miền núi biển. Ong là người có viên kiến chính trị, phát triền thế lực lượng Việt Nam đến tận miền ba biên giới Việt, Miên, Lào. Hình thề núi sông, sức đất tốt xấu, thời tiết làm mùa, những chi tiết gì có ích lợi cho cuộc sống nhân dân, Lê Văn Quyền đều lưu ý ghi chép tường tận. Ong còn có ước nguyện như vua Thái Đức nhà Tây Sơn, phát triền giao thương giữa người Việt và các sắc dân núi ở Cao Nguyên Boloven nữa.

Muốn thấy rõ công cuộc thám sát Cao Nguyên của Lê Văn Quyền, chúng ta chỉ cần nhớ lại sự thất bại của nhà thám hiềm người Pháp là O'dendhal vào năm 1904. Lúc ấy, chủ quyền của người Pháp ở Đông Dương đã thật vững vàng, nhưng vì O'dendhal vụng về trong công việc giao tiếp với người miền Thượng nên đã bị dân Thượng phục binh bắn chết. Người Pháp lại coi như Bác sĩ Yersin là người đầu tiên đến Đà Lạt, sự thực thì miền này, Lê Văn Quyền và sau này Nguyễn Thông trước Bác sĩ Yersin cũng đã biết đến tỏ tường.

Chúng ta chỉ tiếc một điều là nhà Nguyễn tuy cũng chú trọng nhiều đến Trường sơn và các Cao Nguyên ở phía Tây sơn tuyến này song không đầy mạnh chính sách Thượng vận như nhà Tây sơn. May có Lê Văn Quyền nên công tác biên phòng ở đây mới khỏi lo ngại. Chiêu dụ bằng ân đức, hòa đồng bằng văn

Trang sách 191hóa người miền núi vào gia đình Việt tộc khỏi có nạn kỳ thị, đó là những tư tưởng chỉ đạo của chính sách Nhu viễn mà các triều đại Việt Nam đã áp dụng từ ngàn xưa.

Lê Văn Quyền là người đã thực hiện chính sách ấy cách nay bơn trăm năm, với tất cả tình thương quảng đại và ý phục vụ cho nước Đại Nam ngày thêm lớn mạnh hùng cường.

Nguyệt san Thượng-vụ số 5 TÙ TRƯỞNG KHUNJUNOB TỪ CUỘC PHIÊU DU CỦA BÁC SĨ YERSIN ĐẾN GÓT CHÂN XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN PHÁP TRÊN CAO NGUYÊN.

Năm 1850, các giáo sĩ thừa sai người Pháp như Linh mục Combes, Dourseboure đến truyền giáo tại xử Bahnar Kontum.

Năm 1860, Linh mục Azémas đến xứ Stieng phía Tây Bắc hạt Đồng Nai thượng. Hai mươi năm sau, Ong Gautier từ Biên Hòa lên Đồng Nai thượng làn theo đường sông đến Stieng.

Nói gót theo những nhà truyền giáo và Ong Gautier, Bác sỉ Yersin từ bờ biền Nha Trạng theo con đường mòn thương mại của đồng bào Thượng xưa (nay là Quốc lộ ai) đi làn lên Cao Nguyên tìm ra hạt Darlac.

Bác sỉ Yersin là người có rất nhiều công nghiệp đổi với Cao Nguyên, ở đây chúng tôi xin có vài hàng giới thiệu tiều sử của Ong. • Bác sỉ Yersin người Thụy sĩ, mẹ Pháp, sinh năm 1863 tại Pháp nên lấy Quốc tịch Pháp. Hời nhỏ, ông làm viên chức tại viện Institut Pasteur ở Paris, sau làm Y sĩ cho Công Ty Compagnie

Trang sách 192des Messageries Maritimes. Nhân dịp công cán Viên Đồng, Ong được thăng làm Trung tá Y sĩ tại Hương Cảng. * Năm 1895, Ong điều khiền viện Pasteur tại Nha Trang, đã tìm ra nhiều phương pháp cứu cấp và ngăn ngừa những chứng dịch nguy hiềm, ngoài ra ông gây giống cây Quinquina tại Hòn Bà (Nha Trang), Dran, Djiring và Đà Lạt ; đài trắc nghiệm thiên văn tại xóm Cồn Nha Trang cũng do ông lập ».

« Ông Yersin tạ thế ngày 3-3-1943 tại Nha Trang thọ được 80 tuồi. Mộ ông chôn cắt tại đồn điền Hévias ở Suối Dầu (t) cách Nha Trang 20 cây số».

Năm 1893, từ Nha Trang Ong Yersin làn theo con đường mòn M'Drack lên Cao Nguyên, xưa kia người Thượng vẫn dùng con đường này đề xuống miền xuôi mua bán vật liệu, thực phầm và mỗi phiên chợ họ thường di chuyền theo cả đàn voi nên tiếng là đường mòn nhưng cũng rất rộng. Nay đường mòn M' Drack đã trở thành quốc lộ 21 và chỉnh trang không kém xa lộ Biên Hòa.

Từ chóp đèo M'Drack, Ong Yersin và tùy tùng thấy một thung lũng mênh mông, đồng ruộng rải rác, xen lăn ít mái nhà sau các làm cây. Ông và tùy tùng tiếp tục đi về phía thung lũng một bữa kia băng qua nhiều bờ ruộng đến một cái hồ, quanh hồ có núi đồi nhỏ bao bọc, từng đoàn trầu lúc nhúc uống nước bên hộ, xa xa có một vài làng ần hiện. Đoàn lữ khách đang ngắm cảnh, chợt quanh vùng vang lên những tiếng cồng, tiếng trống âm vang, rộn rã, báo hiệu thồ dân chuần bị ngăn khách. Bác sỉ và đoàn tùy tùng tiếp tục tiến về phía một buôn (Buộn Kuốp) ở gần hồ, vừa đến nơi thì có trên vài trăm người ùa ra nghênh khách với cử chỉ thiếu thân thiện, khiến đoàn tùy tùng của Bác sỉ phải sợ hãi. (x) Mộ này cách quận ly Cam-Lâm chừng 200 thước. Dân địa phương có lập miếu thờ. Chúng tôi đã có dịp tới tại chỗ ngày 22-9-72. Chú thích của Toan Ánh.

Trang sách 193Một trong đám người thổ dân, có lừ là vị Buôn trưởng hoặc Tà trưởng, chững chạc tiến lên, 'Bác sĩ Yersin cũng lại găn miệng nở nụ cười thân thiện. Thế rồi tuy ngôn ngữ bất đồng nhưng với những cử chỉ thân hữu, phái đoàn của Ong đã chiếm được cảm tình của thổ dân và từ đó thổ dận truyền miệng nhau từ Buôn này tới Buôn khác nên phái đoàn được bình an suốt cuộc hành trình, sau lại có Buôn Ma Uê mời Bác sĩ cùng phái đoàn ở lại chơi gần một tháng đề tỏ tình hiếu khách. Trong thời gian đó, Bác sỉ thăm mạch, chữa bệnh cho dân trọng vùng nên được họ nhắc nhở luôn.

Cuộc hành trình của Bác sĩ Yersin đã dẫn theo đoàn Trường chinh của Pháp. Nhà cằm quyền Pháp theo con đường của đoàn lữ khách Yersin đề tiến lên xử của đồng bào Rhadé và M'nong. • Người Rhadé và M'nong thời đó đang được lãnh đạo bởi các vị Tù trưởng cừ khôi Khunjunob, AmaJhao, M' Trang Cuh.

Trước sự xâm lăng của người Pháp, ba vị Từ trưởng vừa kề đã đứng lên lãnh đạo đồng bào kháng chiến rắt anh dũng.

Trong ba vị ông Khunjunob là xuất sắc nhất. Ong chảng những nòi danh kháng Pháp mà còn lừng tiếng về giàu có khôn khéo trong việc bảo vệ đồng bào dưới thời Pháp thuộc.

TÙ TRƯỞNG KHUNJUNOB Ong Khunjunob tên thật là Y Thu K'nul, sinh khoảng năm 1827 quán tại Bandon, thuộc quận Banmêthuột tỉnh Darlac. Cho . đến nay, có người cho ông thuộc sắc dân Rhadt, có người lại cho ông là người M'nong, nhưng theo tục danh họ Y và K'nul là họ của người Rhadé và vùng Bandon là vùng của người Rhadé, vậy thuyết cho rằng ông Khunjunob là người Rhadé thì đúng hơn.

Tục truyền rằng ông Y Thu Knul thuộc giòng dõi Tù trưởng vùng Badon giòng họ có nghề săn voi rất rành và danh tiếng truyền tung sang tận Miên, Lào, Thái Lan. Thuở bé, Y

Trang sách 194Thu rất nghịch ngợm, táo bạo, thường tự tập trẻ em trong vùng bày trận giả hoặc bắt chước người lớn vào rừng săn voi. Tài xạ tiến của ông bách phát bách trúng, sức khỏe hơn người lại lắm mưu mẹo, nên rất được chúng bạn yêu mến..

Lớn lên kế nghiệp cha làm Tù trưởng, với tài ba sẵn có, tính ông lại nhân từ rộng rãi, thường đem tiền bạc của cải của gia đình giúp đỡ cho những người nghèo khổ trong vùng nên rất được đồng bào mến phục.

Các bộ tộc Rhadé và M'nong dưới quyền các Tù trưởng trước vắn thường có cuộc tranh hùng lẫn nhau, nhưng từ khi ông Khunjunob lên kế nghiệp vị sự khôn khéo và uy danh sẵn có, ông đã dần dần liên kết và giải quyết những bất hòa trong các bộ tộc một cách êm thắm.

Vào năm 1893 khi quân Pháp theo gót Yersin tiến lên vùng Darlac, Ong Y Thu đã liên kết với ông M'Trang Tù trưởng Bộ tộc Bíh vùng Buôn Mblơl và Ama Thao Tù trưởng Bộ tộc Knul, tồ chức mặt trận ngăn chận bước chân xâm lược của thực dân Pháp.

Cuộc kháng chiến của các Tù Trưởng Y Thu, M' Trang Guh và Ama ]hao đã khiến cho Pháp phải chật vật, hao tồn rất nhiều nhân vật, lực khi lên tới vùng Banmêthuột. Nhiều cuộc đụng độ giữa cung tên, giáo mác của quân kháng chiến với súng đạn của Pháp đã xảy ra ác liệt trong rừng Bandon. Tuy rằng võ khí thô sơ không chống nồi với súng đạn tối tân của Pháp, nhưng biện pháp võ lực của thực dân cũng không bình định được thổ dân. Do đó người. Pháp đã chuyền sang chiến thuật chiêu dụ từng Buôn và chỉ thị oai khi gặp sự chống đối mãnh liệt. Với chiến thuật này người Pháp đã dàn dàn đi sâu vào nội địa của quân kháng chiến vùng Bih và Knuì sau lại bắt được hai Tù Trưởng M'Trang Ama Jhao.

Còn ông Khunjunob liệu sức không thề kéo dài cuộc chiến

Trang sách 195đấu đã tự ý đem quân ra hợp tác với Pháp. Người Pháp tiếp đãi ông rất trọng vọng.

Sau khi người Pháp đã thu phục toàn vùng, ông Y Thu Kinul vẫn tiếp tục làm Tù Trưởng vùng Bandon và tiếp tục nghề • săn bắn voi rừng tập luyện thành voi nhà thuần thục, khôn ngoan rồi đem sang Lào, Thái Lan và Miến Điện bán. Tục truyền rằng có làn ông đem dâng voi cho vua Xiêm, được nhà và cái biệt danh Khunjunob cũng là do vua Xiêm vua hậu đãi ban cho trong dịp này.

Gia đình Tù Trưởng Khunjunob giàu có nhất trong vùng Rhadé, trọng nhà luôn luôn có từ 200 đến 300 con voi nhà để đi săn voi rừng, gia súc và các tài sản khác như đồng la, chiêng, trống, ché cô v.v... rất nhiều.

Ong lại là người hiền lành tốt bụng nên đồng bào Rhađé tỉnh Darlac rất kính trọng gọi ông là « Khua Prong Khunjunob» tức là « Vua Khunjunob». Ông cũng là vị Chánh án tòa án phong tục đầu tiên tại tỉnh Darlac.

Năm 1937 ông qua đời trên giường bệnh thọ được vừa đúng 11o tuổi.

Sau ông, người cháu tên là Rleo kế vị và sau là người cháu khác tên Keo, cũng lấy lệ truyền thống kế chân, nhưng hai ông Rleo và Keo tuy kế vị nhưng chỉ hưởng gia tài chứ không có quyền thế như ông Khunjunob.

Mộ ông Khunjunob và ông Rleo chôn ở gàn Bandon còn nhà đất của ông sau bị quân Pháp trưng dụng làm trại binh.

NGUYỄN TRẮC DT Nguyệt san Thượng Vụ Số Xuân Mậu Thân

Trang sách 196CHÍNH SÁCH THƯỢNG CỦA CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM I. Mục đích :

Chính sách Thượng của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, theo đuồi sự thực hiện các mục đích kế sau : 1. Xây dựng tinh thần Kinh Thượng bình đẳng :

Kinh, Thượng đều là công dân nước Việt Nam Cộng Hòa, không phân biệt giống nòi (vì không làm gì có một chủng tộc thuần túy), mỗi giống người đều có ít nhiều sự pha trộn, lai các giống khác.

Kinh, Thượng đều bình đẳng về quyền lợi cũng như về nhiệm vụ, tại khắp lãnh thổ Việt Nam, đồng bào Thượng cũng như đồng bào Kinh, có quyền sinh sống làm ăn như nhau. Việc gì, chức vụ gì mà người Kinh làm được thì người Thượng có đủ năng lực cũng có quyền làm. Hiệu năng như nhau thì Kinh hay Thượng đều được tiền lương, tiền công như nhau. Đồng bào Thượng cũng như đồng bào Kinh phải thi hành tròn nhiệm vụ công dân. Có làm tròn nhiệm vụ, thì Thượng cũng như Kinh mới xứng đáng là công dân Việt Nam Cộng Hòa. 2. Xây dựng tinh thần Kinh, Thượng đoàn kết :

Xóa bỏ mọi ngờ vực, thành kiến chia rẽ giữa Kinh và Thượng từ trước đến nay do thực dân, phong kiến, Việt Cộng gây nên.

Làm cho miền Thượng không còn là nơi rừng thiêng đối với đồng bào Kinh, và ngược lại làm cho thành thị đồng bằng cũng không phải là chốn xa lạ đối với đồng bào Thượng.

Xóa bỏ đầu óc bóc lột, thủ lợi, mua đắt, bán rẻ trong việc giao dịch buôn bán với Thượng.

Trang sách 197Xóa bỏ tính tự cao mặc cảm của một số đồng bào Kinh đổi với đồng bào Thượng, cũng như xóa bỏ tính tự ty mặc cảm của đồng bào Thượng đối với đồng bào Kinh. 3. Xây dựng tinh thần yêu Tồ Quốc Việt Nam :

Làm cho đồng bào Thượng yêu Tổ quốc Việt Nam, hãnh diện về quốc gia Việt Nam mà họ đã đóng góp xây dựng. Kể tên và công trạng các đồng bào Thượng có công với Việt Nam : chống xâm lăng, chống Pháp, chống Việt Cộng.

Đồng bào Thượng cũng như đồng bào Kinh đã góp sức xây dựng Cộng Hòa, đánh đổ quân chủ, thạm gia xây dựng Hiến Pháp. 4. Nâng cao trình độ sinh hoạt của đồng bào Thượng lên bằng đồng bào Kinh.

- Áp dụng mọi biện pháp để nâng cao đời sống của đồng bào Thượng.

- Vận động đồng bào Thượng tham gia công cuộc cải tiến đời sống của họ.

- Khuyến khích giúp đỡ đồng bào Thượng cải thiện cách sống (nhà cửa, áo quần, vệ sinh, phòng bệnh), cách canh tác, • (cày cấy, dùng phân bón, dùng nông cụ), cách nuôi súc vật v.v...

- Khuyến khích bỏ phương pháp làm rẫy đốt rừng vì tai hại chính cho đồng bào Thượng và năng xuất kém. Hướng về trồng lúa người Kinh.

- Khuyến khích dân cư sống quần tụ để mở mang, để phát triển, để đề phòng lưu manh và Việt Cộng.

- Khuyến khích bỏ dị đoan mê tín, thay thế bằng thuốc men nhưng tránh chạm đến tín ngưỡng. Vấn đề này cần phải dày công giáo dục và nhiều thời gian. Tránh chạm tới tục lệ cổ truyền và tín ngưỡng.

Trang sách 198II. Phương châm :

Vì Thượng - Bởi Thượng Vì Thượng :

Nhân viên cán bộ các ngành, các cấp hoạt động tại miền Thượng phải đặt mục đích tối hậu cho mọi công tác của mình là " Vì đồng bào Thượng » mà làm, vì mục đích nâng cao đời sống, trình độ của đồng bào Thượng lên bằng đồng bào Kinh.

Bởi Thượng :

Phải cố gắng sử dụng cán bộ Thượng, đồng bào Thượng trong mọi việc, mọi công tác. Bất cứ việc gì ở miền Thượng, cán bộ Thượng, có đủ khả năng đảm nhiệm thì phải để cho họ làm. Muốn thế, phải giáo dục đồng bào Thượng, đào tạo nâng đỡ, cán bộ Thượng.

III. Chủ trương công tác :

Mỗi Cơ quan, mỗi Đoàn thể, mỗi Ngành, mỗi Bộ chiếu theo mục đích và phương châm minh định ở trên để ấn định chủ trương công tác của mình.

Trang sách 199SẮC LUẬT SỐ 033/67 BAN HÀNH QUY CHẾ RIÊNG BIỆT CHO ĐỒNG BÀO THIỀU SỐ VIỆT NAM CỘNG HÒA ỦY BAN LÀNH ĐẠO QUỐC GIA PHỦ CHỦ TỊCH Số : 033/67 CHÚ TỊCH ỦY BAN LÃNH ĐẠO QUỐC QUỐC GIA Chiếu Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày I tháng 4 năm 1967 nhất là các điều 2, 24, 97 và 98 ;

Chiếu Quyết Định số 3-QLVNCH/QĐ ngày 14 tháng 6 năm 1965 bổ túc bởi Quyết định số 7-QLVNCH/QĐ ngày 6 tháng 6-1966 của Đại Hội Đồng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thành lập và ăn định thành phần Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc gia ;

Chiếu Sắc Lệnh số ooI-a/CT/LĐQG/SL ngày 19 tháng 6 năm 1965 và các văn kiện kế tiếp ấn định thành phần Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương ;

Chiếu Bản thỉnh nguyện của đại diện đồng bào Thiều số toàn quốc tham dự Đại hội Sắc tộc Thiểu số ngày 25, 26 tháng 6 năm 1967 tại Pleiku.

Theo đề nghị của Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia đã thảo luận và biểu quyết.

SẮC LUẬT Điều thứ nhất.

Nay ban hành một quy chế quy định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào Thiểu số trên căn bản ấn định tại các điều 2 và 24 Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa.

Trang sách 200Điếu 2.

I. - Hội đồng các Sắc tộc Thiểu số sẽ được thành lập theo các điều khoản 97, 98 của Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa có nhiệm vụ cố vấn cho Chính phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào Thiêu số. 2. - Cơ quan đặc trách về đồng bào Thiểu số được nâng ngang hàng cấp Bộ trong Chính phú.

Điều 3.

I. - Công chức người Thiểu số tùy theo khả năng, được hưởng những điều kiện nâng đỡ như sau :

- Bổ nhiệm vào các chức vụ tương xứng với khả năng và thiện chí của từng người.

- Được hưởng những điều kiện rộng rãi trong các kỳ thăng thưởng, nhập ngạch, tu nghiệp v.v... 2. - Tùy theo nhu cầu và đề nghị của các cơ quan đặc trách về đồng bào Thiểu số nói ở điều 2 trên, Chính phủ sẽ cho tổ chức các khóa đặc biệt đào tạo nhân viên và cấp chỉ huy người Thiều số các ngành Hành chánh, Tư pháp, Giáo dục v.v...

Điều 4. 1. - Để đáp ứng tình trạng chiến tranh hiện tại, tại miền Cao Nguyên Chính phủ tùy theo nhu cầu an ninh địa phương sẽ cho phát triển, trong phạm vi từng Tiểu Khu, những lực lượng địa phương gồm thanh niên Thiếu số tình nguyện gia nhập và do cán bộ người Thiểu số được đào tạo bởi các Trung Tâm Huấn luyện Quốc gia chỉ huy. 2. - Thanh niên người Thiểu số, tùy theo khả năng văn hóa, được hưởng các biện pháp giảm điều kiện văn bằng để theo học các trường Sĩ quan và Hạ sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trang sách 2013. - Sĩ quan và Hạ sĩ quan người Thiểu số sẽ được lựa chọn và giao phó các chức vụ chỉ huy tương xứng với khả năng và thiện chí của từng người. 3. - Con em quân nhân, công chức hay những gia đình đồng bào Thiêu số có người hy sinh vì tổ quốc, sẽ được thâu nhận vào các trường Thiếu Sinh Quân Cao Nguyên và Quốc Gia Nghĩa Tử Cuộc với những điều kiện nâng đỡ đặc biệt.

Điều 5.

I. - Quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng được tôn trọng. Một Sắc luật về kiến điền dành riêng cho đồng bào Thượng với những điều kiện rộng rãi, phù hợp với thực trạng và tập quán của đồng bào Thượng sẽ: được ban hành. 2.- Một cơ quan nghiên cứu và phát triển nông nghiệp cho đồng bào Thiều số sẽ được thành lập. 3.- Tùy theo tình hình và nhu càu từng địa phương.

Chính phủ sẽ đặc biệt yềm trợ cho các chương trình giúp đỡ đồng bào Thiều số cải tiến kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, mở mang tiểu công nghệ, thương mại, công ky nghệ v.v... và mở mang đường sá trên Cao Nguyên để tiện việc đị lại • buôn bán.

Điều 6.

Tùy theo tình hình và thực trạng của từng địa phương.

Chính phủ sẽ thực hiện những chương trình cải tiến dân sinh cho đồng bào Thiểu số nhắm vào các tiêu chuẩn sau đây :

I.- Thiết lập thêm bệnh xá, nhà hộ sinh, trạm thuốc, đoàn y tế lưu động cùng mở mang các cơ sở Y tế khác và yếm trợ thuốc men, nhân viên cho các cơ sở để chăm nom săn sóc sức

Trang sách 202khỏe cho đồng bào, đồng thời đầy mạnh việc giáo dục vệ sinh, y tế cho đồng bào Thiều số. 2.- Chính phủ sẽ cho mở trường đào tạo cán bộ Y tế các số để tự sắn sóc sức khỏe cho đồng bào cấp người Thiêu Thiếu số. 3.- Trong các trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, thiên cơ vì Cộng Sản v.v... tùy theo nhu cầu, các cơ quan đặc trách về đồng bào Thiểu số cần hoạch định chương trình trợ cấp đặc biệt và hữu hiệu để giúp đồng bào Thiêu số sớm tiến tới tự túc. 4.- Các cơ quan đặc trách về đồng bào Thiểu số nghiên cứu để thành lập thêm hoặc vận động các Cơ quan từ thiện mở thêm cô nhi tại mỗi địa phương.

Điều 7.

I.- Trong chương trình phát triển chung, Chính phủ sẽ mở thêm trường Trung học, Tiểu học, xây cất Ký túc xá để con em Thiểu số có đủ chỗ học hành. 2.- Khuyến khích và cấp thêm học bồng cho con em Thiểu số có phương tiện theo học các trường Trung, Đại học và Chuyên nghiệp trong và ngoài nước. 3.- Trong các kỳ thi lấy văn bằng hay nhập học các trường chuyên môn, tùy theo từng cấp, từng ngành, con em Thiểu số sẽ được hưởng những biện pháp nâng đỡ đặc biệt như : giảm điều kiện văn bằng, dành tỷ lệ hay miễn thi nhập học, tăng điểm để được chấm đậu v.v... 4.- Tại bậc Tiểu học, thổ ngữ Thượng sẽ được dạy kèm với chương trình Việt ngữ, chương trình dạy thổ ngữ sẽ chú trọng đến phong tục, tập quán của các sắc dân. 5.- Hội đồng các Sắc tộc Thiểu số tương lai nghiên cứu và đề nghị lên Chính phủ:

Trang sách 203- Thành lập Viện Bảo tàng nhân chủng để bảo vệ và phát huy nền văn minh cổ của các Sắc tộc Thiều số. •- Thành lập viện nghiên cứu các Sắc tộc để giúp đỡ Chính phủ thiết lập các kế hoạch phát triền đời sống đồng bào Thiều số.

- Hoạch định chương trình cưỡng bách giáo dục con em Thiêu số.

Điều 8.

I.- Các Tòa án phong tục xã, quận, tỉnh tái lập theo Sắc luật số 006/65 ngày 22-7-65 sẽ được duy trì và theo đề nghị của Hội đồng các Sắc tộc thuộc Thiều số, Chính phủ sẽ cho thiết lập thêm tại những vùng chưa có. 2.- Luật lệ bất thành văn của các Sắc tộc Thiểu số sẽ được sưu tầm và lưu giữ.

Điều 9.

Những biện pháp nâng đỡ đồng bào Thiều số ấn định • trong Sắc luật này nhằm mục đích chính là giúp đồng bào Thiểu số sớm theo kịp đà tiến bộ chung của dân tộc. Vì trình độ sinh hoạt của các Sắc tộc không đồng đều, nên đề đạt mục đích trên, các Bộ, các Cơ quan chuyên môn sẽ phối hợp chặt chẽ với các Cơ quan đặc trách về đồng bào Thiểu số nói ở điều 2 để nghiên cứu chương trình, kế hoạch, ban hành những biện pháp áp dụng và ấn định thời hạn thi hành nhất định cho thật sát với thực trạng của từng địa phương và trình độ của từng Sắc tộc.

Điều 10.

Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, các Tổng Ủy viên, Ủy viên, Thứ ủy, Đặc ủy trưởng, Đặc ủy trưởng Thượng vụ lãnh nhiệm vụ thi hành Sắc Luật này.

Trang sách 204Sắc luật này sẽ được đăng vào Công báo Việt Nam Cộng Hòa.

Saigon, ngày 29 tháng 08 năm 1967 Trung Tướng NGUYÊN VĂN THIỆU (ấn ký) NHỮNG ĐIỀU KHOẢN LIÊN QUAN TỚI ĐỒNG BÀO THƯỢNG TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HÒA CHUƠNG I ĐIỀU KHOẢN CĂN BẢN Điều 2 I. Quốc gia công nhận và bảo đảm những điều căn bản của mọi công dân. 2. Quốc gia chủ trương sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái. Đồng bào Thiều số được đặc biệt nâng đỡ để theo kịp đà tiến hóa chung của dân tộc. 3. Mọi công dân đều có nghĩa vụ góp phần phục vụ quyền lợi Quốc gia dân tộc.

CHƯƠNG II QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CÔNG DẪN Điều 24 I. Quốc gia công nhận sự hiện hữu của các Sắc tộc Thiểều số trong cộng đồng Việt Nam,

Trang sách 2052. Quốc gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào Thiểu số. Các tòa án phong tục phải được thiết lập đề xét xử một số các vụ án phong tục giữa các đồng bào Thiêu số. 3. Một đạo luật sẽ qui định những quyền lợi đặc biệt để nâng đở đồng bào Thiêu số, CHƯƠNG IV CÁC ĐỊNH CHẾ ĐẶC BIỆT HỘI ĐỒNG CÁC SẮC TỘC Điều 97 : 1. Hội động các Sắc tộc đại diện các Sắc tộc Thiều số sống trên lãnh thổ Việt Nam có nhiệm vụ cố vấn Chính phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào Thiêu số. 2. Với sự chấp thuận của Quốc hội, Hội đồng các Sắc tộc có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ. 3. Các dự luật liên quan đến đồng bào Thiểu số có thể được Hội đồng Sắc tộc tham gia ý kiến trước khi đưa ra Quốc Hội thảo luận.

Điều 98 1. Hội đồng các Sắc tội gồm có : •- Một phần ba hội dọ Tổng Thống chỉ định, - Hai phần ba hội viên do các Sắc tộc Thiều số đề cử. 2. Nhiệm kỳ Hội đồng các Sắc tộc là 4 năm. 3. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội đồng các Sắc tộc,

Trang sách 206Nhà Rông BAHNAR