Tiết Tháo Một ThờiPhần 11

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

lên. Tây Môn Báo liền bảo:

- Hãy đợi lát nữa xem sao.

Mọi người đều run sợ. Một khắc nữa về sau, Tây Môn Báo chỉ vào mặt bọn kỳ lý hương hào và lũ đệ tử của bà đồng già mắng rằng:

- Nước sông chảy cuồn cuộn, nào thấy Hà Bá ở đâu. Chúng bay giết oan bao nhiêu là trinh nữ rồi. Giết người, bây giờ

chúng bay phải đền mạng.

Mọi người thấy quan Thái thú mắng liền sụp lạy kêu:

- Xưa nay chúng tôi vẫn bị bọn đồng cốt chúng lừa, chứ

không phải tại chúng tôi.

Tây Môn Báo liền truyền:

- Bà đồng già đã chết rồi. Từ nay về sau ai còn nói tới chuyện Hà Bá lấy vợ thì người ấy phải xuống làm mối nói với Hà Bá trước. Bọn kỳ lý hương hào kia đã chia tay nhau 215

bao nhiêu tiền bạc của dân chúng, nay phải đem trả hết nếu không sẽ bị tội.

Tây Môn Báo lại ra lệnh cho bọn phụ lão đem bọn nữ đệ

tử gả cho các chàng trai đã đứng tuổi mà chưa có vợ. Từ bấy giờ, tuyệt đối đồng cốt và tục Hà Bá cưới vợ mất hẳn.

Những dân ở Nghiệp Quận, ngày trước phải trốn đi, nay lại kéo nhau về. Tây Môn Báo lại thân đi xem xét địa thế, hiểu rõ nguyên cớ của sự hạn tiêu khô đất Nghiệp, sức cho dân phải đào 12 con ngòi thông với sông Chương Thủy, cho nước chảy lan ra. Các ruộng được nước ngòi chảy vào, trở

nên phì nhiêu, lúa mùa tốt lắm.

Dân chúng đất Nghiệp rất là vui vẻ. Vì đất Nghiệp nhờ

Tây Môn Báo, trở nên một nơi phồn thịnh.

Ngụy Văn Hầu được tin, trọng thưởng cho Tây Môn Báo rất hậu.

*

Tây Môn Báo đã làm một việc đáng khen, và đây chính là ông vì dân vì nước. Ông không sợ đi trái với phong tục, ông quyết bỏ đi một tục lệ có hại. Ông chỉ nghĩ đến mệnh vua, phải lo làm sao cho đất Nghiệp thịnh vượng. Có thể việc làm của ông không có lợi cho ông, chuốc cho ông sự thù oán của hương lý kỳ hào, nhưng vì dân vì nghĩa, ông đã làm việc phải làm. Ông đã giữ trọn đạo nghĩa của nhà cai trị đối với dân, chỉ biết quyền lợi của dân.

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

NĂM TRĂM NGHĨA SĨ NƯỚC TỀ

CHẾT THEO ĐIỀN HOÀNH

Hán Cao Tổ bình định nước Tề sau khi đã diệt xong các nước Sở, Triệu, Ngụy. Điền Hoành con cháu vua Tề phải mang tôn tộc và một số người còn có lòng với nước Tề trốn ra một hòn đảo ở ngoài bể Đông. Vua Hán vốn là một người độc ác, nhưng bề ngoài bao giờ cũng giả điều nhân nghĩa để

lấy lòng người. Phần thì muốn tỏ ra mình đại lượng, phần thì muốn cõi bể Đông được yên, Hán đế sai sứ thần là Lục Giả ra dụ Điền Hoành, khuyên Hoành nên về đầu hàng vua Hán sẽ được phong vương và sẽ được mãi mãi giữ hương hỏa nước Tề.

Lục Giả, vị sứ thần đời Hán, đã từng sang Việt Nam dụ

Triệu Đà quy phục nhà Hán, là một tay ăn nói khéo léo nên Điền Hoành có ý xiêu lòng. Tuy nhiên, Hoành vẫn hội họp tất cả mọi người theo mình để bàn về việc nên hoặc không nên quy thuận Hán. Mọi người đều nói là không nên vì vua Hán là người hẹp lượng, có hàng chưa chắc đã được dung tha, chi bằng đã chiếm cứ được một hòn đảo thì dù đảo này có hẹp cũng nên cố giữ lấy hòng lập nên vương nghiệp độc lập. Điền Hoành không đồng ý và nói:

- Đảo này nhỏ, quân lực mình ít, nếu mình độc lập, đời nào vua Hán để yên. Tôi không muốn vì tôi không biết tự lượng mà mọi người phải chịu một sự hy sinh vô ích.

Điền Hoành theo Lục Giả định vào triều kiến vua Hán, nhưng khi gần tới kinh đô Lạc Dương bỗng Hoành tự nghĩ:

- Vua Hán đã giết vua Tề cướp lấy đất nước Tề; là con cháu, ta đã không báo được thù, bỏ trốn là một điều hèn, nay ta lại theo lời dụ mà đầu Hán thì thật là một điều vô sỉ. Ta còn mặt mũi nào trông thấy những anh em đã bỏ nhà theo ta nữa. Ta thà chết chứ không khuất kẻ thù.

Rồi Điền Hoành tự sát. Lục Giả cùng hai người gia khách đi theo họ Điền quàn thi thể Điền ở một nơi, rồi vào tâu vua Hán.

Được tin, vua Hán tỏ ra thương tiếc, lấy đại lễ an táng Hoành trong thành Lạc Dương, và cho đòi hai người gia khách vào chầu an ủi. Hai người này ở trong triều ra bàn nhau:

- Điền Công chết vì không muốn khuất Hán, nhưng cũng không muốn để năm trăm nghĩa sĩ đi theo phải chết oan với Hán. Điền Công chết như vậy lẽ nào ta ham sống để yên hưởng thái bình sao?

Hai người rủ nhau tới mộ Điền Hoành tự tử. Hán Cao Tổ

nghe tin cả sợ, nói với quần thần:

- Điền Hoành tự sát đã là khó, nay hai gia khách lại tới mộ chết theo thì càng khó hơn. Điền Hoành ăn ở được lòng người lắm. Ta e năm trăm nghĩa sĩ ở ngoài đảo biết thì tất nổi lên trả thù. Ta cần phải sai người ra dụ ngay.

Vua Hán lại sai sứ thần ra ngoài hải đảo. Sứ thần thuật lại việc chết của Điền Hoành và hai gia khách và nói rằng Điền Hoành chết là vì một ý riêng, rồi đem uy đức của vua Hán ra dụ.

Năm trăm nghĩa sĩ không đáp lời sứ giả, chỉ cùng nhau lập đàn tế Điền Hoành, rồi sau đó cùng nhau tự đâm cổ chết 218

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

ngay ở dưới đàn. Sứ giả hoảng sợ về tâu vua Hán. Vua Hán càng kinh ngạc nói:

- Thật là những người trọng nghĩa. Từ xưa đến nay mới có một số đông người vì nghĩa quyên sinh như vậy.

Sau đó vua Hán sai người tới chôn cất thi thể năm trăm nghĩa sĩ. Người đời sau nhớ tới Điền Hoành đặt tên đảo này là đảo Điền Hoành.

Điền Hoành và năm trăm nghĩa sĩ đã chết vì nghĩa nhưng cũng chết vì vua Hán vậy. Vua Hán là người hẹp lượng, không quên thù, say uy thế, đã từng giết nhiều người khác trong những trường hợp tương tự. Nếu Điền Hoành không tự

sát, vị tất vua Hán đã dung tha và 500 nghĩa sĩ chắc đâu có toàn mạng. Cho nên người ta khen Điền Hoành và năm trăm nghĩa sĩ bao nhiêu, người ta lại chê vua Hán chừng ấy.

THỪA TƯỚNG LỤC TÚ PHU ẴM

VUA TƯỜNG HƯNG NHÀ TỐNG

NHẢY XUỐNG BỂ TỰ TỬ

Quân Mông Cổ xâm chiếm Trung Hoa, nhà Tống thua quân phải xin hàng.

Mấy vị đại thần nhà Tống là Lục Tú Phu, Trương Thế Kiệt không chịu thần phục nhà Nguyên, lập vua Dục Đế ở Phúc Châu để hiệu triệu nhân dân chống quân Mông Cổ. Nghĩa sĩ

bốn phương nổi lên, trong số đó có đám quân của Văn Thiên Tường là đáng kể.

Vua Dục Đế chết. Bọn Lục Tú Phu phải lập Vệ Vương Bình mới lên 3 tuổi lên làm vua, tức là vua Tường Hưng.

Bọn Lục Tú Phu muốn chống Mông Cổ. Mông Cổ sức mạnh, bọn Lục Tú Phu không đương nổi, vua tôi phải kéo nhau chạy ra một hòn đảo ở bể Đông để mong gây dựng lại thế lực. Nhưng quân Mông Cổ lại rầm rộ tràn tới. Trước mọi vỡ lở của cơ sự, Thừa Tướng Lục Tú Phu phải nói với mẹ

con vua Tường Hưng:

- Trước đây, Hoàng đế Cung Tôn và Thái hậu ở Lâm An, khi Nguyên tặc thắng, đã không chịu chết theo xã tắc, đầu 220

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

hàng quân giặc để cầu sống mà bị nhục. Ngày nay Bệ hạ nên tự quyết để tránh sự bị nhục.

Lục Tú Phu nói xong dìm chết vợ con mình trước rồi quay lại bế vua Tường Hưng vào lòng nhảy xuống bể. Trước khi tự tử, Phu còn nói:

- Mệnh trời đã tuyệt nhà Tống, lũ giặc đã xâm chiếm non sông, chúng tôi muốn ra công cứu lại, nhưng nay thế cùng lực kiệt, đành chịu chết để giải tỏ tấm lòng với các đấng tiên vương.

Bà Thái hậu cũng nhảy xuống bể chết theo. Và cảm động nhất là lũ cung nhân cũng nhảy xuống bể để chết theo Thái hậu.

Các tướng sĩ quân nhân vài mươi vạn người đều khóc lóc xót thương, rồi bảo nhau cùng chết để giữ vẹn nghĩa với nhà Tống. Trước khi chết, họ cùng nhau khóc:

- Anh hồn bệ hạ và thừa tướng có thiêng xin chứng giám cho chúng tôi. Chúng tôi đã chịu ơn nhà Tống không bao giờ

lại chịu hàng Nguyên. Chúng nó là lũ sài lang, chúng tôi tiếc không giết được chúng. Chúng tôi xin được chết trong sạch để đền ơn nhà Tống.

Họ đều chết. Thật đáng thương và cũng đáng khen.

HỌ ĐỀU CHẾT THEO VUA

TRANG LIỆT NHÀ MINH

Đời vua Trang Liệt nhà Minh có giặc Lý Tự Thành rất mạnh và tràn vào kinh đô vây đánh. Vua Minh trước thế giặc mạnh, biết không chống giữ được, bèn sai Thái giám đem hai Hoàng tử gửi một nơi, rồi tự giết công chúa Trường Bình tuổi còn thơ ấu. Sau đó nhà vua bảo Hoàng hậu tự sát. Hoàng hậu không ngần ngại thắt cổ chết. Nhà vua lại giết thêm mấy phi tần yêu quí nữa rồi ra triều đường triệu tập trăm quan. Mặc dầu chiêng khua trống gõ, chẳng có văn quan võ tướng nào tới. Tức bực, nhà vua đi lên Môi Sơn, viết mấy dòng chữ

vào vạt áo, ý nói vì mình kém tài sức để đến nỗi kinh thành phải vây hãm, nhưng đó chính là lỗi của các văn võ đại thần.

Nhà vua dù có chết đi cũng không mặt mũi nào trông thấy các đấng tiên vương.

Sau đó, nhà vua tự thắt cổ chết tại một tòa đình trên núi.

Khi nhà vua đã chết có viên Thái giám là Vương Thừa An chạy tới quì trước nhà vua lạy khóc một lúc lâu rồi cũng thắt cổ chết theo. Quan Đại học sĩ là Phạm Cảnh Văn được tin vua chết, than:

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

- Nước mất, vua tự ải, sống lại chỉ là sống thừa.

Than xong, ông nhảy xuống giếng chùa Song Tháp tự tử, người ái thiếp của ông cũng chết theo. Sau đó, trong ba ngày liền, trước khi quân giặc kéo vào trong thành, rất nhiều văn quan võ tướng tự sát theo vua, nhiều nhà chết cả gia đình, tổng cộng hơn hai nghìn người.

Đáng kể nhất là nữ cung nhân họ Ngụ. Nàng ra đứng trước bờ Ngự Hà nói to lên:

- Tôi chết theo vua. Ai không muốn chết nên tránh xa kẻo bị quân giặc làm nhục.

Đoạn nàng đâm đầu xuống sông chết. Hơn hai trăm cung nữ khác cũng nhảy theo, xác chồng chất lên nhau.

Cũng đáng kể và cảm động hơn nữa là chuyện gia đình quan Đại học sĩ Lưu Tam Ngô toàn gia tự sát. Trước khi chết, Ngô sai gọi bọn nô tì hơn hai chục người tới bảo:

- Ta làm quan hưởng lộc nước, nay nước loạn vua chết, ta không cứu nổi, cả nhà ta phải chết để tỏ lòng trung nghĩa.

Ta chết đi, của cải trong nhà ta sẽ về tay quân giặc, vậy ta cho hết các người chia nhau rồi trở về quê nhà mà làm ăn.

Bọn nô tì sụp lạy:

- Chúng tôi dù ngu hèn cũng biết thế nào là chữ Nghĩa, Đại nhân đã biết tận trung với đức vua, chúng tôi há không biết tận nghĩa với đại nhân sao?

Cả nhà Lưu Tam Ngô đã tự tử. Bọn nô tì sau khi chôn cất xong cũng đâm cổ chết theo. Cảm động và đáng kính biết bao nhiêu. Nghĩ lại ngày nay, những bọn thấy lửa đỏ đâm đầu vào, nhưng hơi có biến là chân giò lảng ra, lựa theo chiều gió mới, chẳng biết nghĩa khí là gì, thật đáng chê vậy. Buồn nhất là lũ thò lò sáu mặt này lại rất đông, và những người trọng nghĩa thì thật hiếm. Gương xưa cần phải nêu cho người ngày nay sáng mắt.

LIỆT SĨ HOÀNG HOA CƯƠNG

Trước đây, ai có dịp qua thăm thị xã Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, thường đều đi viếng Hoàng Hoa Cương, nơi có mồ chôn 72 liệt sĩ Trung Hoa đã vì tinh thần trọng nghĩa nổi lên diệt trừ Mãn Thanh, nhưng việc làm không thành, họ

đều chết, lưu lại danh thơm muôn thuở.

Cùng ở nơi đây có mộ Phạm Hồng Thái, một liệt sĩ Việt Nam đã phẫn uất trước sự thống trị tàn ác của người Pháp, và đã thủ mưu ám sát toàn quyền Đông Dương Merlin, nhưng việc cũng không thành và đã tử tiết để đền ơn quốc dân Việt Nam ở dòng Châu Giang, thuộc thành phố Quảng Châu.

Nhắc tới tinh thần trọng nghĩa phương Đông, tôi không thể

bỏ qua không nhắc tới 72 liệt sĩ Hoàng Hoa Cương cùng với liệt sĩ Việt Nam Phạm Hồng Thái được.

Gương người xưa nêu lên, biết đâu chẳng thức tỉnh được một số người vong bản quên mất giống nòi, quên mất giang sơn Tổ Quốc.

Người xưa tìm cái chết để giữ trọn chữ Nghĩa, người ngày nay há chẳng biết nhìn đó soi mình sao.

Chính ra những liệt sĩ Hoàng Hoa Cương không phải là những người đã tự sát để giữ nghĩa như những người các 224

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

chuyện trước. Sở dĩ tôi chép ra đây là vì những liệt sĩ này tuy không trực tiếp tự sát, nhưng họ đã vì nghĩa đi liều đến cái chết. Họ đã không sợ chết, đi thẳng đến sự chết để làm tròn nghĩa vụ của người dân đất nước trong lúc nước nhà bị

ngoại tộc thống trị.

Bấy giờ là cuối đời Mãn Thanh. Quân Mãn Thanh xâm chiếm Trung Hoa và sau mấy trăm năm cai trị đã khiến Trung Quốc sa vào hoàn cảnh suy nhược và rối loạn(1). Ngoài thì các cường quốc Âu Mỹ uy hiếp, trong thì hết loạn nọ đến giặc kia, lại thêm bà Tây Thái hậu thao túng quyền hành làm lắm chuyện ngang ngược. Dân chúng thật là căm phẫn. Mầm mống cách mệnh Trung Hoa khởi phát. Ai ai cũng nuôi ý chí khôi phục Trung Quốc và diệt trừ Mãn Thanh.

Tại khắp mọi nơi, chỗ nào cũng có tổ chức cách mệnh, từ Triều Châu tới Huệ Châu, từ Khâm Châu tới Nam Quan trấn, v.v...

Cuộc vận động cách mệnh của ông Tôn Văn thu được rất nhiều kết quả, và cách mệnh quân, sau một cuộc hội nghị đã quyết định hành động. Thị xã Quảng Châu được chọn làm nơi để cách mạng quân đánh chiếm đầu tiên. Mặc dầu đã có quyết định rồi, nhưng việc đánh chiếm Quảng Châu còn nấn ná cho tới đầu tháng 3 năm Tân Hợi tức là năm 1911 vẫn chưa được thi hành.

Ông Sinh Tài, một trong số các đồng chí cách mệnh sốt ruột phẫn uất tự động đơn thân đâm chết tên Phó Đô thống của triều Thanh là Phú Kỳ ở Quảng Châu khiến cho việc vỡ lở.

Trước tình trạng này, ban lãnh đạo khởi nghĩa do ông Hoàng Hưng chỉ huy phải mở một cuộc hội nghị bàn việc tạm hoãn lại công việc dự tính, nhưng phần đông cương quyết không chịu hoãn, đòi hành động ngay với lý do là chẳng thà hy sinh, 1 Tài liệu rút trong tập 72 liệt sĩ Hoàng Hoa Cương của Nguyễn Tử Năng.

chẳng thà đổ máu để làm gương cho đời còn hơn là chịu mọi sự nhục nhã sống với uy quyền của vua quan nhà Mãn Thanh.

Trước ý muốn của đa số, ban lãnh đạo phải phục tòng. Biết rằng đi tới chỗ chết, mọi người đều vui lòng. Chết vinh hơn sống nhục, không thành công thì thành danh. Không ai muốn sống dưới chính thể thối nát của Mãn Thanh với một lũ quan say quyền thế làm những việc rất trắng trợn không kiêng nể gì dân chúng quốc gia, ham quyền cố vị không hiểu gì thời thế.

Ông Hoàng Hưng đương cử giữ chức Tổng chỉ huy ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Việc tấn công Quảng Châu ấn định vào ngày 29 tháng 3 năm Tân Hợi tức là ngày 27-4-1911.

Theo kế hoạch của ban lãnh đạo, việc tấn công thành Quảng Châu chia làm 4 lộ:

- Lộ thứ nhất do Tổng chỉ huy Hoàng Hưng trực tiếp điều khiển tấn công dinh Tổng Đốc.

- Lộ thứ hai do Diêu Vũ Bình tấn công Tiểu Bắc Môn nhằm chiếm kho đạn và tiến vào thành nội.

- Lộ thứ ba do Trần Quýnh Minh tấn công sở Cảnh Sát, phối hợp với sự nội ứng của 200 sinh viên trong sở.

- Lộ thứ tư do Hồ Nghị Sinh trấn giữ Đại Nam môn.

Tất cả bốn lộ này đều bắt đầu tấn công vào 5 giờ chiều ngày nói trên. Lúc mở đầu cuộc tấn công, cách mạng quân tiến như

vũ bão vào các nơi. Tổng đốc Lưỡng Quảng là Trương Minh Kỳ hoảng hốt phải lén cửa sau chạy trốn, nhưng về sau có quân cứu viện của triều Mãn Thanh kịp đến làm thay đổi tình thế. Trước số đông của quân Mãn Thanh, cách mạng quân bị

tử thương rất nhiều. Cho đến 9 giờ đêm, quân cách mạng vì ít người và gần hết đạn nên vừa đánh vừa mở đường máu rút chạy. Quân Thanh lại đuổi theo, và trên dọc đường lại có một số các chiến sĩ bị tử trận. Tổng chỉ huy Hoàng Hưng cũng bị

thương: đứt hai ngón tay và bị thương ở chân.

Cuộc khởi nghĩa của Cách mạng quân bị thất bại; Quảng 226

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

Châu đã đẫm máu. Nhân dân Trung Hoa đã đau buồn trước thất bại của nghĩa quân. Họ đã khóc và đã để tâm tang những đứa con yêu trẻ trung và dũng cảm của dân tộc.

Thất bại là mẹ thành công: cuộc thất bại này đã mở đường cho cuộc thành công của nền Cách mạng năm Tân Hợi. Thật vậy, ngày 19-8 năm Tân Hợi tức là ngày 10-10-1911, Cách mạng Trung Hoa đã thành công, và triều đình nhà Mãn Thanh đã bị lật đổ.

Ngay sau khi cuộc khởi nghĩa ở Quảng Châu thất bại, lúc đó có ông Phan Đạt Vi là người cũng có chân trong tổ chức cách mạng nhưng triều đình Mãn Thanh không biết, có cùng với nhà Quảng Nhân Đường ở Thị xã đứng lên xin phép nhà đương cuộc Quảng Châu để chôn thi hài của nghĩa quân ở

Hồng Hoa Cương, sau được chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đổi tên là Hoàng Hoa Cương, ý lấy trong bốn chữ Bích Huyết Hoàng Hoa nghĩa là Hoàng Hoa máu biếc để nêu cao danh dự và khí tiết của những chiến sĩ đã hy sinh cho dân tộc.

Chính phủ Trung Hoa đã lập bia kỷ niệm nơi này. Theo bia thì lúc đầu chỉ có 72 liệt sĩ, nhưng sau đó Ủy ban Trung ương điều tra còn có thêm 13 liệt sĩ nữa, tổng cộng tất cả 85

người, thuộc đủ các thành phần sĩ, nông, công, thương. Đa số là những thanh niên tuổi chưa tới 30.

Và đến năm 1924, do sự chủ trương của nhà cách mạng Hồ Hán Dân, Hoàng Hoa Cương lại được táng thêm và ghi thêm trên đài kỷ niệm một liệt sĩ nữa, liệt sĩ này là Phạm Hồng Thái, người của Việt Nam, đã ám sát hụt tên toàn quyền Pháp Merlin ở Sa Điện, nhưng vì không thành công nên đã nhảy xuống sông tự tử. Chuyện này tôi đã thuật lại ở trên.

Trong số các liệt sĩ đã bỏ mình đêm hôm 29-3 Tân Hợi hoặc bị triều đình Mãn Thanh xử tử, tôi có thấy mấy nhà văn nhà báo. Người ta vẫn hằng cho các nhà văn nhà báo chỉ có viết mà không làm. Cứ kể ra, sự viết của họ cũng đáng kể lắm 227

rồi, còn sự làm phải là phần của người khác, nhưng ở đây, chính những con người cầm bút đã tham dự cuộc khởi nghĩa ở Quảng Châu, ghi những nét vàng trong lịch sử cách mạng Trung Hoa. Những cây viết đó đã làm vinh dự cho giới cầm bút. Tôi xin thành kính kể tên các vị đó dưới đây để chúng ta cùng biết:

- LÂM DOÃN DÂN, người huyện Đông Hoàn tỉnh Quảng Đông, ngoài 20 tuổi, ký giả Trung Quốc Nhật Báo ở

Hồng Kông.

- LAO BỐI, người Quảng Đông, 26 tuổi, ký giả tờ Thần Báo ở Tinh Châu.

- LÂM VĂN, người Phúc Kiến, 25 tuổi, ký giả Dân Xã Báo và Trung Hoa Nhật Báo.

- LÝ VĂN PHỦ, người Quảng Đông, 25 tuổi, bỉnh bút Trung Quốc Nhật Bản ở Hương Cảng.

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

NHỮNG CHUYỆN TRỌNG NGHĨA

NHẬT BẢN - TINH THẦN VÕ SĨ ĐẠO

KHÔNG ĐẦU HÀNG ĐỒNG MINH

Sau khi trận đại chiến thứ hai kết thúc, qua báo chí, thế giới đã được đọc những chuyện tự sát của các tướng lãnh Nhật Bản. Trước cảnh quốc gia bị nhục, họ không muốn sống, họ

nhận thấy có trách nhiệm trong cuộc thất trận của nước họ.

Những chuyện mổ bụng tự sát xảy ra rất nhiều, và trước cái chết của những vị tướng lãnh cũng như của quân nhân Nhật Bản, thế giới chỉ biết khâm phục và hoảng sợ, kể ngay cả

những kẻ đã thắng trận. Ai cũng nghĩ rằng với cái tinh thần bất khuất của họ, nước họ sẽ được phục hồi mau chóng, và sẽ lại trở nên một cường quốc trên năm Châu.

Dưới đây xin thuật lại một câu chuyện tự sát của một tướng lãnh Nhật sau khi nước Nhật thất trận và đầu hàng vì mấy trái bom nguyên tử của Mỹ. Chuyện đây là chuyện tướng Tanaka vị chỉ huy quân đội Nhật Hoàng ở ngay Đông Kinh.

Hôm đó là ngày 13 tháng 8 năm 1945. Trước sự tàn phá khủng khiếp phũ phàng của hai quả bom nguyên tử, Nhật Hoàng nhận thấy rằng nước Nhật không thể tiếp tục được 229

cuộc chiến tranh mà không có hại cho quốc gia và dân tộc, nên có ý đầu hàng Đồng Minh để chấm dứt một trận giặc mà nước Nhật không còn hy vọng thắng được.

Nhật Hoàng hội kiến với Thủ tướng và các võ quan. Sau đó việc đầu hàng được quyết định. Nhật Hoàng sẽ đọc một bản tuyên ngôn trước quốc dân.

Tin đầu hàng được tung ra, mặc dầu nhà vua chưa đọc bản Tuyên ngôn, đã gây ra một sự công phẫn lớn cho các võ quan, nhất là các võ quan trẻ tuổi. Đối với họ thà chết chứ không chịu hàng. Sống với sự nhục nhã của quốc gia, sống làm gì.

Họ liền cùng nhau âm mưu một cuộc nổi loạn để phản đối cuộc đầu hàng. Cuộc nổi loạn đã xảy ra đêm hôm 13 rạng ngày 14 tháng 8 năm 1945.

Trong cuộc nổi loạn này có tướng Mori bị giết bởi loạn quân. Phe nổi loạn cũng có nhiều người bị giết và bị thương.

Trong số các người bị thương có hai võ quan trẻ tuổi là Hatanaka và Shizaki. Hai võ quan này bị Hiến binh bắt nhưng không bị đưa ra Tòa án Quân sự. Họ đã thỉnh cầu để cho họ

được tự mổ bụng chết trước Hoàng thành. Họ muốn tỏ lòng trung thành với nhà vua, và nếu họ có hành động nổi loạn, đó là những hành động để chống lại sự đầu hàng. Họ đã tự

sát một cách rất anh dũng, và họ đã tỏ lòng kính mến Nhật Hoàng cho đến khi chết. Họ nguyện cầu Nhật Hoàng sẽ phục hưng sớm nước Nhật, và vết thương gây cho quốc gia bởi hai quả bom nguyên tử sẽ chóng phục hồi.

Việc nổi loạn chấm dứt vào 8 giờ sáng ngày 14-8-1945.

Sau cuộc nổi loạn, Đại Tướng bộ Chiến tranh là Anami cũng tự sát vào đêm 14-8-1945. Ông tự sát vì không muốn nhìn thấy nước Nhật phải đầu hàng quân địch, cũng như vì ông có trách nhiệm ít nhiều trong những hành động nổi loạn của các võ quan trẻ tuổi.

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

Tướng Tanaka, chỉ huy quân đội Đông Kinh, 10 ngày sau mới tự sát. Ông phải nghĩ đến việc nước trước khi nghĩ đến danh dự riêng và cái chết của mình. Ông phải nán sống để

thu xếp cho xong những công việc gây nên bởi sự đầu hàng của Nhật quân. Dù chết ông cũng phải lo tròn trách nhiệm của mình trước. Ông tự sát vào lúc 9 giờ khuya, giờ mà tướng Mori đã bị loạn tướng Hatanaka bắn chết. Trước khi chết ông đã hướng về Hoàng thành để xin lỗi nhà vua và để

tạ ân nhà vua đã tin dùng mình. Dân chúng, quân nhân rất thương tiếc ông.

Sau vụ ông chết, bao nhiêu tướng đều bảo nhau mổ bụng tự tử chết.

Nước Nhật thua trận. Biết bao nhiêu đứa con yêu trong nước cũng như ngoài nước đã tự hủy thân mình để giữ nghĩa với quốc gia. Họ chết trong sự tiếc thương của mọi người, của nhân dân nước Nhật. Sự hy sinh của họ đã khiến cho những người còn sống phải cố gắng nỗ lực để nước nhà chóng phục hồi. Sự hy sinh của họ khiến cho kẻ thù, dù tàn bạo đến đâu, cũng phải sợ.

Nhật Bản ngày nay, sau sự cố gắng của toàn dân, đất nước đã được kiến thiết lại như xưa, và đã lại có một địa vị xứng đáng trên thế giới. Sự hy sinh của bao nhiêu con dân không phải là vô ích.

Nhắc lại chuyện này, tôi muốn nhấn mạnh tới sự tiếc thương của dân chúng đối với các tướng lãnh Nhật Bản, nhất là đối với tướng Tanaka. Sống, ông đã được quân lính và đồng bào mến yêu, chết đi, ông lại được mọi người nhớ tiếc.

KẾT LUẬN

Những chuyện Trọng nghĩa phương Đông thời nào cũng có, và trong nước càng gặp hồi điêu đứng, hoàn cảnh càng gặp lúc gay cấn, chữ Nghĩa càng được nêu cao. Mấy chuyện trọng nghĩa nêu trong tập sách nhỏ này đủ nói lên cái Tinh Thần Trọng Nghĩa của người Á Đông, và cách xử thế của người Á Đông trong cùng một hoàn cảnh không giống người Phương Tây.

Tập sách này tuy chỉ nhắc tới một số rất ít những câu chuyện trọng nghĩa Việt Nam so với những chuyện đã có và đã xảy ra, nhưng, so với phần sách nói về Nhật Bản và Trung Hoa, vẫn là nhiều hơn. Nhiều nhân vật lịch sử khác lẽ

ra cũng không được bỏ sót, nhưng chúng tôi đã không nhắc tới, như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thái Học v.v... một phần vì chúng tôi không đủ tài liệu chính xác, một phần vì chúng tôi tin rằng, đối với các vị ấy, nhiều sách khác đã nói tới, sự thiếu sót của chúng tôi có thể được bổ

khuyết dễ dàng bằng nhiều tác phẩm của nhiều tác giả khác.

Dù sao chúng tôi cũng hy vọng những câu chuyện chúng tôi nhắc lại đã làm bạn đọc suy nghĩ nhiều trong hoàn cảnh hiện tại của đất nước với nhiều nhân vật hiện tại mà đối với họ, chữ Nghĩa hầu như không có trong tự điển. TOAN ÁNH

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CỐ NHI TÂN - Nguyễn Thái Học, Cơ sở Xuất bản Phạm Quang Khai, Saigon 1969.

DƯƠNG QUẢNG HÀM - Việt Nam Văn học sử yếu, In lần thứ năm, Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản, Saigon 1956.

LÃNG NHÂN - Giai thoại làng Nho, Nam Chi Tùng thư, Saigon, 1966.

NGUYỄN Đỗ MỤC - Đông Chu liệt quốc, Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1930.

NGUYỄN HUYỆN ANH - Danh nhân Việt Nam Tự Điển, Khai Trí, Saigon, 1967

NGUYỄN TỬ NĂNG - 72 Liệt sĩ Hoàng Hoa Cương, Sống mới, Saigon, 1957

NHƯỢNG TỐNG - Nguyễn Thái Học, Tân Việt, Saigon, 1956.

PHAN KẾ BÍNH - Nam Hải dị nhân liệt truyện, Mặc Lâm, Saigon, 1968.

PHAN PHÁT HUồN - Việt Nam Giáo sử, quyển I, In lần thứ hai, Saigon, 1953.

QUỐC OAI - Phật giáo tranh đấu, Tân Sanh, Saigon, 1963.

TRầN TRỌNG KIM - Việt Nam sử lược, Tân Việt, Saigon, 1953.

TRỊNH VĂN THANH - Thành ngữ Tự điển danh nhân, Tự điển, Tác giả xuất bản, Saigon, 1966, 1968.

TUỆ GIÁC - Việt Nam Phật giáo tranh đấu sử, Hoa Nghiêm, Saigon, 1964.

TRUNG BẮC CHỦ NHẬT - Tuần báo Hà Nội, 1942- 1945.

THẠC NHÂN - Non nước Kiên Giang, Bản thảo chưa xuất bản.

PHầN I

PHầN II

Tinh thần trọng nghĩa phương Đông

THÀ LÀM QUỶ NƯỚC NAM, CÒN HƠN LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC .................... 118

VÕ TÁNH VÀ NGÔ TÒNG CHU CHẾT THEO THÀNH BÌNH ĐỊNH ................... 132

ÔNG NGUYỄN CAO Tự SÁT TRƯỚC MẶT VIÊN THỐNG SỨ BIHOURD ........ 147

CÔ Đỗ THỊ TÂM, MỘT NỮ CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG

NHỮNG CHUYỆN TRỌNG NGHĨA TRUNG HOA VÌ NƯỚC GIẾT CON ............ 176

THỪA TƯỚNG LỤC TÚ PHU ẴM VUA TƯỜNG HƯNG NHÀ TỐNG NHẢY

NHỮNG CHUYỆN TRỌNG NGHĨA NHẬT BẢN

&

TINH THầN TRỌNG NGHĨA PHƯƠNG ĐÔNG

----------------------------------------------------

----------------------------------------------------

----------------------------------------------------