Tiết Tháo Một ThờiPhần 8
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Một dây một buộc ai giằng cho ra.
Cô Giang không những là người thân tín của Nguyễn Thái Học, mà còn là một nữ đảng viên rất đắc lực trong việc giao liên, thông tin tức cho các anh em.
Hai người yêu nhau được ít lâu. Nguyễn Thái Học đã xin phép Đảng được lấy Cô Giang làm người vợ. Hai người ít khi rời nhau trong công tác. Một lần, nhân dịp đi qua Phú Thọ, hai người đã đem nhau vào đền Hùng Vương thề nguyền. Thề
nguyền xong, Cô Giang xin với Nguyễn Thái Học trao cho mình một khẩu súng, và cô đã hứa:
- Nếu chẳng may Học chết vì nước, Giang cũng xin lấy khí giới này chết theo chồng.
Lời thề ước ấy có ngờ đâu sau này đã ứng nghiệm, và Cô Giang đã được chết bởi chính khẩu súng Học giao mình.
Công việc đảng vỡ lở, các đảng viên bị bắt và bị Hội đồng đề hình của Pháp kết án. Nguyễn Thái Học và xứ Nhu chưa bị bắt, bị chúng xử vắng mặt mỗi người 20 năm khổ sai.
Kể từ ngày đó Học càng hoạt động, mặc dầu bị bọn Pháp tầm nã, và trong mọi hoạt động luôn luôn có Cô Giang đi theo giúp đỡ. Cô vừa phụ trách giao liên, vừa như một nữ
cố vấn của Học. Gặp việc khó khăn, cô xin đảm nhiệm một 160
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
phần, và trong những lúc thất bại, cô khuyến khích vị hôn phu rất nhiều.
Trong những buổi hội đồng ở Lạc Đạo, ở Võng La, Cô Giang đều có mặt và giữ một địa vị trọng yếu. Chính cô đã giữ việc giao thông để truyền tin cho các chi bộ, khi đảng quyết định dùng võ lực. Cô luôn luôn thay hình đổi dạng đi khắp nơi này qua nơi khác.
Sau cuộc khởi nghĩa thất bại ở Yên Bái đêm mồng 9 tháng 2 năm 1930, Cô Giang và Học vẫn không xa nhau.
Cuộc khởi nghĩa thất bại, các yếu nhân dần dần bị bắt rồi đến cả Nguyễn Thái Học cũng lọt vào tay địch. Cô Giang gặp một cơn khủng hoảng tinh thần. Nhớ đến lời thề sơn hải với người yêu, cô như người mất trí, bỗng dưng cười, bỗng dưng khóc. Những anh em ở Hà Nội còn chưa bị bắt, hết sức ngăn cản cô mới giữ được cho cô khỏi lộ hình tích để cô có thể gián tiếp chăm nom được cho Học. “Tuy vậy, Cô Giang vẫn giữ địa vị cố vấn của Lê Hữu Cảnh, Nguyễn Xuân Huân, hai người đứng đầu cải tổ Việt Nam Quốc dân đảng. Nhờ cô mà Cảnh và Huân vẫn nhận được tin tức và mệnh lệnh của đảng trưởng khi bị giam ở Hỏa lò Hà Nội hoặc ở nhà lao Yên Bái”(1).
Trong lúc ấy, cô đã tính đến đời mình. Chiều hôm 17 tháng 6 năm 1930, khi được tin Nguyễn Thái Học bị giải lên Yên Bái, cô đã đáp xe lửa đi theo. Cô mang theo khẩu súng và một quả bom định hôm sau vào phá pháp trường, nhưng cô không tới gần được, lính canh đã ngăn cản.
Tại pháp trường, với một sức tự chủ phi thường, đứng đằng xa, cô đã đem nụ cười đáp lại nụ cười của Nguyễn Thái Học khi sắp bước lên máy chém. Đứng giữa đám người đứng xem, cô đã không mảy may lộ vẻ gì là đau xót.
1 Cố Nhi Tân - Tài liệu đã dẫn.
Nguyễn Thái Học đã chết. Việc nước đã hỏng, đảng thì tan vỡ, biết làm sao hàn gắn được như cũ. Cô Giang thấy đời sống của mình là vô nghĩa, chỉ có cách lấy cái chết để
đền ơn nước và trả nghĩa ý trung nhân. Cô tiếc là không được chết một cách oanh liệt như các bạn tại trận tiền, dưới bóng quốc kỳ.
Cô quay về Thổ Tang ở Vĩnh Yên, quê hương của Nguyễn Thái Học, vào thăm lại cái quán giữa đồng, gần làng Đồng Vệ, nơi đây đã có lần cô và Thái Học cùng ngồi trong quán trò chuyện. Rồi cô bước ra ngoài quán dùng khẩu súng lục tự
bắn vào thái dương, ngã vật xuống, súng quăng ra một bên, nằm chết bên gốc đa cạnh quán.
Cô đã vẹn lời thề với vị hôn phu, cô đã dùng khẩu súng của Thái Học trao cho để chết theo Thái Học.
Lúc chết, cô mặc tang phục, áo vải trắng và khăn trắng.
Cô để tang chồng. Cô đang có mang được mấy tháng. Trong người cô, ngoài các đồ lặt vặt, còn có hai bức thư cô đã viết ở nhà trọ Yên Bái trên ba trang giấy khổ hẹp và ký tên là Nguyễn Thái Học phu nhân.
Tin cô chết được báo về tỉnh Vĩnh Yên và Hà Nội.
Bọn thám tử Hà Nội, viên công sứ Vĩnh Yên cùng với viên Tri phủ Vĩnh Tường đến tại chỗ khám nghiệm và lập biên bản. Chúng đã lột trần truồng cô ra và cứ để như vậy dưới mưa nắng trong hai ba hôm mới cho chôn. Chúng muốn trả
thù ở cái xác chết về những hoạt động của Việt Nam Quốc dân đảng. Chúng có biết đâu đối với người liệt nữ đã chết vì nước vì chồng, tất cả những hành động dã man của chúng có nghĩa lý gì.
Dưới đây là hai bức thư Cô Giang đã để lại:
Bức thư thứ nhất:
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Ngày 17 tháng 6 năm 1930
Thưa thày mẹ,
Con chết là vì hoàn cảnh đã bó buộc, con không báo được thù cho nhà, rửa được nhục cho nước. Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở đền Hùng, giờ con tìm về
chỗ quê cha đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con.
Đứa con dâu thất hiếu kính lạy.
Bức thư thứ hai:
Anh đã là người yêu nước, không làm tròn được nghĩa vụ
cứu nước, anh giữ lấy linh hồn cao cả để về dưới suối vàng chiêu binh rèn súng, đánh đuổi quân thù.
Phải chịu đựng nhục nhã mới mong có ngày vẻ vang. Các bạn đồng chí còn sống lại sau Anh phải phấn đấu thay anh để đánh đổ cường quyền mà cứu đồng bào đau khổ.
Cùng với bức thư thứ hai này có bài THƠ TUYỆT BÚT: Thân không giúp ích cho đời,
Thù không trả được cho người tình chung.
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh.
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình, biết sao.
Bây giờ hết kiếp thơ đào,
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây.
Dẫu rằng chút phận thơ ngây,
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên.
Chết đi, dạ những buồn phiền,
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình.
Quốc kỳ phấp phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ.
Cực lòng lỡ bước sa cơ,
Chết sầu, chết thảm, có thừa xót xa.
Thế ru? Đời thế ru mà?
Đời mà ai biết người mà ai hay.
Cô Giang chết theo Nguyễn Thái Học. Những người có tâm huyết thời ấy được tin này đều xót xa. Hai người đã chết cùng một ngày, chết vì non sông, vì đất nước.
Cụ Phan Bội Châu có làm bài văn tế:
Than rằng:
Sóng nhân đạo ở hai mươi thế kỷ, bạn má hồng toan cướp gái làm trai,
Cương nữ hùng trên một góc trời Nam, bọn da trắng phải ghê dòng giống Việt.
Trên Quốc sử mực chàm giấy phấn, ong cả đoàn nhan nhản bầy nô,
Dưới Long thành máu thắm cỏ xanh, gái đến thế rành rành chữ liệt.
Trăng thu mờ mịt, trong những buồn tanh.
Người ngọc xa vời, nghĩ càng đau tuyệt.
Nhớ nữ liệt xưa:
Đất nhà tinh hoa,
Trời treo băng tuyết.
Vóc quần thoa những chí khí tu mi,
Thân khuê các mà can trường khí tiết.
Thuở bé nhờ ơn gia giáo, Hán học vừa thông, Tuổi xanh vào quốc học trường, Pháp văn cũng biết.
Tang hải gặp khi xoay cuộc, ngó giang sơn luống những lòng đau:
Trần ai tức tối không người, thấy nô lệ dương đôi tròng ngút.
Xem sách Pháp từng đem óc nghĩ: Dan Đá, La Lan thuở
nọ, chị em mình há dễ ai hơn;
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Giở sử nhà bỗng vỗ tay reo: Bà Trưng, Cô Triệu sau này, non nước ấy có đâu hồn chết.
Triều Cách Mạng đang lên sùng sục, cát Vệ Tinh ngậm đầy trước miệng, mong thấy bể vùi;
Vai quốc dân gánh nặng trĩu trìu, đá Oa Hùng dấp sẵn trong tay, nỡ xem trời khuyết.
Tức tối cường quyền.
Thi gan sấm sét.
Khi nhập đảng tuổi vừa đôi tám, cô nữ binh đăng đối tiên phong;
Lúc tuyên truyền sách động ba quân, lưỡi biện sĩ trổ tài du thuyết.
Thổi gió phun mây từng mấy trận, nào Lâm Thao, nào Yên Bái, nữ tham mưu đưa đẩy đội hùng binh;
Vào sinh ra tử biết bao phen, kia thành huyện, kia đồn binh, cờ nương tử xông pha hùm rắn rết.
Nguyễn Thái Học trổ tài kiện tướng, nhờ có cô mà lông cánh thêm dài:
Phạm Thị Hào nổi tiếng trung trinh, em có chị mà xứng danh nữ kiệt.
Khốn nỗi thay:
Vận nước còn truân,
Tai trời chửa hết.
Trắc trở buồm xuôi gió ngược, tài anh thư gặp bước gian truân;
Ngại ngùng nước biếc non xanh, tay Chức Nữ uổng công thêu dệt.
Nhưng hãy còn:
Thiết thạch tâm can,
Chân toàn bách chiết.
Trời như thế, việc đành phải thế, đoạn đầu đài mừng thấy anh lên:
Sống là còn, thác cũng là còn, súng kề cổ không nhường cho giặc giết.
Tiếng súng lúc vang lên một phút, núi đổ sông nhào.
Hồn anh như hẹn phút trùng lai, thần gào quỷ thét.
Ôi thương ôi!
Khóc nữa mà chi,
Nói không kể xiết.
Một nén hương lòng,
Mấy lời thống thiết,
Bọn nữ lưu ai nối gót theo chân?
Nghĩa đoàn thể xin từ đây cố kết.
Hỡi ơi! Thương thay.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
CÔ ĐỖ THỊ TÂM,
MỘT NỮ CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG
ĐÃ TỰ SÁT MỘT CÁCH GHÊ GỚM
Năm 1930, phong trào cách mạng chống Pháp đang sôi nổi tràn lan suốt từ Nam ra Bắc, và ở đâu Pháp cũng thẳng tay đàn áp, mong lấy cường quyền và thủ đoạn tàn ác để
dẹp lòng yêu nước của dân Nam. Nào chém giết, nào tù đầy, nhưng trước mọi sự tàn bạo của Pháp, lòng người Việt Nam như càng bùng cháy thêm lửa rực.
Càng bắt bớ dữ dội, càng tra xét hung tàn, người Việt càng không sờn lòng trước mọi hành động quyết liệt của người Pháp. Sau những vụ Yên Bái, Cổ Am, Phụ Dực, Hưng Hóa, còn biết bao nhiêu vụ trỗi dậy khác, khiến cho người Pháp luôn luôn như ngồi trên đống lửa.
Trong số các người chống Pháp, trai có, gái có, già có, trẻ
có, người Pháp càng muốn trị thì mầm mống lại như càng muốn mọc thêm lên.
Một buổi sáng mùa hạ năm đó, tại con đường Hậu Giám, có một thiếu nữ Việt Nam trẻ đẹp đang rải truyền đơn thì bị mật thám của Pháp tới bắt. Khi bị bắt cô còn giữ một gói truyền đơn trong người.
Thiếu nữ đó là cô Đỗ Thị Tâm tức Chuyên, quán làng Thịnh Hào, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, con một gia đình cách mệnh Nho giáo. Cha là ông Đỗ Văn Viêm, đã từng theo chân các nhà cách mệnh Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ sang Tàu, rồi sau lại trở về hoạt động ở nước nhà, đã bị Pháp bắt và xử trảm ở Lạng Sơn. Ông Viêm có bốn con, hai gái là bà Thành và cô Tâm, hai trai là các ông Xương và Bàng. Sau khi ông Viêm chết được ít lâu, bà Viêm cũng vì buồn phiền quy tiên.
Cô Tâm, từ lúc mẹ chết, phải lo gánh vác việc nhà, nhưng lòng cô luôn luôn nghĩ tới thù nước thù nhà. Cô Tâm căm giận lũ Pháp đã hành hạ người Việt Nam, đã giết cha cô, làm cho mẹ cô phải chết sớm. Cô tham gia cách mệnh để có thể
rửa hận một phần nào. Cô đã giúp cho phong trào cách mệnh hồi đó được rất nhiều việc, cho nên cô vẫn bị theo dõi.
Khi cô bị bắt, bọn mật thám đã dùng đủ mọi cực hình để tra tấn cô, nhưng cô cắn răng chịu mọi sự đau đớn mà không khai ra một điều gì. Thấy không khai thác được gì ở cô, bọn Pháp sau ít ngày giam cô ở sở mật thám, liền cho giải sang giam ở khám lớn Hà Nội. Cô bị giam riêng ở
xà lim và bị xiềng xích như một trọng phạm. Cô chỉ được một bộ quần áo lót mình với chiếc yếm có đôi giải yếm.
Bị giam trong xà lim, cô tự nghĩ, nếu sống để bọn chúng tra khảo, e có khi vì quá yếu ớt mà khai ra điều gì có lợi cho giặc và có hại cho công cuộc cách mệnh của các đồng chí, hơn nữa nếu cô không chịu khai, e có thể bị chúng làm nhục và xâm phạm tới tiết hạnh của mình, sao cho bằng thác đi mà giữ tròn nghĩa lớn với cách mệnh. Cô tìm cái chết, nhưng giam trong xà lim, chết bằng cách nào? Sau khi suy nghĩ, cô liền xé yếm và giải yếm của mình, tống vào họng nuốt để tự tử.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Cô đã chết được như ý muốn. Bọn Pháp không khai thác được gì ở cô, và các nhà cầm quyền Pháp càng thêm sợ nghĩa khí của người Việt Nam.
Cô Đỗ Thị Tâm đã chết vì nghĩa. Ngày nay nhắc tới cô ở
đây, chúng tôi không ngoài ý muốn nêu cao một tấm gương đẹp đẽ của phụ nữ. Ngoài cô Tâm còn biết bao nhiêu phụ nữ
khác hữu danh và vô danh cũng đã hy sinh cho chính nghĩa.
NGỌN LỬA TỰ THIÊU
Ở trên tôi đã nhắc tới mấy tín đồ đạo Gia Tô chịu chết vì đạo để giữ Nghĩa với Chúa. Để khép lại phần này, tôi xin thuật sơ qua về vụ mấy tu sĩ Phật giáo đã tự thiêu để bảo toàn Phật pháp; các vị đó đã tìm cái chết để tranh đấu cho chính nghĩa của đạo Phật.
Chuyện mới xảy ra gần đây không lâu, có lẽ nhiều người cho là còn quá mới để ghi vào tập sách này.
Sự kiện xảy ra năm 1963 dưới thời Ngô Đình Diệm.
Ngô Đình Diệm là người theo đạo Gia Tô, có anh là Giám mục Ngô Đình Thục.
Có em làm Tổng thống Việt Nam, Giám mục Thục nuôi mộng lên chức Hồng y tại Việt Nam, và muốn như vậy, giám mục Thục phải làm sao để đạo Gia Tô vượt trên các đạo khác về nhân số tín đồ cũng như về tổ chức cơ sở.
Nhưng Việt Nam lại là quốc gia đa số dân chúng theo Phật giáo. Phải diệt Phật giáo để Gia Tô giáo vượt lên.
Giám mục Thục đã âm mưu với các em là Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn, cùng bọn tay sai, phần nhiều là côn đồ táng tận lương tâm mới theo đạo, đang cần lập công, để diệt Phật giáo trước rồi lần lượt đến các tôn giáo 170
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
khác, ngõ hầu biến quốc gia Việt Nam thành một quốc gia hoàn toàn theo Gia Tô giáo. Như vậy chức Hồng y sẽ rơi chắc vào tay Giám mục Thục.
Vừa nhân ngày lễ Phật Đản 2507 tới. Phật tử treo cờ Phật giáo, Ngô Đình Diệm đã ra lệnh triệt hạ Phật kỳ trên toàn lãnh thổ miền Nam, nhất là tại Huế, nơi đây cờ treo nhan nhản và san sát như rừng.
Cùng với việc triệt hạ Phật kỳ tại Huế, Ngô Đình Cẩn đã cấm không cho phát thanh chương trình buổi lễ Phật Đản như thường lệ.
Dân chúng, như những năm qua, kéo nhau tới trước đài phát thanh để nghe chương trình này đều ngạc nhiên khi chỉ được nghe những bản nhạc không dính dáng gì đến lễ Phật Đản.
“Các Phật giáo đồ ở nhà không được nghe, cũng đến đài phát thanh để tìm hiểu nguyên do. Lúc đó là 20 giờ 05, Phật giáo đồ càng lúc đến càng đông, ước lượng độ 10.000 người.
Trong khi đó, Quân vụ Thị trấn cho lệnh cấm trại 100%; Thiếu tá Đặng Sỹ một tín đồ Gia Tô giáo đã lập nhiều công trạng với họ Ngô, Phó Tỉnh Trưởng Nội An và Tiểu khu Thừa Thiên, huy động lực lượng thiết giáp Bảo An cùng đại bác và xe cứu hỏa của Cảnh sát thành phố Huế, Quân cảnh và Hiến binh bao vây đám đông mà họ gọi là đám biểu tình(1).”
Sau đó, theo lệnh của Đặng Sỹ, súng và lựu đạn đã nổ, xe thiết giáp đã lăn xả vào đám đông. Kết cuộc:
“Bốn người bị thương và tám người bị giết bằng súng, lựu đạn và xe thiết giáp cán. Trong số tám người chết có sáu thanh thiếu nhi, hai em bị cán mất nửa đầu, một em bị cán mất đầu, xương sọ bị vụn tan, không ai nhìn được mặt, và một em bị mất hẳn đầu.
1 Tuệ Giác - “Việt Nam Phật giáo tranh đấu sử” - Nhà xuất bản Hoa Nghiêm, Sài Gòn, Phật lịch 2.508, trang 83-84.
Đau đớn thay! Không có biểu tình và không có bạo động mà tám tín đồ Phật giáo bị bỏ mình vì một chính sách bất công gian ác.
Đau đớn thay cho nhân dân Việt Nam!
Đã thế, Chính quyền còn âm mưu vận động quần chúng vu khống Phật giáo đồ bị Việt Cộng mua chuộc, để lấy cớ tiếp tục đàn áp và bắt bớ...”(1)
Trước tình trạng đó, trước sự quyết tâm đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm mong thực hiện cái mộng Hồng y của Giám mục Thục, các giới Phật giáo, Tăng ni cũng như
Phật tử, bị dồn vào thế buộc phải đứng lên tranh đấu và đưa ra năm nguyện vọng chính đáng đòi chính quyền thỏa mãn: 1- Yêu cầu Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ giáo kỳ của Phật giáo.
2- Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các Hội truyền giáo Thiên chúa đã được ghi trong đạo dụ số 10.
3- Yêu cầu Chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo.
4- Yêu cầu cho tăng ni Phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo.
5- Yêu cầu Chính phủ đền bồi một cách xứng đáng những kẻ vô tội bị chết oan; và kẻ chủ mưu giết hại phải đền tội xứng đáng.
Năm nguyện vọng trên, xét ra không có chi là quá đáng; và đó chỉ là những điều tối thiểu cần thiết cho bất cứ tôn giáo nào ở một nước khả dĩ gọi là dân chủ tự do. Vậy mà anh em Giám mục Thục đã không chấp nhận và với tham vọng chức 1 Tuệ Giác - Tài liệu đã dẫn.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Hồng y của La Mã, anh em họ Ngô đã tiếp tục triệt hạ Phật giáo bằng cách sát hại tín đồ và tu sĩ, bắt bớ giam cầm, và đã xảy ra nhiều trường hợp chôn sống các sư sãi một cách hết sức dã man. Họ khủng bố Phật tử, đốt phá chùa chiền, tuyệt đường lương thực của các tu sĩ và tín đồ ở các chùa. Tội ác của họ cao như núi, rộng như biển.
Trước tình trạng ấy, trước thái độ ngoan cố của anh em Giám mục Thục, ngày 11-6-1963 vào “lúc 10 giờ sáng, Thượng tọa Thích Quảng Đức đã phát nguyện thiêu thân tại ngã tư
Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng, với nguyện vọng đòi hỏi Chính quyền Diệm hãy chấm dứt tình trạng đàn áp Phật giáo đồ, đòi hỏi việc giải tỏa các chùa Từ Đàm, Linh Quang, Diệu Đế v.v... và các chùa ở Đô Thành Sài Gòn, giải quyết gấp rút năm nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam”(1).
Ngọn lửa tự thiêu của Bồ Tát Thích Quảng Đức đã được loan truyền nhanh chóng, không riêng chỉ ở trong nước, còn bay xa tới khắp các nước trên thế giới.
Sự hy sinh của Bồ Tát đã gây xúc động cho toàn thể đồng bào, trong số đó có cả các đồng bào Thiên Chúa giáo chân chính, vì vẫn còn một số mới a dua theo đạo lập công. Chúng chỉ biết nịnh nọt anh em họ Ngô để lấy lòng.
Lại cũng có các tu sĩ Thiên Chúa lên tiếng chỉ trách chính quyền họ Ngô về vụ đàn áp Phật giáo này, trong số đó có linh mục M.G. Lê Quang Oánh đã gửi một bức Huyết lệ thư
cho Phật giáo, dưới đây là một đoạn trích trong thư ấy:
“Xin nghiêng mình mặc niệm các linh hồn tử sĩ, chia buồn với gia đình họ và an ủi các nạn nhân trong cuộc đổ máu này.
Chúng tôi lên án TỘI BẤT CÔNG đã giết hại đồng bào vô tội. Thật là tàn bạo, dã man, phản dân chủ, phản tự do, 1 Tuệ Giác - Tài liệu đã dẫn.
phản đạo đức, làm nhục cho quốc thể Việt Nam, một nước văn hiến trên bốn ngàn năm lịch sử”(1).
Sau cái chết của Bồ tát Thích Quảng Đức, ngày 24-7-1963, nhiều vị linh mục và thanh niên Thiên Chúa giáo đã gửi thư
lên đức Khâm sứ Tòa Thánh Vatican ở Sài Gòn. Đức Giáo hoàng Phao Lồ Đệ Lục vạch trần những hành vi tàn ác, vô nhân đạo trong cuộc đàn áp Phật giáo đồ Việt Nam, và cầu xin Đức Giáo hoàng dùng uy quyền tối cao can thiệp với anh em Ngô Đình Diệm để sớm chấm dứt tình trạng bi thảm này ở Việt Nam.
Mặc dầu ngọn lửa thiêng đã ngùn ngụt bốc lên, mặc dầu sự
lên tiếng của các giới trong và ngoài nước, Giám mục Thục và các em hắn vẫn tiếp tục chính sách đàn áp Phật giáo để
mong đoạt cho được địa vị Hồng y La Mã ở Việt Nam. Sự
ngoan cố của bọn họ đã khiến thêm sáu vị tu sĩ khác lần lượt tự thiêu để tranh đấu cho chính nghĩa của đạo pháp:
- Ngày 4-8-63, Đại đức Thích Minh Hương tự thiêu tại Bình Thuận.
- Ngày 13-8-63, Đại đức Thích Thanh Tuệ tự thiêu tại chùa Phước Duyên, Huế.
- Ngày 15-8-63, Ni cô Diệu Quang tự thiêu ở Ninh Hòa, Nha Trang.
- Ngày 16-10-63, Đại đức Thích Tiêu Diêu tự thiêu tại chùa Từ Đàm, Huế.
- Ngày 5-10-63, Đại đức Thích Quảng Hương tự thiêu trước chợ Bến Thành.
Bảy vị nam nữ tu sĩ tự thiêu để bảo vệ Phật pháp đã nói lên lòng khát vọng tự do tín ngưỡng của toàn dân Việt Nam 1 Theo Tuệ Giác trong tài liệu đã dẫn, trang 160.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
và đã tố cáo hành động khát máu và điên cuồng của anh em Giám mục Thục.
Bảy ngọn lửa thiêng đã làm sôi sục lòng căm uất của nhân dân Việt Nam đối với chính quyền họ Ngô chủ trương theo đường lối kỳ thị tôn giáo. Họ đã đi dần tới con đường tự sát.
Phật giáo đồ luôn luôn ghi ơn các tu sĩ vì nghĩa quên mình, tự thiêu để ngọn cờ Phật giáo được tự do phấp phới trên đất nước Việt Nam.
NHỮNG CHUYỆN TRỌNG NGHĨA
TRUNG HOA VÌ NƯỚC GIẾT CON
Vua Trang Công nước Vệ qua đời, con là công tử Hoàn lên nối ngôi tức là Vệ Hoàn Công.
Hoàn Công có người em khác mẹ là Chu Hu tính khí hung tợn chỉ nhắm muốn chiếm ngôi của anh.
Hoàn Công nhu nhược, triều thần lại không có người tài giỏi, Chu Hu chẳng sợ hãi ai, lúc nào cũng bàn với Thạch Hậu, con quan đại phu Thạch Thác đã cáo lão về việc cướp ngôi.
Chẳng bao lâu, trong một tiệc rượu, Chu Hu đâm chết Vệ
Hoàn Công, rồi loan tin Hoàn Công ngộ cảm mà chết.
Vệ Hoàn Công chết, em ruột là công tử Tấn phải trốn sang nước Hình lánh nạn. Chu Hu tự lên nối ngôi vua, phong Thạch Hậu làm Thượng đại phu.
Việc Chu Hu giết anh, người nước Vệ ai cũng biết và đều lấy làm oán giận.
Chu Hu lo sợ lắm, bàn cách với Thạch Hậu, muốn ra oai với nước láng giềng để cho dân trong nước phải sợ.
Thạch Hậu khuyên Chu Hu nên kéo quân đánh nước Trịnh, Chu Hu nghe theo và đã thắng quân Trịnh một trận. Sau trận thắng, Chu Hu kéo quân về nước, nhưng người trong nước vẫn tỏ ý không phục.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
Lại nói về Thạch Thác, vị lão thần của nước Vệ, bố Thạch Hậu, từ khi Chu Hu giết vua tiếm ngôi, trong lòng vẫn lo lắng nghĩ kế để trừ kẻ loạn thần.
Chu Hu thấy lòng dân không phục, bàn cùng Thạch Hậu.
Thạch Hậu nói:
- Phụ thân tôi là Thạch Thác, khi trước làm quan Thượng Khanh, người trong nước ai cũng tin phục, nếu chúa công triệu vào để cùng coi việc nước, dân chúng sẽ phục.
Chu Hu sai người mang lễ vật tới tặng và triệu Thạch Thác vào triều. Thạch Thác không nhận lễ vật, cáo ốm nặng không đi.
Chu Hu hỏi lại Thạch Hậu và có ý muốn đến tận nhà gặp Thạch Thác.
Thạch Hậu bảo:
- Chúa công đến vị tất cha tôi đã chịu tiếp kiến, xin để tôi phụng mệnh chúa công về hỏi trước xem sao.
Thạch Hậu về nhà nói với Thạch Thác lòng kính mến của Chu Hu.
Thạch Thác hỏi con:
- Chúa công triệu ta vào chầu có việc gì?
Thạch Hậu đáp:
- Nay chúa công mới lên ngôi, lòng dân chưa phục, muốn nhờ phụ thân chỉ bảo cho một kế.
Thạch Thác nói:
- Chư hầu lên ngôi, phải có mệnh vua nhà Chu mới là chính đáng. Chúa công nên vào chầu vua nhà Chu, nếu được vua nhà Chu phong cho, người trong nước ai còn dám không phục.
Thạch Hậu nói:
- Lời phụ thân dạy rất phải, nhưng nay tự nhiên vào triều, tất vua nhà Chu sinh lòng nghi, con nghĩ cần phải có một người nói trước với vua nhà Chu.
Thạch Thác bảo:
- Việc đó có khó gì. Trần Hoàn Công là người trung 177
thành với vua nhà Chu, rất được vua nhà Chu yêu mến.
Nước ta với nước Trần vốn giao hiếu với nhau, chúa công nên sang qua nước Trần, nhờ Trần Hoàn Công nói trước với vua nhà Chu, rồi sẽ vào triều, lo gì vua nhà Chu chẳng chịu phong cho.
Thạch Hậu đem lời cha nói lại với Chu Hu. Chu Hu lấy làm phải, sắm sửa lễ vật cùng Thạch Hậu sang Trần.
Được tin chúa tôi Chu Hu sửa soạn sang Trần, Thạch Thác trích máu đầu ngón tay viết một bức mật thư gửi quan đại phu nước Trần là Tử Hàm nhờ đệ trình lên vua Trần. Thạch Thác và Tử Hàm là đôi bạn thân.
Bức huyết thư như sau:
“Thạch Thác cúi đầu trăm lạy có mấy lời kính dâng Trần Hiền Hầu.
Nước Vệ tôi nhỏ mọn, không ngờ trời lại ra tai, sinh ra cái vạ giết vua. Đó dẫu là cái tội của Chu Hu, nhưng thật tại thằng con hư của tôi là Thạch Hậu, nó tham lợi mà đem lòng xui giục.
Nếu mà hai kẻ loạn tặc kia không giết được, thiên hạ tất lắm đứa bắt chước cái gương xấu ấy làm càn, tôi đây tuổi già mình yếu, không thể trừng trị nổi, thật đắc tội với tiên công lắm.
Bây giờ hai kẻ loạn tặc ấy dắt nhau sang quý quốc là bởi cái mưu của tôi bày ra. Xin chúa công bắt mà trị tội để
làm gương cho những kẻ thần tử mai sau, thật là một việc may cho cả thiên hạ, chẳng những may riêng cho nước tôi mà thôi” (1).
Trần Hoàn Công xem xong bức thư hỏi ý kiến Tử Hàm, Tử Hàm tâu:
1 Theo Nguyễn Đỗ Mục, “Đông Chu liệt quốc”, Hà Nội, nhà in Trung Bắc Tân Văn, 1930.
Tinh thần trọng nghĩa phương Đông
- Đứa loạn tặc của nước Vệ tức là đứa loạn tặc của nước Trần. Bây giờ chúng nó dắt nhau đến nước ta là chúng nó tự
đem thân đến chỗ chết. Ta không thể dung túng được.
Trần Hoàn Công khen phải, lập sẵn kế để bắt Chu Hu và Thạch Hậu.
Khi chúa tôi Chu Hu tới, nước Trần phục quân giáp sĩ bắt trói lại. Tử Hàm đem bức thư của Thạch Thác tuyên đọc một lượt. Mọi người bấy giờ mới biết mưu của Thạch Thác mượn tay nước Trần để trừ nghịch tặc.
Trần Hoàn Công toan đem Chu Hu và Thạch Hậu ra chém.
Các quan bàn nên báo tin cho Thạch Thác để người nước Vệ
sang nghị tội.
Hoàn Công cho là phải, bèn một mặt báo tin cho nước Vệ, một mặt đem giam riêng Chu Hu và Thạch Hậu ở hai nơi khiến cho hai kẻ không thể liên lạc được với nhau, Chu Hu giam ở Bộc Ấp, Thạch Hậu giam ở Trần Đô.
Nhận được thư của Trần Hoàn Công, Thạch Thác vào triều họp các quan lại, mở thư ra đọc.
Các quan đều nói rằng:
- Đây là việc lớn của nước nhà, xin lão quan chủ trương cho mới được.
Thạch Thác nói:
- Hai đứa loạn tặc ấy không thể dung tha, tất phải đem chính pháp, nào ai là người đảm đương công việc ấy?
Quan Hữu Tế Xú nhận đi giết Chu Hu.
Các quan lại nói:
- Kẻ thủ ác là Chu Hu bị giết, còn Thạch Hậu là kẻ tòng nghịch cũng nên cho nhẹ tội một chút.
Thạch Thác nổi giận nói:
- Tội ác của Chu Hu đều là do thằng Thạch Hậu xúi giục cả, các quan định cho nó nhẹ tội, chẳng hóa ra nghi ta có bụng tư với con ta hay sao. Âu là để lão thân hành đi giết 179
thằng loạn tặc ấy, nếu không thì còn mặt mũi nào ta trông thấy nhà miếu của tiền nhân nữa.
Gia nhân Nhu Dương Kiên thấy Thạch Thác nói vậy, liền xin đi giết Thạch Hậu.
Thạch Thác sai Hữu Tế Xú đi Bộc Ấp để chém Chu Hu, Nhu Dương Kiên sang Trần Đô để chém Thạch Hậu, rồi sắp sửa xe giá đi đón công tử Tấn ở nước Hình về làm vua.
Hữu Tế Xú và Nhu Dương Kiên sang nước Trần, vào yết kiến Trần Hoàn Công tạ ơn trừ hộ loạn đảng. Sau đó, Hữu Tế Xú đến Bộc Ấp đem Chu Hu ra chém.
Chu Hu bảo Hữu Tế Xú:
- Mày làm bề tôi, sao mày dám giết ta?