Hội Thổ TangPartie 17

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Với các cổ tục: Ông Đô,

Thi vật,

Thi dưa hấu,

Đánh cờ,

Tổ tôm điếm.

Làng Thổ Tang quê hương nhà Cách mạng Nguyễn Thái Học, thuộc phủ

Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú).

Hàng năm dân làng làm lễ vào ngày 18 tháng Chạp cuối năm, nhưng lại mở hội mừng Xuân từ 14 đến 23 tháng Giêng; ngoài ra, vào mùa dưa hấu, tháng Năm âm lịch, làng lại có tục thi dưa hấu.

Vài nét về làng Thổ Quan

Đây là làng sở tại phủ Vĩnh Tường, cách tỉnh lỵ Vĩnh Yên 15 cây số và phía Tây Bắc. Muốn tới Thổ Tang phải đi theo quốc lộ số 2, rồi rẽ tay trái theo một con đường hàng tỉnh đi thêm chừng 3 cây số thì tới.

Làng Thổ Tang ở một địa thế rất đẹp, phong cảnh thật hùng vĩ. Phía Đông có một ngọn đồi rất lớn, rộng khoảng một mẫu tây, tục gọi là bãi Hàm Rồng, trên bãi có một cây đa cổ thụ, và bốn mùa cây cỏ tốt tươi.

Một con ngòi nằm sát như ôm lấy bãi này. Phía Tây là một ngọn đồi khác, nằm sát quác lộ 2 rộng khoảng ba mẫu tây, với nhiều lớp ruộng xếp thành từng cấp, xa trông như một chiếc nón chóp úp. Đứng ở làng nhìn xa xa về phía trái là dãy núi Tam Đảo, phía mặt là núi Ba Vì như đối chọi nhau. Phía Nam làng, còn có một ngọn đồi thứ ba, đồi này thấp nhỏ, nằm sát ngay bên làng, tục gọi là đồi Bồ Đề.

Với vị trí của làng nằm ở một khu trung du, có đồi gần núi xa, lại có sông nước, dưới con mắt các nhà địa lý, đây là một địa thế tốt, một thầy địa lý Tàu, xưa khi đi qua làng này đã tiết lộ làng nằm trên thân một con rồng, rất tiếc long mạch bị cắt đứt bởi con ngòi ngay bãi Hàm Rồng, nên làng chỉ có được nhân tài lừng lẫy nhưng không đạt được địa vị cao sang.

Phải chăng vì vậy làng đã sản xuất ra nhà cách mệnh Nguyễn Thái Học tiếng tăm lừng lẫy nhưng đã chỉ thành danh mà không thành công?

Dân làng khá đông, có đến hơn năm nghìn người, vừa sống về canh nông vừa sống về thương mại. Đây là một làng trù phú, trong làng đường xóm đều lát gạch tinh tươm sạch sẽ, và nhà ngói san sát như bát úp.

Những nơi thờ tự trong làng và thần tích

Cũng như mọi làng Việt Nam khác mà dân làng không theo đạo Gia Tô, làng Thổ Tang sống theo nếp sống cổ truyền với đình chùa đền miếu.

Không nói đến chùa, làng Thổ Tang có một ngôi đình xây ở trong làng để thờ đức Thành hoàng là ngài Hổ Lân Hầu, và một ngôi miếu xây ở

phía Nam làng gọi là miếu Trúc. Tại miếu này dân làng thờ thần Hổ.

Hổ Lân Hầu

Ngài là một vị tướng quân đời nhà Trần, không rõ tên tuổi, nhưng đã có công trong cuộc chống quân Minh, được phong đến tước hầu, Hổ Lân Hầu.

Theo thần tích, về cuối đời nhà Trần, khi quân Minh xâm lấn nước ta, Hổ

Lân Hầu đem quân giao chiến. Ngài bị thua, chạy tới làng Thổ Tang, vào nghỉ nơi quán Bồ Đề ở đầu làng. Dân làng mang dưa hấu dâng ngài dùng để khỏi khát. Lúc ấy ngài đã bị thương do quân giặc đâm, nên sau khi ăn dưa hấu đỡ khát, ngài cũng trút hơi thở cuối cùng.

Dân làng Thổ Tang lập đền thờ, và hàng năm vào ngày 18 tháng Chạp có làm lễ tế ngài, và mỗi mùa Xuân, hội làng cũng lại mở từ ngày 14 đến 23

tháng Giêng.

Thần Hổ và miếu Trúc

Theo các bô lão trong làng kể lại thì xưa kia về phía Nam làng Thổ Tang có một khu rừng, và hàng năm cứ đến mùa là hổ về phá phách và bắt trâu, bò, chó, lợn. Dân làng đề phòng cách nào cũng không ngăn được sự

phá hoại mùa màng của hổ.

Cho đến một đêm, một bô lão trong làng nằm mơ thấy một ông già đầu râu tóc bạc, tay chống gậy trúc, mình mặc áo lông hổ báo cho biết dân làng phải lập đền thờ thần Hổ mới làm ăn yên ổn và phát đạt được. Vị bô lão kể lại giấc mơ với các kỳ mục và quan viên trong làng. Tuy bán tín bán nghi, nhưng các quan viên và kỳ mục cũng dắt nhau ra phía rừng, thấy có một bãi cỏ có dấu chân hổ dẫm nát.

Tin này được loan đi khắp làng, dân chúng liền bỏ cả việc đồng áng kéo nhau đi xem. Sau đó các vị quan viên kỳ mục trong làng họp cùng các bô lão tại đình để bàn việc xây một ngôi miếu thờ thần Hổ, ngay tại chỗ có dấu chân hổ dẫm.

Miếu này gọi là miếu Trúc, kiến trúc theo kiểu cổ, 3 gian 8 mái, trên nóc có hai con rồng chầu mặt nguyệt. Trước miếu có đắp hai con hổ lồng trong khung kính trông rất oai phong lẫm liệt.

Theo các cụ, từ đó hổ không về tàn phá mùa màng và bắt gia súc nữa.

Và theo lời thuật lại của dân làng Thổ Tang có nhiều câu chuyện ứng nghiệm thần Hổ giúp đỡ dân làng.

Dưới đây chúng tôi xin kể lại một vài câu chuyện ứng nghiệm đó để độc giả biết và cũng tùy độc giả tin hay không[1].

Hổ giúp người bệnh

Một người làng Thổ Tang trong khi đi rừng chẳng may bị sốt rét phải vào nằm trong một hang đá. Ông ta lên cơn sốt mê man liên miên chẳng hiểu biết gì. Đến khi ông ta tỉnh dậy thấy mình được đắp kín toàn bằng lá rừng, và có một con hổ to lớn nằm ngay ngoài cửa hang. Sợ quá ông này nằm yên không dám cựa mình. Con hổ tỉnh giấc, tiến lại gần ông ta dùng mũi ngửi vào mặt, rồi đi ra khỏi hang. Một lúc sau con hổ mang về một đùi nai để bên cạnh ông, sau đó chạy biến vào rừng.

Chờ cho con hổ đi khỏi, ông ta ngồi dậy đốt lửa nướng thịt nai ăn. Qua hai ngày nhịn đói vì cơn sốt, nay bịnh lui, ông ăn đùi nai nướng thật ngon.

Lúc ấy trời đã gần sáng, ông vội vã ra về. Về đến nhà, ông sửa soạn một lễ rất to ra miếu Trúc cúng tạ ơn thần Hổ.

Hổ đòi con

Chuyện này xảy ra vào khoảng cuối năm 1941, câu chuyện đã làm cho dân làng Thổ Tang càng tin vào thần Hổ.

Năm đó, con trai một ông phú hộ trong làng ra sân vận động đá banh.

Cậu này còn trẻ, tính tinh nghịch. Lúc trở về cậu đi qua khu rừng sau miếu Trúc, chui vào những hàng cây len lỏi bắn chim bằng ná. Đến một bụi rậm, cậu thấy tiếng kêu sột soạt, khi nhìn cậu thấy có 4, 5 con mèo con rất đẹp, lông vàng vằn đen. Cậu thích quá bỏ cả bắn chim, bắt hai trong năm con mèo con mang về. Về nhà cậu giấu nhẹm không cho ai biết.

Đêm hôm đó, những người ở gần miếu Trúc nghe tiếng Hổ gầm, và cũng đêm đó, cậu con trai ông phú hộ cũng tự nhiên ốm nặng.

Sáng hôm sau, khi ông phú hộ đi đón thầy lang về chữa cho con, thấy trước ngõ có nhiều vết chân hổ ông hoảng sợ bỏ vào trong nhà, vừa lúc ấy bà vợ ông cho biết có hai con hổ con bị nhốt trong chuồng chó. Ông ta hiểu ngay cậu con trai đã bắt hai con hổ ở rừng mang về. Ông liền vội vàng sai người nhà mổ lợn làm lễ tạ ở miếu Trúc, đồng thời đem hai con

hổ con thả ra ngoài rừng. Cậu con trai ông ta sau buổi lễ tạ không cần thuốc cũng khỏi bệnh.

Câu chuyện trên lan tràn rất mau trong làng. Dân làng ai cũng tin là thần Hổ linh thiêng.

Tưởng cũng nên nói thêm, từ xưa dân làng Thổ Tang không ai ăn thịt hổ

và cũng không ai ăn cao hổ cốt.

Ngày lễ 18 tháng Chạp

Ngày 18 tháng Chạp âm lịch là ngày khao Thọ của dân làng Thổ Tang, và cũng nhân dịp khao Thọ này dân làng làm lễ tế Hổ Lân Hầu. Đồ lễ tế

thần gồm hương hoa trầu rượu, nhưng đặc biệt có thêm các ông Đô.

Các ông Húc Bờ và các ông Đô

Làng Thổ Tang chia làm ba khu Đông, Nam và Bắc, và dân làng được tổ

chức thành ba giáp Thượng, Trung và Hạ.

Ngày 18 tháng Chạp, theo lệ làng, nam công dân tới năm đó 40 tuổi được tôn là các ông HÚC BỜ, và những người 55 tuổi làm lễ khao THỌ.

Ba Giáp, mỗi giáp có một số các ông Húc Bờ và một số các vị khao Thọ

để lên hàng bô lão.

Các ông Húc Bờ cũng như các vị chuẩn bô lão, phải nhân dịp lễ thần này trình làng các ông Đô, các ông Húc Bờ một ông Đô, còn các vị chuẩn bô lão phải trình hai ông.

Ông Đô, chính là một con lợn, miền Nam gọi là heo, dùng trong việc tế

lễ thần làng.

Theo tục lệ làng, các ông Húc Bờ và các vị khao Thọ đều phải nuôi lợn từ đầu năm, lợn phải kén giống và nuôi sao cho thật béo. Lợn trình làng càng béo càng được làng khen thưởng.

Mấy ngày trước khi đem lợn trình làng tế thần, phải giữ cho lợn thật sạch sẽ tinh khiết. Trong những ngày này, các ông Húc Bờ cũng như các vị

khao Thọ cho lợn ăn đậu phụ và bún để chúng béo mập thêm.

Ngày khao Thọ, những ông Húc Bờ và các vị khao Thọ không có ông Đô trình làng sẽ bị phạt vạ, và lệ phạt vạ ở làng này cũng rất là đặc biệt: người bị phạt vạ phải làm đô vật trong ngày lễ. Chính vì sự bắt buộc làm đô vật mà người làng dùng danh từ ông Đô để chỉ những con lợn, nhờ

chúng mà các ông Húc Bờ và các vị khao Thọ khỏi phải sưng chân đánh vật.

Với tục phạt vạ lạ lùng này, người phương xa cho là phong kiến, nhưng đây chính là một tập tục thúc đẩy dân làng phải cần kiệm làm ăn dành dụm để có đủ món tiền mua lợn giống nuôi để trình làng nhân dịp lên tuổi bốn mươi, và nhân dịp khao Thọ. Bắt đầu dành dụm để có tiền mua lợn giống, nhưng rồi cần kiệm dành dụm trở thành thói quen, ai về già cũng có một món tiền tuy không to lớn, nhưng cũng đủ chi dùng khỏi nhờ vả tới con cháu. Thực ra, xưa nay chưa ai phải chịu vạ làng vì thiếu ông ĐÔ trình làng trong dịp lễ thần cuối năm.

Thi ông Đô

Như đã trình bày, mấy ngày trước khi trình làng các ông Đô được ăn đậu phụ và ăn bún. Đặc biệt hơn cả là phiên chợ Thổ Tang ngày 16 tháng Chạp, các ông được đưa ra chợ để ăn một mẻ đậu phụ và bún thỏa thích.

Chợ Thổ Tang là một chợ lớn thuộc phủ Vĩnh Tường, quanh năm đã đông, ngày phiên 16 tháng Chạp lại càng đông hơn. Người làng và người quanh vùng nô nức kéo nhau đi xem hội. Các ông được dắt đi quanh chợ, cho ăn no nê, rồi đến gần trưa, tất cả các ông Đô đều được tập trung vào một địa điểm. Nơi đây các ông được một hội đồng gồm các kỳ mục và bô lão trong làng chấm thi lựa chọn kỹ càng, những ông được giải sẽ

được dùng để tế các vị Thành hoàng và Thần Hổ.

Tại nơi tập trung này, những người săn sóc ông Đô còn mang theo những chậu đậu phụ và bún, và các ông Đô tiếp tục ăn trong khi hội đồng cứ lựa

chọn.

Hội đồng lần lượt đi xem từng ông Đô một, lựa chọn các ông theo bốn tiêu chuẩn: Đẹp, nặng, lớn, chân tốt. Khi các ông Đô đã được lựa chọn, các ông sẽ được đưa lên cân để xem nặng nhẹ.

Vì ai cũng muốn con lợn mình nuôi được giải, sự chăm nuôi rất cẩn thận.

Thường ông Đô nào cũng dài trên một thước, béo mập, lúc đi bước những bước rất chậm chạp, hai con mắt ti hí như hai đường chỉ. Các ông Đô phải là loại lợn đen tuyền, tục làng không chấp nhận lợn lang, ông Đô nào dù chỉ có một chiếc lông trắng cũng bị làng loại.

Trong lúc hội đồng xét các ông Đô, dân làng, người lớn trẻ con xúm quanh rất đông.

Mổ thịt ông Đô

Nuôi ông Đô đã vất vả, khi mổ thịt ông cũng lại rất cầu kỳ. Thường thường từ ngày 17 tháng Chạp các ông Húc Bờ và các vị chuẩn bô lão đã làm rạp mổ bò mời bà con tới ăn mừng.

Ngày 18, từ nửa đêm, ông Đô được đem mổ thịt. Phải kén trai thanh tân mới được chọc tiết mổ thịt ông! Cạo lông xong, ông Đô được phân thây xả ra làm nhiều miếng cỡ hai chục hay ba chục phân, xếp trên phên tre, mỗi phên tre vào khoảng năm miếng thịt. Những phên tre này được đặt lên mâm bưng ra đình làng.

Ngoài những ông Đô được giải dùng để cúng thần làng và thần Hổ, thịt các ông Đô khác dùng để chia biếu người trong hàng giáp, giáp nào riêng các ông Đô thuộc về giáp ấy.

Tục nuôi Ông Đô nhìn qua thấy tốn kém đối với các đương sự, nhưng thực ra đây là một hình thức khuyến khích chăn nuôi. Nhờ có tục này, dân làng Thổ Tang có rất nhiều kinh nghiệm trong việc chọn lợn giống cũng như trong việc nuôi lợn, vốn vẫn là một nghề phụ và là một nguồn lợi lớn của dân làng.

Hội xuân tại Thổ Tang

Cũng như các làng khác thuộc trung du và trung châu Bắc Việt, làng Thổ

Tang, khi mùa xuân tới dân làng cũng mở hội mừng Xuân từ 14 tới 23

tháng Giêng.

Trong ngày hội, dân làng có tổ chức rước từ miếu Trúc tới đình làng.

Đám rước đi qua quán Bồ Đề ngưng lại, ý nghĩa cuộc ngưng ở đây muốn nhắc tới việc Hổ Lân Hầu đã ngừng chân tại quán Bồ Đề giải khát.

Thi dưa hấu

Thi dưa hấu là một cổ tục có từ lâu đời ở làng Thổ Tang. Mùa dưa hấu ở

miền Bắc xuất hiện vào cuối tháng Tư, đầu tháng Năm âm lịch, không phải vào dịp Tết như ở miền Nam. Riêng ở làng Thổ Tang, dưa trồng vào khoảng tháng 11 âm lịch và thường được hái vào hạ tuần tháng Ba trở đi.

Theo tục lệ làng Thổ Tang, vào khoảng thượng tuần tháng Ba âm lịch mỗi năm, hội đồng kỳ mục họp với một số bô lão có kinh nghiệm vê trồng trọt để quyết định ngày hái dưa, được gọi là NGÀY XUỐNG

ĐỒNG, nghĩa là xuống ruộng hái dưa.

Ngày xuống đồng đã được quyết định, ban hội đồng cho mõ làng đi thông báo khắp các thôn xóm. Thường thì là ngày hai mươi lăm tháng Ba âm lịch.

Và đúng ngày xuống đồng, từ 5 giờ sáng, trống, mõ và tù và đã báo hiệu khắp làng. Nghe báo hiệu các chủ ruộng dưa cùng người nhà ra đồng hái dưa, và từ hôm đó, mùa hái dưa mới bắt đầu. Trước ngày xuống đồng, gia đình hoặc cá nhân nào tự hái dưa sẽ bị phạt vạ rất nặng, nếu là chủ

ruộng, làng phạt tiền, còn nếu là kẻ trộm dưa, làng sẽ phạt cùm ngay trước sân đình một ngày để cho mọi người qua lại trông thấy.

Ấn định ngày xuống đồng là lệ làng, dân làng đã tuân theo lệ này từ đời nọ qua đời kia.

Dưa hái xong, các chủ điền đích thân chọn những quả dưa già, lớn, nặng đem ra trình làng.

Tại đây, Hội đồng giám khảo gồm Hội đồng kỳ mục và một số các bô lão như đã nói trên sẽ xét dưa theo các tiêu chuẩn: giống dưa tốt, đẹp mã, già, đầy đặn, bổ ra đỏ tươi hoặc vàng lại nhiều cát.

Cuộc chấm thi dưa chia làm hai đợt rất hào hứng: Đợt thứ nhất chọn những trái dưa đẹp, già, đầy đặn; Đợt thứ hai đưa dưa lên cân xem quả nào nặng nhất rồi mới xếp hạng.

Dưa lựa được xếp hạng nhất, và chỉ có hạng nhất và hạng hai.

Dưa hạng nhất được rửa sạch cúng thần ở đình làng và tên chủ dưa được loan truyền cho dân làng rõ.

Dân làng Thổ Tang tin rằng, chủ điền nào có dưa được chọn cúng thần, ngoài điểm đây là một điều vinh dự, cả năm đó làm ăn sẽ thịnh đạt.

Thi dưa là một cổ tục, nhưng cổ tục này nhằm mục đích khuyến khích việc trồng dưa. Các chủ ruộng phải biết cách chăm bón và luôn luôn phải có những sáng kiến để việc trồng dưa có kết quả. Họ phải đi tìm kiếm giống tốt, nhờ sự tìm kiếm này mà dưa hấu của làng Thổ Tang có đủ loại, từ loại dưa hấu đỏ ruột như ở miền Nam, đến loại dưa vàng, ngọt, nhiều cát, quả dài có vành đen giống như miền Thanh, Nghệ Tĩnh.

Các cổ tục hội xuân

Ngoài tục thi ông Đô trong ngày lễ cuối năm và tục thi dưa hấu vào tháng Năm âm lịch, trong hội Xuân tổ chức từ 14 đến 23 tháng Giêng như trên đã trình bày, làng có nhiều trò vui cho dân làng và các khách xem hội giải trí, như đánh vật, đánh Cờ bỏi, Tổ tôm điếm đã được trình bày trong một số các hội về kỷ niệm lịch sử, hoặc tôn giáo.

Thời thế diễn biến, có ai ngày nay tới Thổ Tang, nhắc tới những tục lệ

cổ, chẳng qua chỉ còn lại chút dư âm.

[1] Những câu chuyện này chúng tôi kể theo lời ông Nguyễn Duy Phương, người làng Thổ Tang.