Những hội hè khácPartie 19
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Từ trên chúng tôi đã trình bày một số các hội hè với các cổ tục mà chúng tôi được biết, hoặc qua mắt thấy tai nghe hoặc qua những tài liệu chính xác chúng tôi được đọc. Những hội đã được trình bày chỉ là một số rất nhỏ, so với số hội hè còn lại mà chúng tôi cũng rất muốn trình bày cùng bạn đọc, trong mỗi hội ít nhất cũng tiềm tàng một dấu vết cũ kỹ nào của
dân tộc, hay có, dở cũng có, dù hay dở chúng ta cũng cần biết để hiểu về
dân tộc chúng ta hơn, và có biết quá khứ mới định hướng được tương lai.
Trong những số hội hè còn lại, có hội chúng tôi được nghe qua, hoặc cũng có khi đã tới hội, nhưng vì sự hiểu biết về hội không được rõ ràng, không thể viết hẳn thành một bài như các hội đã trình bày, lại có những hội chúng tôi không biết. Làng quê có làng có hội hàng năm, có làng không, nhưng dù sao, làng nào ít nhất mỗi năm cũng có một lần làm lễ
hoặc với những cổ tục đặc biệt hoặc với sự cúng lễ qua nghi thức thông thường.
Dưới đây, xin lược kê một số Hội hè đình đám với các cổ tục tại mỗi nơi.
Những cổ tục này hoặc đã được nhắc tới trong các hội hè đã trình bày hoặc chưa. Để tiện giúp bạn đọc tìm hiểu dễ dàng tục nào có ở nơi nào, chúng tôi xin đưa ra những cổ tục rồi kê sau những làng xã mà trong khi hội hè có cử hành những tục này.
Hát quan họ
Lối hát đặc biệt của trai gái vùng Bắc Ninh, đã trình bày kỹ lưỡng trong hội Lim.
Trai gái tìm nhau hát ở:
Hội Trắp, làng Hữu Tráp, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) hội mở vào ngày mồng 4 tháng Giêng.
Hội Ó, làng Vân Ổ, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày móng 5 tháng Giêng.
Hội Khả Lễ, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày mồng 6
tháng Giêng.
Hội Đống Cao làng Dương Ổ, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, hội vào ngày 7 tháng Giêng.
Hội Chùa Cao tục gọi là Chùa Trong, làng Thị Cầu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày móng 9 tháng Giêng. Hội làng Trà Xuyên, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh hội mở vào ngày mồng 8 tháng Giêng.
Hội làng Nội Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (Hà Bắc), hội mở
vào ngày mồng 9 tháng giêng.
Hội Yên, làng Yên Xá, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày mồng 10 tháng Giêng.
Hội Diềm, láng Diêm Xá, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày 11 tháng Giêng.
Hội Xói, làng Xuân ái, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày 12 tháng Giêng.
Hội Lim, tục gọi là Cầu Lim, làng Lũng Giang huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày 13 tháng Giêng.
Hội làng Thanh Sơn, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày 18 tháng Giêng.
Hội Chùa Điều, tục gọi là Chùa Ngoài làng Thị Cầu, hội mở vào ngày 20
tháng Giêng.
Hội làng Châm Khê, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh (không nhớ rõ ngày mở hội trong tháng Giêng).
Hội làng Thổ Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, hội mở vào ngày 22
tháng Giêng. (Làng này có tiếng về nghề nặn và nung đồ sành).
Hội làng Đào Thôn, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày 28 tháng Giêng (Làng này có nghề làm giấy bản. Con gái làng này trắng, đẹp và hát quan họ rất hay).
Hội làng Linh Quang, huyện Yên Phong; tỉnh Bắc Ninh, hội mở vào ngày mồng 2 tháng Hai.
Và còn ở nhiều hội khác thuộc mấy huyện Tiên Du, Võ Giàng, Yên Phong tỉnh Bắc Ninh và Việt Yên tỉnh Bắc Giang, huyện này nằm phía bên kia sông Cầu giáp giới với huyện Võ Giàng.
Kéo co
Thú chơi đặc biệt cổ võ tinh thần thượng võ cố hữu của dân tộc Việt Nam.
Đã trình bày trong hội Tích Sơn.
Làng Hữu Trấp, hội mở vào ngày mồng 4 tháng Giêng cũng có tục kéo co (xin xem bài Chiến đấu tính trong một số các cổ tục Việt Nam, chương IV).
Đánh đu
Đây là một thú trai gái đồng quê rất say mê. Có thể đu một mình hoặc trai gái đu đôi[1]. Tại hầu hết các hội có hát quan họ đều có cây đu. Cây đu cũng được trồng tại một số các hội tuy không có hát quan họ, thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc Yên v.v...
Bài thơ của Hồ Xuân Hương đã mô tả gần đầy đủ về cây đu và thú chơi đu:
Tám cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thời lên đánh kẻ nhòm trông.
Trai đu gối hạc, khom khom cật,
Gái uốn lưng ong, ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc ruỗi song song.
Chơi Xuân đã biết Xuân chăng tá,
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không.
Ca dao Việt Nam cũng có câu:
Nhún mình như thể nhún đu,
Càng nhún càng dẻo, càng đu càng mềm!
Đánh vật
Đây là một trò vui thượng võ của dân tộc Việt Nam.
Đã trình bày trong bài Hội đền Hai Bà Trưng.
Những làng có tiếng về môn này, trong ngày hội đều có tục này: Trung Mầu, Yên Xá tỉnh Bắc Ninh, Vị Thanh, Lầm, Dịch Đồng, Hội Hợp tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú), Mai Động tỉnh Hà Đông (Hà Nội) v.v...
Kéo chữ
Dân quê Việt Nam trong những môn du hí, có những trò chơi động như
đánh vật, đánh Trung bình tiên, kéo co v.v..., nhưng cũng lại rất thích những thú chơi tao nhã của văn chương. Chơi văn, chơi chữ không phải chỉ ở câu văn, câu thơ, bài văn sách, bài phú, mà còn ở ngay những cuộc vui bình dân trong ngày hội.
Làm thơ, đọc phú là các thú tao nhã của các tay văn học, của các ông đồ, ông khoá, ông tú, ông cử, còn những người học hành ít, nông kiến thức, hẹp kiến văn, không hiểu được thơ, phú, văn, sách. Để cho ai cũng có thể
thưởng thức được văn chương chữ nghĩa, ở nhiều làng quê có tục kéo chữ trong ngày hội.
Tục kéo chữ chúng tôi đã trình bày trong bài Hội PHỦ GIÀY.
Tục này còn xuất hiện ở nhiều làng khác, và riêng chúng tôi đã được chứng kiến ở làng Nội Ninh, tục gọi là làng Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (Hà Bắc).
Thường những chữ kéo trong ngày hội đã có các tay cờ luyện tập từ
trước. Chữ do những lá cờ ngũ hành đuôi nheo của các tay cờ sắp thành.
Việc luyện tập rất công phu dưới sự hướng dẫn của một ông hiệu cờ.
Ông này chỉ dẫn cho các phu cờ để họ trông theo cờ ông phất là họ biết lệnh tiến lui, sang ngang, về dọc, xếp những ngọn cờ thành những chữ
rất rõ ràng có đủ nét mác rất sắc.
Phu cờ do dân làng kén chọn, hôm kéo chữ phải ăn mặc đồng phục, thường thường khăn xếp đen, áo the thâm quần trắng, thắt lưng bó que, thắt lưng nhiễu điều hoặc nhiễu thiên thanh hay hoa lý. Có khi số phu cờ
được chia làm hai, mỗi nửa thắt một màu thắt lưng riêng.
Kéo chữ thường được tổ chức trên khoảng sân rộng trước đình, hoặc ở
một khoảng sân rộng nào khác để tiện cho dân làng và khách thập phương dự xem.
Lúc mới đầu, những phu cờ dàn hàng hai, quay mặt về phía đình làm lễ.
Sau đó, theo lệnh của ông hiệu Cờ họ mới chuyển động để xếp thành chữ.
Đầu tiên họ kéo từng chữ một, và sau cùng họ kéo cả mấy chữ đã được lên trước một lúc! Thiên hạ thái bình hoặc Quốc thái dân an v.v...
Họ chuyển động rất nhẹ nhàng. Họ kéo lên chữ nào, ta đọc đúng ra chữ
đó.
Đáo cọc
Làng Lũng Ngoại, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú) hàng năm mở hội từ mùng ba tới mùng bảy tháng Giêng.
Trong ngày hội có rước xách tế lễ, có đánh vật, có tổ tôm điếm, nhưng làng này có một tục đặc biệt không thấy có ở làng khác: tục đánh đáo cọc. Đánh đáo chắc ai cũng hiểu rồi, nhưng đáo cọc chơi hơi khác.
Đáo cọc dân làng chơi ở khoảng đất trống ở ngay trước cửa đình.
Khoảng đất này chiều dài độ mười thước.
Ở một đầu khoảng đất này có cắm một chiếc cọc, trên ngọn phấp phới mấy lá cờ đuôi nheo ngũ sắc. Người tham dự đứng ở mé đầu kia khoảng đất. Đáo chơi bằng những viên đá tròn. Người chơi đáo phải ném viên đá thế nào để viên đá tới nằm ngay ở chân cọc, viên đá càng gần chân cọc bao nhiều càng tốt chừng đó. Những người chơi đáo có thể dùng viên đá của mình đánh bật viên đá của người khác ra xa chân cọc.
Chơi đáo cọc, dân làng Lũng Ngoại gọi là Ú đáo.
Cuộc chơi đáo hàng năm đều bắt đầu bằng một nghi lễ trịnh trọng. Sáng ngày mồng 3 tết, ông Tiên Chỉ trong làng khai mạc cuộc chơi đáo. Ông làm lễ tại đình rồi ra ném viên đá đầu tiên. Sau đó đến các vị bô lão, chức sắc rồi mới đến dân làng.
Cuộc Ú đáo kéo dài trong suốt mấy ngày hội: Thanh niên ú đáo rất ham.
Họ tin rằng nếu viên đá của họ ú trúng, nghĩa là nằm sát ngay chân cọc, trong năm họ sẽ gặp may mắn.
Đáo đĩa
Đây tuy là một trò chơi, nhưng cũng là một trò đổ bác có ăn thua. Trước đây ta thường bắt gặp những cuộc chơi đáo đĩa tại các hội hè thuộc vùng Bắc Ninh, Bắc Giang.
Chơi đáo đĩa rất giản dị, chỉ cần ở người chơi đáo một sự khéo léo.
Một chiếc đĩa thanh trúc, loại đĩa vẽ cây trúc xanh trong lòng, đường kính vào khoảng 12 đến 15 phân bày ở giữa một chiếc nia, có khi là một chiếc mẹt, dùng làm đích cho người chơi đáo. Những người này đứng ở
bực cấm, nghĩa là nơi người chơi đáo không được vượt qua, để cả cái đồng tiền vào chiếc đĩa. Cả cái nghĩa là cầm ngang đồng tiền đưa đi, đưa lại sao để đồng tiền rơi vào trong lòng đĩa rồi nằm ngay trong đó không bị nẩy lên mà rớt ra ngoài.
Người chơi đáo, cả cái đồng tiền là người con, người đứng chủ trương cuộc chơi là người cái. Người cái bày mẹt, bày đĩa ra tại một nơi trong đám hội, khách xem hội ai thấy hứng thì chơi. Thường người cái đáo có một vài tay cò mồi cả cái rất khéo, đồng tiền tuy có nẩy lên vẫn ở lại trong lòng đĩa.
Đồng tiền nằm lại trong đĩa được cái đáo giam một số tiền gấp nhiều lần, nhiều ít tùy theo chiếc đĩa to nhỏ, chiếc mẹt hoặc chiếc nia rộng hẹp và tùy theo cả bực cấm xa gần nữa. Những đồng tiền đi trật rớt ra nia hoặc đã đi trúng vào đĩa lại nẩy ra nia, người cái đều được vơ hết. Những đồng tiền không vào đĩa cũng không vào nia, nhà cái đáo sẽ hoàn lại cho người con để người này đi lại.
Nhiều khi, người cái không dùng tiền trả cho người con, lại dùng đồ vật làm giải thưởng thế vào, giải thưởng có thể là một gói trà tàu, vuông nhiễu điều, vuông lụa bạch, hoặc gương lược v.v...
Đáo ô
Chơi đáo ô cũng tương tự như đáo đĩa, chỉ khác thay vì chiếc đĩa đặt trong chiếc mẹt hoặc chiếc nia làm đích, thì đây là một khay gỗ vuông bốn phía có gờ, mặt chiếc khay này được kẻ thành từng ô theo đường ngang dọc hoặc chéo góc.
Cũng có người cái và các người con, người con đứng ở bực cấm cách xa chiếc khay gỗ có ô, xa gần tùy từng bàn đáo ở bực cấm, người con lấy tiền cả cái vào chiếc khay gỗ có chia ô. Trong những ô, có ô có giải thưởng, có ô không. Người con đi đúng vào ô có giải thưởng thì được, đi vào những ô khác thì mất đồng tiền đi. Giải thưởng cũng như đáo đĩa có thể là tiền bạc hoặc đồ vật.
Những đồng tiền đi không trúng vào chiếc khay gỗ, hoặc đã đi trúng vào nhưng lại nẩy bắn ra ngoài, người cái đều hoàn lại cho người con để đi lại.
Đáo ô cũng như đáo đĩa bị coi là môn đổ bác nên trước đây chỉ xuất hiện trong những ngày hội, trong những ngày vui vẻ này, các nhà chức trách làm ngơ cho mọi người mua vui.
Ngoài ngày hội, người tổ chức tức là người cái đáo có thể bị bắt và bị
truy tố theo tội cờ bạc.
Đáo lỗ
Đã nói tới đáo, phải nói tới đáo lỗ. Đáo lỗ không phải là trò chơi riêng của ngày hội, quanh năm trẻ em lúc nào chơi cũng được. Cũng như hai lối đáo trên, đây là một lối chơi bằng tiền. Một bọn trẻ nhỏ, vài bốn thanh niên họp nhau lại là bàn đáo thành. Đáo chơi từng ván, mỗi ván mỗi người góp một số tiền.
Không hiểu tại sao, trước đây, tại các miền Trung du Bắc Việt, đáo lỗ chỉ
được chơi vào dịp gần Tết và trong mùa Xuân.
Đáo lỗ chơi cũng thật giản dị, chơi bất cứ ở chỗ nào, vào giờ nào cũng được. Chỉ cần khoét xuống đất một cái lỗ tròn. Cách lỗ tròn này độ mấy bước là vạch cấm. Chơi đáo phải đứng ở vạch cấm để cả cái đồng tiền vào lỗ. Tiền nào đúng lỗ là ăn, tiền trật ra ngoài thì đến lượt người khác.
Dễ dàng lắm! Ngắm làm sao cho đúng lỗ, đi đồng tiền vào cho gọn ấy là xong!
Xin thú thật, ngày thuở bé, kẻ viết những dòng này rất thú vị cái môn đáo lỗ này lắm. Không gì sung sướng cho bằng khi cả cái đúng lỗ! Nghe đồng tiền rơi vào lỗ đánh ''oặc'', thật là khoái trá và cũng khoái trá khi vì đi đúng lỗ được thu tiền của người khác bỏ túi.
Ngày hội thầy bói
Làng Chục, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) thờ Tổ Sư Thầy Bói. Ngày mồng 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm, ngày lễ Tổ Sư, các đệ
tử của Quỷ Cốc tiên ông từ các nơi đều chống gậy lần mò về để làm lễ
bái yết.
Các ông thầy bói họp lại với nhau, cũng bàn bạc như thảo luận về việc làng của các xã, thôn vậy. Không ông nào trông thấy ông nào, nhưng các ông bàn luận thực đâu ra đấy, và cũng quyết nghị về những vấn đề quan trọng của làng đeo kính râm.
Thi thầy
Làng Trực Chính, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, thờ ông Từ Đạo Hạnh tại chùa làng, vị cao tăng đời nhà Lý đã nhắc tới trong hội Chùa Thầy.
Hàng năm, làng này mở hội từ ngày 20 đến hết ngày 24 tháng Giêng âm lịch. Trong Hội có múa rối, hát chèo, đánh vật và cúng lễ, nhưng đặc biệt làng này có tục Thi Thầy rất lạ Các thầy đạo sĩ các nơi, nhân ngày hội chùa làng này, kéo nhau tới để dự cuộc Thi Thầy bắt đầu từ ngày 20
tháng Giêng. Các thầy cùng nhau ngâm vịnh những bài văn cúng, văn tế
của cổ nhân. Người nào vịnh được nhiều bài hay lạ, có nhiều ý nghĩa, có nhiều điển tích, được bầu trúng giải và được thưởng cỗ bánh.
Sau cuộc thi Thầy, sáng ngày 21 có lễ tế Trời đất, một vị khoa mục được cử làm Chủ tế.
Trên là hội chùa láng Trực Chính.
Ngoài hội chùa, làng này còn hội đình. Làng thờ Việt Vương Triệu Quang Phục. Hàng năm nhân kỳ thu tế, làng mở hội từ ngày mồng 10
đến hết 15 tháng Tám âm lịch. Trong ngày hội, ngoài những cuộc tế lễ
theo nghi thức cổ truyền, có cuộc thi cỗ cúng thành vào ngày 14 tháng Tám. Dự cuộc thi này có 18 giáp trong làng. Trong cuộc thi, có thi bánh dày. Bánh dày nào dẻo, mịn, khéo trình bày thì được giải.
Trong dịp hội, làng lại có thi cả lợn sống. Một số người trong làng, tới tuổi phải nuôi lợn, được làng cử nuôi lợn, làng phát cho mỗi người một món tiền để mua lợn giống. Đang nuôi, rủi lợn chết phải mua thế con khác. Buổi thi lợn, tất cả những người nuôi lợn đều đem trình làng cơn lợn của mình.
Ban hội đồng làng xem xét từng con. Lợn to béo, chắc thịt mịn lông là trúng giải. Những con lợn thi sau đó, dù trúng giải hay không đều được đem mổ thịt để làm cỗ tế thần, và tế thần xong dân làng cùng nhau thừa hưởng lộc làng.
Cúng chuối bóc rồi
Làng Đồng Vệ, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú) thờ một vị
thần lúc sinh tiền làm nghề gắp phân. Ngày hội làng, trong cuộc tế lễ dân làng có nhắc tới nghề nghiệp của ông thần.
Trong các tự khí tại làng này, ngoài các tự khí ta thường thấy ở các đình làng khác, còn có những bộ gơ và những cặp gắp sơn son thiếp vàng. Gơ
và gắp là dụng cụ của người đi gắp phân.
Hội làng cũng có nhiều trò vui, đặc biệt là đánh vật, nhưng ở làng này có tục cúng thần bằng chuối bóc rồi, những trái chuối tiêu bóc tuột vỏ, tượng trưng cho những cục phân, được bày vào những chiếc gơ sơn son thiếp vàng, để lên bàn thờ để tế. Sau cuộc tế, các vị chức sắc và bô lão dùng những cặp gắp cũng sơn son thiếp vàng, gắp những quả chuối trong các gơ, chia thành từng xuất để làm phần cho các cụ và dân làng.
Dân làng cho rằng ăn những quả chuối thờ này rất khước. Chỉ những người đã lo đủ lệ làng mới được chia phần chuối bóc rồi.
Xin nói thêm, làng này cho đến những năm 1945-1950 vẫn có nghề gắp phân. Trai muốn lấy vợ, gái muốn lấy chồng, phải đi gắp phân một thời gian mới có người lấy và khi thành hôn mới được nộp cheo cho làng.
Bạn đọc đừng cười, trong đời sống nông nghiệp, phân rất cần. Xưa kia không có phân hóa học, ta chỉ dùng phân chuồng và phân đồng, phân chuồng là phân loài vật nuôi ở trong chuồng, còn phân đồng là phân người, phân loài vật những người gắp phân đi nhặt nhạnh ở ngoài đồng.
Ta có câu:
Nhất nước, nhì phân,
Tam cần, tứ giống.
Qua câu trên, ta thấy phân rất cần cho nhà nông.
Dân quanh vùng Vĩnh Yên thường có tiếng lóng để chỉ phân người là thành ngữ Bánh dày Đồng Vệ. Bảo ai ăn Bánh dày Đồng Vệ tức là mắng kẻ đó.
Làng Vũ Bị, tỉnh Hà Nam (Hà Nam Ninh) cũng có tục cúng chuối bóc rồi, làng này cũng thờ thần gắp phân như làng Thổ Tang.
Ngoài ra cũng có nhiều làng khác tại miền Bắc Việt thờ những vị thần lúc sống đã hành nghề gắp phân. Đi gắp phân thực ra không bị dân quê Việt Nam coi là xấu, và đây không phải là một nghề hạ tiện. Nhiều làng con gái muốn lấy chồng phải đi gắp phân một thời gian.
Làng Nghiêm Xá, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh trước đây con gái thường đi gắp phân, cũng như các làng Dương Ổ, làng Hà, huyện Võ Giàng cùng tỉnh.
Cúng kẹo lạc
Làng Cổ Nhuế, tục gọi là Kẻ Noi, tỉnh Hà Đông (Hà Nội) cũng thờ một ông thần lúc sống đi gắp phân. Làng này hàng năm cũng mở hội vào tháng Giêng, và trong khi cúng thần, dân làng cũng nhắc nhở tới nghề
sinh tiền của thần linh: sửa lễ cúng thần, ngoài các đồ lễ khác bao giờ
cũng có một gơ kẹo lạc làm bằng mật và lạc, kẹo này phải làm sao cho
có màu mật đen già để mỗi cục kẹo trông tương tự như một cục phân chó khi được nặn tròn tròn dài dài.
Cũng như chuối bóc rồi ở xã Đồng Vệ, kẹo lạc ở xã Cổ Nhuế, sau khi cúng được đem chia cho các hàng hương trưởng kỳ mục. Chỉ các vị này mới được thừa lộc thần linh.
Săn cuốc
Cuốc là một loại chim hay lủi ở bờ ao bờ ruộng lông đen mỏ trắng, thường hay phá hại hoa màu. Người nông dân miền quê thường hay bắt Cuốc để trừ hại cho đồng ruộng.
Có nhiều nơi, nhân ngày hội làng, dân làng tổ chức cuộc bắt Cuốc, cả
làng tham dự, nam, phụ, lão, ấu đủ hạng. Những cuộc bắt Cuốc tập thể
có lợi:
Số Cuốc bắt được nhiều.
Dân làng rầm rộ đi khắp đồng ruộng khiến cho Cuốc sợ hãi bỏ cánh đồng làng đi nơi khác.
Làng Yên Đổ, tỉnh Hà Nam (Hà Nam Ninh) quê cụ Nguyễn Khuyến có tục bắt Cuốc tập thể.
Ông Nhuệ Giang, trong Yên Đổ tùng biên xuất bản năm 1968 tại Sài Gòn có nhắc tới tục này:
''Mỗi năm, vào ngày 3 và ngày 5 tháng Giêng là ngày nghỉ Tết, cày cấy đã xong, dân làng có tổ chức cuộc săn Cuốc để trừ bớt giống chim phá lúa, một cổ tục từ xưa.
''Trong ngày đó, nhân dân trong làng (trừ đàn bà trẻ em) đều đi dự cuộc săn Cuốc.
''Các vị bô lão đi giữa đám đông, còn đi đầu và đi cuối là những trai tráng khoẻ mạnh, kẻ khua cồng, người đánh lệnh, chen lẫn những tiếng
hò reo inh ỏi, làm náo động cả một vùng, khiến cho những con chim Cuốc lủi trong bụi rậm phải kinh hoàng bay chạy tứ tung, tìm nơi ẩn lánh, sa vào đám đông liền bị bắt sống.
''Ai bắt được chim đem nộp làng lấy thưởng, do các chủ điền treo giải''.
Làng Trà Xuyên, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh cũng có tục bắt chim cuốc. Làng này mở hội vào ngày mồng tám tháng Giêng. Hội có những trò vui chung của tỉnh Bắc Ninh như hát quan họ, đánh đu đôi, đáo đĩa v.v...
Về cuộc bắt Cuốc, làng này cả trai gái già trẻ đều tham dự.
Sáng ngày mồng tám, dân làng họp cả ở sân đình. Một vị kỳ mục gióng lên ba tiếng cồng. Thế là mọi người đua nhau đi tìm Cuốc để bắt.
Tưởng cần nới thêm: Cuốc tuy là loại chim biết bay nhưng lại thích lủi trong bờ bụi rậm, nhất là trong những ruộng lúa, ở những nơi đây yên lặng thích hợp với chúng để kiếm ăn.
Trong lúc dân làng đi bắt Cuốc, chiêng trống nổi theo tiếng hò reo. Trước sự ầm ĩ này, Cuốc đang lủi trốn bay ra thế là mạnh ai xông vào bắt.
Sau khi bắt Cuốc xong, tất cả số Cuốc bắt được đều đem đến đình làng làm thịt cúng thần, xong ra dân làng cùng hưởng.
Bắt lợn
Xã Tích Sơn, phủ Hưng Hóa, tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú) cũng có tục dân làng hợp quần để cùng đuổi bắt tập thể một con vật trong ngày hội làng.
Chúng tôi không nhớ rõ, hội xã này mở vào ngày nào, nhưng trong ngày hội dân làng thả vào một khu rừng một con heo. Con heo này, dân làng cử người nuôi từ năm trước, tương tự như những xã có tục thi heo hoặc chém lợn.
Con heo thả ra, dân làng theo hiệu lệnh của làng xô nhau tìm bắt.
Thi thơ
Dân tộc Việt Nam đã có những áng văn thơ danh tiếng. Ngâm thơ vịnh cảnh vốn là một cái thú của các cụ ta xưa và của cả chúng ta ngày nay.
Để khuyến khích việc ngâm vịnh cũng như để lọc lựa những bài thơ hay, xưa ngoài những văn thơ làm trong các kỳ thi, trong dân gian thường luôn luôn có những cuộc thi thơ. Tại nhiều làng, nhân ngày hội làng dân làng cũng mở cuộc thi thơ, trong đó có làng Yên Đổ.
Thi thơ tại làng Yên Đổ hàng năm được tổ chức vào ngày 24 tháng Chạp, nhân phiên chợ Đồng, một phiên chợ mà cũng kể như một ngày hội vì sự tham dự đông đảo không những riêng của dân làng mà của cả