III.Part 9
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Đông y cũng dạy rằng khi mới sinh người đàn bà dễ mắc bệnh nên phải kiêng đồ đặc, nhưng lại phải cần uống thuốc bổ để bồi dưỡng sức khỏe.
Lại phải kiêng gió lùa, phải xoa mình bằng củ nghệ có tính chất làm cho cơ thể mau hồi phục.
Buồng sản phụ phải đốt lửa. Người ta thường dùng một bếp lò than, do đó người đẻ gọi là nằm bếp. Để tránh sự nhiễm độc trong buồng, người ta đốt lá sơn.
Sinh con là một điều hệ trọng. Nhưng sinh con là một chuyện, sinh con rồi phải nuôi con. Nuôi con cũng quan trọng không kém gì sinh con.
III. NUÔI CON
Đẻ con là một điều mừng, nhưng có sinh phải có dưỡng, hữu sinh vô dưỡng tức là điều bất hạnh không những cho em bé sơ sinh, còn cả cho người mẹ và gia đình nhà chồng.
Người ta quy sự hữu sinh vô dưỡng vào tà ma, vào sự thiếu âm đức của nhà chồng hoặc sự thất đức của người vợ.
Ta có câu hiền đức tại mẫu, người mẹ phúc đức con cái được hưởng, người mẹ thất đức con cái phải chịu. Bởi vậy, xưa nay trong việc hữu sinh vô dưỡng, tuy có thể là lỗi tại chồng, nhưng người vợ vẫn không khỏi có trách nhiệm.
o Lúc sơ sinh
Ngạn ngữ có câu: Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, thật đúng với ý nghĩa khi trông nom nuôi nấng một em bé sơ sinh.
Em bé yếu đuối mỏng mảnh lắm, một luồng gió, một tiếng động mạnh cũng làm cho em giật mình và khóc, và có thể vì đó sinh sài sinh đẹn.
Nuôi trẻ sơ sinh rất vất vả và phải hết sức cẩn thận. Tránh giật mình, tránh những người vía dữ. Ta tin rằng một người vía dữ có thể khiến cho em bé sơ sinh thất kinh phát khóc không ai dỗ được, chỉ khi nào đốt vía em bé mới nín.
Em bé thường được giữ gìn trong một phòng kín, tránh gió và xa mọi Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 30
tiếng động. Những người vía dữ không được vào buồng em.
Trong mấy ngày đầu, người mẹ chưa có sữa, phải nhờ hàng xóm ai tốt sữa cho bú chực, hoặc những gia đình khá giả thì mượn vú nuôi.
Hai ba ngày sau khi sinh, vú người mẹ mới bắt đầu căng sữa. Người mẹ gọi sữa về bằng cách dùng lá mít rửa vú, ăn cháo thông thảo, ngó sen nấu với chân giò.
Ngày nay, trong thời kỳ chờ sữa, người ta nuôi em bé bằng sữa hộp, theo phép vệ sinh mới, trong hai mươi bốn giờ đầu, em bé không được ăn gì, chỉ có thể thỉnh thoảng được nhỏ vào miệng vài giọt nước đường, chờ cho dãi nhớt chảy hết mới bắt đầu được ăn.
o Đầy cữ
Một cữ là thời gian bảy ngày hoặc chín ngày.
Em bé ra đời sau thời gian đó gọi là đầy cữ. Cữ của em trai là bảy ngày, của em gái là chín ngày. Phân biệt như vậy vì tục ta tin rằng con người có hồn và vía. Hồn nam cũng như nữ đều có ba hồn, còn vía thì con trai khỏe mạnh gan dạ hơn có bảy vía, con gái yếu đuối nhu mì có chín vía.
Đầy cữ, nghĩa đen là đầy thời gian tượng trưng cho số vía của em. Ta có lệ cúng đầy cữ, còn gọi là cúng mụ.
Theo sự tin tưởng, muốn thành hình con người phải do các bà mụ
nặn. Tất cả có mười hai bà mụ, mỗi bà phụ trách nặn một số bộ phận của đứa trẻ.
Khi cúng mụ, đồ lễ phải sửa soạn cho đủ mười hai bà, mỗi vật cúng đều phải là con số mười hai: mười hai đôi hài, mười hai cái mũ, mười hai bộ quần áo, mười hai trăm vàng, một đĩa có bày mười hai trái cây, mười hai chiếc bánh, mười hai con ốc, mười hai miếng trầu v.v... cùng với cúng mụ, có cúng gia tiên và thổ công.
Trong những nhà gia đình khá giả, khi cúng đầy cữ cho em bé, có mời bạn bè, họ hàng và khách đến dự.
Họ hàng và bạn bè tới ăn đầy cữ đều có quà cho sản phụ hoặc cho 31
em bé, thường thường cho sản phụ là thức ăn, nhất là nước mắm ngon để sản phụ ăn kiêng, còn quà cho em bé là vòng tay, vòng chân, quần, áo v.v...
Tục cúng đầy cữ ngày nay còn tồn tại rất ít, chỉ những gia đình hiếm hoi mới làm lễ cúng để cho đứa trẻ đỡ ốm sài, hoặc người ta chỉ cúng cho con đầu lòng, vì con đầu cháu sớm, người ta muốn theo đủ mọi tục lệ cổ truyền. Ở thành thị rất ít người còn giữ tục này.
o Cáo tổ tiên và thần linh
Tại nhiều nơi có tục, mỗi khi sinh con, nhất là con trai thường sửa lễ
để cáo với gia tiên và thổ công. Sinh con là một tin mừng, cần trình tổ
tiên rõ huyết thống đã thêm chồi thêm lộc để tổ tiên mừng và phù hộ
cho. Đã cáo với gia tiên, thì cũng cúng cả thổ công để xin ngài che chở
cho đứa nhỏ vì ngài là đệ nhất gia chi chủ.
Có nhiều nhà, ngoài việc cúng gia tiên và thổ công, người ta lại sửa lễ
ra cúng tại đình như để trình với đức Thành hoàng xin ngài ban phúc cho đứa nhỏ. Lễ vật thường đơn sơ chỉ gồm có con gà, đĩa xôi, trầu cau, rượu, vàng, hương, nhưng người ta rất thành tâm.
Thêm một suất đinh, nếu là con trai, hoặc thêm một nhành hoa, nếu là con gái, là một việc đáng mừng cho bất cứ gia đình nào. Trước sự vui mừng này, cầu xin che chở của thế giới vô hình cho em nhỏ là một điều rất bình thường!
o Bảo vệ hài nhi
Cha mẹ nuôi con bằng trời bể, thành ngữ này đã nói lên một phần nào sự trông nom nuôi nấng con cái của cha mẹ.
Tiếng rằng sinh tử hữu mệnh, sống chết có số nhưng trong sự nuôi con, cha mẹ đã phải chịu bao sự vất vả đắng cay, chống với số mệnh cố
bảo vệ lấy con mình, nhất là để con mình khỏi vì mình mà chết yểu.
Trong thời kỳ thơ ấu, có nhiều em nhỏ rất nhiều bệnh tật, và chống lại những bệnh tật đó, cha mẹ đã mất bao công lao, phần thì lo thuốc men, phần thì lo những phương thuật, cố làm sao nhân định thắng thiên, nuôi cho được đứa con.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 32
Thời kỳ trứng nước của em nhỏ là thời kỳ lo lắng nhiều nhất của cha mẹ.
Có nhiều đứa trẻ đẻ phải giờ quan sát hoặc giờ kim xà thiết tỏa khó nuôi, cha mẹ phải cúng đổi giờ. Nhà nào hiếm muộn, sợ khó nuôi con, phải làm lễ bán khoán, nghĩa là bán con cho Thần Phật, nhờ Thần Phật phù hộ cho đứa trẻ. Mỗi khi mang con đi đâu, sợ tà ma ám ảnh, người ta bôi nhọ chảo lên trán đứa trẻ, hoặc cầm con dao, cái kéo, hai chiếc đũa bảo vệ đứa trẻ.
Có nhiều đứa trẻ cứ đêm đêm là khóc, có đứa khóc suốt ba tháng mười ngày, ta gọi là khóc dạ đề. Muốn chữa cho con khỏi khóc, phải mượn một người khác họ lấy chiếc cọc chuồng lợn ném xuống gầm giường.
Gặp người lạ vía dữ, dù ở ngoài cữ, đứa trẻ vẫn khóc, người ta cũng đốt vía khi người lạ đi khỏi hoặc khi người lạ còn có mặt thì người ta lấy bó lửa ném vào trước mặt người này cho đứa trẻ thôi khóc.
Có khi đứa trẻ ngủ lì không dậy, người ta xin vài cái tóc mai của người khác họ phẩy vào miệng đứa trẻ cho nó thức tỉnh. Đứa trẻ hay trớ, người ta lấy nước lòng đỏ cho uống. Đứa trẻ nấc, lấy ngọn lá trầu không dán vào trán cho khỏi.
Con đau bụng khóc lắm, phải mượn người nhổ bão trên đầu mẹ, đặt con nằm ép vào bụng mẹ; Con lên đậu, ngoài cửa ngõ treo một bó vàng và trồng một cây lá ráy vào một chiếc nồi đất, hoặc cài một cành kinh giới để giữ mệnh cho con; Con hắt hơi thì nói “sống lâu, trăm tuổi” để
cầu cho con thọ; Con hay ốm đau, nhờ người bế con chui qua chiếc quan tài trong một đám tang người chết già để cho con khỏi bệnh, sống lâu; Con mắc sài, mang con ra kéo lê chung quanh một mả mới để bỏ cái sài lại nơi mả này.
Các phương thuật trên chỉ cốt bảo vệ cho đứa trẻ về phương diện vật chất, nhưng cha mẹ lại thường bảo vệ cả tính nết của con nữa. Bởi vậy khi đưa con cho người khác bế, người ta kiêng không đưa qua cửa sổ, e lớn lên đứa trẻ sẽ ăn cắp ăn trộm, trèo tường, vượt cửa, cũng như lúc cho con bú chực thường kén người tốt tính để con khỏi chịu ảnh hưởng 33
tính xấu của người cho bú.
o Lễ bán khoán
Trong các phương thuật để bảo vệ hài nhi, có tục bán khoán, nghĩa là bán con cho Thần Phật, thường được các nhà hiếm muộn áp dụng, kể
cả ngay thời bây giờ nữa, nhất là khi đứa trẻ sinh vào những giờ khó nuôi.
Con người trần có thể bị tà ma theo dõi ám ảnh, nhưng con Thần Phật tà ma phải kiêng sợ.
Khi đã bán khoán rồi thì đứa trẻ là con nuôi vị Thần hoặc Phật tại các điện chùa mà cha mẹ đứa trẻ đem bán khoán. Tờ khoán có mang kiềm ấn của Thần hoặc Phật. Kể từ ngày bán khoán đứa trẻ sẽ theo họ Thần, Phật. Bán cho cửa đền thờ đức Hưng Đạo Vương đứa trẻ mang họ Trần, bán cho chùa, đứa trẻ lấy họ Màu.
Việc bán khoán có những lễ nghi riêng.
Trước hết, muốn bán khoán phải đợi cho đứa trẻ sinh được ba tháng mười ngày, nghĩa là phải chờ đứa trẻ sạch hết những ô uế của lúc ra đời và người mẹ cũng đã hết tuần chay gái đẻ, không còn những dơ dáy của buổi lâm bồn nữa.
Khi đứa trẻ đã qua ba tháng mười ngày rồi, phải chọn một ngày tốt, mang đồ lễ tới đền chùa. Ở đây sẵn có thầy cúng để nhờ viết một lá sớ
xin bán khoán đứa bé và một tờ khoán thành hai bản. Tờ khoán này cũng như tờ văn tự bán con cho Thần, Phật, có dấu của đền chùa. Rồi cha mẹ
đứa bé phải lễ trước bàn thờ, trong khi thầy cúng đọc sớ.
Sớ đọc xong, được đem hóa. Một bản khoán lưu ở đền chùa, còn một bản khoán cha mẹ đứa bé mang về. Kể từ ngày bán khoán, tuy trên thực tế và giấy khai sinh đứa trẻ vẫn mang họ của cha, nhưng đối với thế giới thần linh, đứa trẻ mang họ của Thần, Phật, và trong mọi sự cúng lễ khi khấn cho đứa trẻ phải khấn theo họ của Thần, Phật.
Trên nguyên tắc, việc bán khoán có giá trị suốt đời nhưng khi đứa trẻ
quá 16 tuổi, bố mẹ có thể xin chuộc khoán được.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 34
o Bỏ chợ, bỏ đường
Bỏ chợ bỏ đường cũng là một phương thuật để bảo vệ hài nhi chống ma quỷ.
Có những đứa trẻ luôn luôn bị ma quỷ quấy nhiễu, hết đẹn đến sài, hết đau đến yếu, càng cúng lễ đứa trẻ càng đau ốm hơn. Người ta bảo rằng đó là ma quỷ thấy đứa trẻ được bố mẹ cưng chiều thì phá quấy để
được cúng lễ. Người ta không tiếc gì sự cúng lễ, nhưng đối với ma quỷ
cũng như đối với kẻ tiểu nhân càng cúng lễ chúng càng quấy đảo nhiều hơn.
Muốn cho chúng khỏi dõi theo ám ảnh, phải tỏ cho chúng biết đứa trẻ không được quý báu như chúng tưởng tượng. Người ta mang đứa trẻ ra bỏ ở chợ hoặc ở ngã ba đường sẽ có người, người này đã thỏa thuận trước với bố mẹ đứa trẻ, đến nhặt bế về.
Một vài ngày sau, có khi ngay một vài giờ sau, bố mẹ đứa trẻ đến xin lại và cám ơn người mang nó về.
o Cho làm con nuôi
Đây cũng là một phương thuật để bảo vệ cho hài nhi. Có nhiều đứa trẻ sinh ra gặp tuổi xung khắc với bố mẹ, sống với bố mẹ thường hay quặt quẹo, người ta tìm một người hợp tuổi với đứa bé để cho làm con nuôi. Thường người ta tìm một gia đình đông con, vì sự thật, việc cho làm con nuôi này chỉ là một việc tượng trưng, chính ra cha mẹ đứa trẻ
chịu hết mọi sở phí về việc nuôi nấng, có khi mướn riêng một người vú cho đứa trẻ.
Người ta kiếm người hợp tuổi với đứa bé, để đứa bé khỏi quặt quẹo, kén gia đình đông con, để đứa bé dựa vào những đứa con kia mau lớn.
Tục cho làm con nuôi ngày nay vẫn còn một số người theo và cả tục bỏ
chợ bỏ đường nói trên cũng vẫn còn, và thường diễn ra ở ngay giữa nơi đô thị.
Bảo rằng đây là một điều mê tín cũng đúng, nhưng vì lòng thương con, muốn cho con không đau ốm luôn luôn khỏe mạnh, người ta có nề hà gì những điều mê tín nhỏ vô hại.
o Hớt vía
Như trên đã nói, con người ta có hồn và vía.
Tục ta tin rằng, những đứa trẻ bất thần bị ngã, vía có thể xuất ra khỏi thể
xác, đứa trẻ có thể trở nên ngớ ngẩn và lúc ngủ thường hay giật mình.
Phải hớt vía của đứa trẻ để trả về cho nó.
Muốn hớt vía người ta dùng một quả trứng luộc, cắt làm bảy hoặc chín miếng tùy theo con trai hay con gái rồi nắm bảy hay chín nắm cơm nho nhỏ, mang tới chỗ đứa bé bị ngã, hú vía nó, trao cơm và trứng bảy hoặc chín lượt. Sau đó mang cơm và trứng đó về cho đứa trẻ ăn. Đứa trẻ nhỏ
quá không ăn được, bố mẹ sẽ nhai mớm cho nó.
Đứa trẻ ăn cơm và trứng đó sẽ lấy lại được vía đã xuất ra và sẽ trở lại bình thường.
o Tàn hương nước thải
Nhiều khi đứa trẻ bị ốm, bố mẹ sau khi đã chạy chữa thuốc men không khỏi thì cho là đứa trẻ bị thần thánh quở phạt hoặc tà ma ám ảnh. Như
vậy không phải là bệnh trần, thuốc men không thể chữa được.
Phải cầu cúng. Phải xem bói toán để biết đứa trẻ đã bị vị thần thánh nào quở phạt, vi phạm vào đền miếu hay ma quỷ nào theo ám.
Quẻ bói đã cho biết tại sao đứa trẻ đau ốm rồi, bố mẹ phải đi cúng ở
các cửa đền cửa điện để tạ tội cho đứa trẻ, hoặc xin bùa phép trừ tà ma.
Cúng vái xong người ta lấy tàn hương hòa với nước thải, nghĩa là nước lạnh đã dùng để cúng cho đứa trẻ uống.
Người ta cũng lại xin bùa dấu tại các đền điện mang về cho đứa trẻ
đeo. Có bùa đeo, tà ma trông thấy sẽ phải lánh xa.
Cũng có nhiều trường hợp đứa trẻ bị nóng sốt, cha mẹ chúng lấy trầu cau đặt lên bàn thờ tổ tiên, đốt hương khấn vái để xin tổ tiên phù hộ cho đứa nhỏ. Rồi tuần hương tàn, bố mẹ lại lấy tàn hương nước thải cho con uống. Việc này bây giờ cũng ít diễn ra.
o Áo dấu
Áo dấu là thứ áo may bằng vải có in dấu của các cửa đền, cửa điện, Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 36
cửa chùa.
Hàng năm trong những ngày hội chùa Hương, hội phủ Giày, hội chùa Thầy, hội đền đức Hưng Đạo Vương cùng nhiều chùa khác, những gia đình có con nhỏ, đi trảy hội mang theo vải tới đền chùa làm lễ xin dấu đóng vào vải, mang về may áo cho con. Họ tin rằng, tà ma thấy trẻ mặc áo dấu, sợ uy Thần, Phật, thường lánh xa đứa trẻ, không dám theo dõi quấy phá chúng nữa.
Tại các đình đền có tiếng, trong những ngày hội, có người mang vải lụa tới xin dấu đóng sẵn vào để bán cho các thiện nam tín nữ tới mua dùng may áo cho các con.
Vải đóng dấu này chỉ dùng may áo chứ không may quần, vì dấu của Thần, Phật là trọng, may quần đứa trẻ mặc lê la ô uế mang tội. Khi giặt áo dấu, người ta cũng giặt riêng chứ không giặt lẫn với quần, nhất là quần của người lớn.
o Thờ cúng thần sao
Có những trường hợp cả mấy đứa con của một gia đình luôn luôn đau ốm quặt quẹo. Thuốc thang cúng vái nhiều vẫn không khỏi. Sau xem số mới biết tại cung Tử của bố mẹ có các sao dữ ảnh hưởng tới sức khỏe của con cái, như sao Bạch Hổ. Muốn cho con cái được bình yên khỏe mạnh, cha mẹ phải thờ cúng các vị thần sao, nhất là thần Bạch Hổ khi lá số của bố mẹ có sao này trong cung Tử.
o Đầy tháng
Cha mẹ nuôi con, mong con khôn lớn từng ngày từng tháng. Kể từ
ngày sinh, đầy cữ thì cúng đầy cữ, tới khi con được đầy tháng, lại có cúng đầy tháng. Qua một cữ, qua một tháng là qua một giai đoạn trong đời người.
Cúng đầy tháng, người ta cũng cúng mụ như khi đầy cữ, đồ lễ cũng tương tự như đồ lễ cúng đầy cữ.
Cũng có cúng Thổ công và gia tiên.
Những gia đình khá giả lại có mời bạn bè bà con tới ăn cỗ, như để
mừng cho đứa trẻ đã qua được tháng đầu. Lần này khách tới ăn cỗ chỉ
có quà mừng cho đứa bé, không có quà cho người mẹ như khi đầy cữ.
Sau một tháng sinh nở, sức khỏe của người mẹ đã trở lại bình thường, không cần kiêng khem nữa.
o Đầy năm
Khi đứa trẻ được đầy năm, lại có cúng đầy năm.
Đứa trẻ đầy năm gọi là đầy tuổi tôi, và lễ cúng đầy năm gọi là cúng đầy tuổi tôi. Cũng gọi là lễ thôi nôi. Thôi nôi tức là từ bỏ cái nôi. Từ bé cho đến lúc đầy năm, đứa trẻ được đặt trong nôi, nhưng khi đầy năm, đứa trẻ đã khá lớn, bố mẹ chuyển chúng sang nằm giường; nhà giàu sắm giường nhi đồng cho con, nhà nghèo, con nằm ngay giường mẹ.
Lễ thôi nôi rất được chú trọng.
Ngoài việc cúng lễ, trong lễ này, ta còn có tục thử đứa trẻ.
Hôm ấy đứa trẻ được tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo mới, rồi con trai thì bày đồ cung tên bút giấy, con gái thì bày đồ kim chỉ dao kéo. Ngoài ra có bày cả những đồ chơi. Sau lễ cúng, đặt đứa trẻ ở trước mọi thứ này để xem đứa trẻ khôn ngoan ra sao. Người Trung Quốc gọi tục này là Thí nhi, nghĩa là thử trẻ.
Đứa trẻ được đặt trước mọi đồ vật trên, do bản tính của con người sẽ
lấy một đồ vật, có khi nó lựa chọn, có khi tự nhiên nó nhặt lấy. Người ta cho rằng nếu đứa con trai chọn kiếm cung hay bút giấy sau này nó sẽ
theo đường văn hoặc nghệ võ, trái lại nếu nó lấy một đồ dùng gì khác thuộc một nghề nào, sau này nó trở thành người thợ trong nghề đó.
Còn con gái, nếu chọn kim chỉ, sau này sẽ có tài nội trợ, nếu chọn thúng mủng sẽ đi buôn đi bán v.v...
Lễ đầy tuổi tôi của đứa trẻ rất quan trọng. Nó đánh dấu một giai đoạn của đời người.
Đứa trẻ đã bắt đầu lớn, và kể từ ngày đầy năm, đứa trẻ cũng bớt bệnh tật nhiều.
Trong buổi cúng đầy năm, nhiều nhà làm cỗ bàn rất linh đình và mời rất đông khách khứa, đông hơn ngày cúng đầy cữ và ngày đầy tháng.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 38
Nhân dịp này khách đến chơi lẽ tất nhiên là có đồ mừng cho đứa trẻ, nhưng cũng có cả đồ mừng cho cha mẹ nữa, nhất là khi đứa trẻ lại là con trai. Các tay văn tự nhân dịp này thường có thơ mừng.
Tục ăn đầy năm cũng như ăn đầy tháng của đứa trẻ hiện còn tồn tại, với gần đủ các lễ nghi xưa tại hầu khắp các nơi.
Ăn đầy tháng cho con tức là ăn mừng con đã qua một giai đoạn của thời kỳ trứng nước, còn ăn đầy năm tức là ăn sinh nhật lần thứ nhất của con vậy.
o Đặt tên
Ngày xưa nước ta không có hộ tịch, đứa trẻ sinh ra không phải khai sinh ngay. Ta cho rằng vấn đề hộ tịch là vấn đề riêng của từng cá nhân và chỉ liên quan tới cá nhân và gia đình đương sự.
Bởi vậy khi đứa trẻ mới sinh ra, người ta có lệ quen gọi nó là thằng cu, cái đĩ, thằng tý, con đỏ v.v... tùy theo con trai hay con gái.
Cho tới lớn, nhiều khi lấy vợ lấy chồng, con cái mới bắt đầu được cha mẹ chính thức đặt tên cho, và khi đã được đặt tên rồi, tên vẫn có thể
thay đổi được nếu vì trùng danh hoặc phạm phải tên kiêng, hoặc vì cái tên cũ mang lại những điều không may cho gia đình hoặc cho bản thân đứa trẻ.
Cụ Tam Nguyên Yên Đổ, trước khi lấy tên là Nguyễn Khuyến đã mang tên là Nguyễn Văn Thắng, nhưng sau khi vì trượt khoa thi Hội năm Ất Sửu, nên cụ mới đổi tên. Sau khi đổi tên, cụ đã đỗ Tam Nguyên năm Tân Mùi.
Sự chọn tên đặt cho con cái, người Việt xưa rất thận trọng. Chẳng thà không đặt tên, cứ gọi con bằng một tên mách qué, chứ đã đặt tên, cái tên ít ra phải nói lên được cái sở nguyện của cha mẹ mong cho con, hoặc như trường hợp cụ Tam Nguyên nói trên, cái sở nguyện của chính người tự đặt tên lấy.
Truyện ông Ngô Thì Sĩ đặt tên cho ông Ngô Thì Nhiệm là một thí dụ.
Khi ông Nhiệm lên sáu tuổi, ông Ngô Thì Sĩ mới hỏi ý ông muốn lấy tên 39
gì. Ông Nhiệm đã thưa:
-
Thưa cha, con xin phép cha cho con ghép vào tên húy của cha (chữ
Sĩ), một chấm phảy để làm tên con; chữ Nhiệm. Nhiệm là gánh vác, ý cậu bé muốn mai sau gánh vác một phần trách nhiệm của nước nhà.
Lớn lên, ông Ngô Thì Nhiệm đã không hổ với tên Nhiệm của mình.
Tôi xin đơn cử thêm một thí dụ nữa: trường hợp cụ thân sinh ông Cao Bá Quát đặt tên cho hai con là Bá Đạt và Bá Quát.
Đời nhà Chu có tám vị hiền sĩ là Bá Quát, Bá Đạt, Trọng Đột, Trọng Hốt, Thúc Dạ, Thúc Hạ, Quý Quỳ và Quý Đa.
Đặt tên cho hai con là Bá Đạt và Bá Quát, cụ thân sinh ra các ông đã muốn cho các con sau trở nên những bậc hiền sĩ.
Sau khi đặt tên con rồi, cha mẹ mới ghi tên con vào gia phả và vào các giấy tờ liên quan tới con như lá số tử vi chẳng hạn.
o Thành phần của tên
Tên thường gồm có họ, chữ đệm và tên, nhưng có nhiều khi, người ta không dùng chữ đệm.
Họ từ tổ tiên truyền xuống, qua đời này đến đời khác. Thường thì con lấy họ cha, nhưng cũng có trường hợp con theo họ mẹ:
-
Khi mẹ không có anh em trai, một trong các người con lấy họ mẹ
giữ việc phụng thờ ngoại tộc.
- Khi người mẹ lẳng lơ, sinh con không cha.
Mỗi người thường giữ họ của mình cho đến chết, nhưng cũng có khi có người thay đổi họ:
-
Xưa kia thân nhân những tướng giặc, tướng cướp đã bị bắn chết, cùng những họ nhà vua đã bị truất ngôi, phải trốn tránh ở các nơi xa lạ, cần thay họ đổi tên để khỏi lộ tông tích.
-
Những người có công với triều đình được nhà vua ban cho quốc tính, lấy họ vua thay cho họ mình, như ông Trần Bình Trọng chính là họ
Lê.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 40
Con nuôi, đôi khi bỏ họ cha mẹ đẻ để lấy theo họ cha mẹ nuôi.
Chữ đệm dùng để nối liền họ với tên.
Thường đàn bà con gái dùng chữ thị, còn đàn ông con trai dùng mấy chữ văn, đình, thế, huy, duy, hữu v.v...
Ngày nay, chữ đệm thường thay đổi nhiều, đàn bà con gái nhiều khi không dùng chữ thị mà dùng những chữ khác để cho tên nghe được kêu như chữ mộng, lệ, thùy v.v... và đàn ông con trai cũng dùng nhiều chữ
khác thay những chữ đã kể trên.
Tên chính là tiếng dùng để gọi, và là phần chót trong tính danh.
Như trên đã nói, tên được chọn sao để nói được cái sở nguyện của cha mẹ, của kẻ mang tên, hay ít ra tên cũng phải có một nghĩa gì.
Con gái, người ta ưa lựa tên các thứ hoa, kèm trước một chữ đệm thật văn vẻ, lan, cúc, mai, đào, liễu, liên. Các tên trên ghép vào các chữ đệm có thể thành Mộng Lan, Thúy Liễu, Lệ Mai v.v...
Người ta cũng dùng tên bốn mùa để đặt cho con gái: Mộng Xuân, Lệ
Thu, Thúy Hạ, Diễm Đông...
Tên con trai, thường đặt những tên hùng mạnh hoặc có tính cách về nam phái: Nhân, Trí, Dũng, Tín, Trực v.v...
Có khi để giản tiện, người ta lấy ngay năm sinh theo thập can hoặc thập nhị chi để đặt cho con: Giáp, Ất, Bính, Đinh..., Tý, Sửu, Dần, Mão...
Cũng có người lấy địa đanh nơi sinh con đặt cho con: Thái (Thái Bình), Định (Tân Định) v.v...
Tất cả những lối đặt tên trên chỉ có tính cách chỉ dẫn không phải nhất thiết phải như vậy, nhất là ngày nay trong việc đặt tên có thay đổi nhiều.
Có điều, trong một nhà người ta vẫn tránh sự trùng danh, và xưa kia có tục kiêng tên.
o Tục kiêng tên
Không ai lấy tên các vị thần linh đặt cho con, cũng như không bao giờ
dùng tên một người trên để đặt cho con mình, e mang tội bất kính.
Nhiều người khi thù hằn một kẻ nào, thường lấy tên của kẻ đó đặt cho con, coi như vậy là một điều sỉ nhục cho kẻ thù.
Trong thôn xã, đã có xảy ra những trường hợp vì vô ý, có người đặt tên con nhằm vào tên cha mẹ hoặc ông bà một người trong làng. Khi người này biết, và hiểu rằng đó chỉ là một sự nhầm lẫn chứ không phải là một sự cố ý, người này liền mang cau trầu bao chè tới để yêu cầu người kia sửa lại tên con để tránh sự trùng danh với bề trên của mình.
Kiêng tên là một điều quan trọng của phong tục ta. Ta có câu Nhập môn nhi vấn húy nghĩa là khi vào một nhà nào phải hỏi tên húy để biết mà kiêng.
Người có con bắt đầu được kiêng tên. Kể từ khi có đứa nhỏ người ta dùng tên nó để gọi cha mẹ nó, dù tên nó mới chỉ là một tên tạm như
tên Tí, tên Tẹo. Người ta gọi bố mẹ nó là bác Tí giai, bác Tí gái, cậu Tí, mợ Tí, ông Tí, bà Tí, hoặc bác Tẹo giai, bác Tẹo gái, cậu Tẹo, mợ Tẹo, ông Tẹo, bà Tẹo v.v...
Trong sự giao thiệp của giới thượng lưu, thường dùng họ để gọi thay tên: Nguyễn Tiên sinh, Đào Tiên sinh, Đỗ Quý hữu, Ngô Ngân huynh, Đặng Tôn Ông, bác Lê, bác Trần v.v...
Khi một người có chức tước, văn bằng, thì chức tước và văn bằng được gọi thay tên: Ông Huyện Đặng, cụ Cử Vũ, ông Bát Vương, ông Hàn Ngữ v.v...
Đối với những người có danh vọng tiếng tăm, để kính trọng, người ta chỉ gọi tới tên làng: ông tú Vị Xuyên là Tú Xương, cụ Tam nguyên Yên Đổ là cụ Nguyễn Khuyến, v.v...
Thường chỉ những người bạch đinh mới phải dùng đến tên để gọi, bởi vậy tại các thôn xã người ta cố mua chân nhiêu, chạy chân xã để
được gọi là ông nhiêu, ông xã, bà xã thay tên của mình.
Những người giữ những chức vụ trong làng, trong tổng đều được gọi bằng chức vụ. Theo tục lệ, con cháu tránh đọc tới tên cha mẹ ông bà và tổ tiên, dân chúng kiêng tên các quan và tên vua chúa.
Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 42
Chính vì tục kiêng tên, mà nhiều chữ phải cải chệch sang chữ khác: hoa đổi là bông, hoàng đổi tên là huỳnh, nguyên đổi là ngươn, long đổi là luông v.v...
Các kỳ thi ngày xưa có lệ kiêng húy, trong bài văn, thí sinh tuyệt đối không được dùng những chữ tên nhà vua và các vị tôn tộc trực hệ. Tên các vị tổ tiên xa của nhà vua có thể dùng được nhưng phải đánh ngoặc cho khác đi.
Những chữ húy được yết tại trường thi: Phạm húy thì bị tội.
Ngoài ra, bố mẹ cũng kiêng gọi tên con trong lúc đi đêm hoặc trong khi qua một nơi thanh vắng, e tà ma theo hành đứa nhỏ.
Tục kiêng tên nay đã mất ở nơi đô thị, nhưng ở một vài địa phương vẫn còn giữ, nhất là kiêng tên các vị thần linh.
Ở đô thị, tên các vị vua chúa, anh hùng xưa kia vẫn được kiêng, nay được đem đặt cho đường phố để tỏ sự sùng kính.
o Tên của một người
Đã xét đến việc đặt tên, không thể không nói tới các loại tên của ta.