Tiết Tháo Một ThờiPhần 2

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Ông tôi nói, tôi nghe, nhưng sự thật tôi không hiểu hết những lời ông tôi nói, ông tôi tiếp: “Cháu trông thanh gươm có sắc không? Đáng lẽ ông lau những vết máu rỉ này đi, nhưng ông muốn lưu lại để giữ mùi hôi tanh, biết đâu có dịp thức tỉnh những bọn vong ân bội nghĩa khác. Ngày nay ông già, ông không hay múa kiếm, chứ thuở xưa, chẳng đêm nào ông không luyện võ ở ngoài vườn. Vả lại thanh kiếm này, ông phải giấu kỹ, không chúng nó khám thấy cũng lôi thôi”.

Tôi băn khoăn không hiểu vì sao có kiếm trong nhà lại cần phải giấu, và ông tôi sợ ai khám xét. Mặc tôi vẩn vơ

nghĩ ngợi, ông tôi nói: “Thanh kiếm này nó là bảo vật của gia đình họ ngoại cháu. Ông sẽ truyền lại cho cậu cháu”. Nói đến đây ông tôi cau mày, rồi tức tối nói: “Nhưng cậu cháu chúng nó còn bắt đi, không biết bao giờ mới về, mà chẳng hiểu có sống để về hay không. Nếu cậu cháu không về, ông vẫn phải lựa người mới dám giao kiếm. Cháu không rõ chứ, một thanh bảo kiếm, phải đâu là ai cũng giữ nổi. Chẳng có người xứng đáng, ông lại đành đào sâu chôn chặt, để lưu lại cho hậu thế mai sau. Thanh kiếm này tốt, bọc kỹ, chôn xuống đất dù mấy trăm năm cũng không hư”.

Rồi ông tôi kể truyện Trương Lương thủa xưa bán kiếm cho Hàn Tín.

Ông tôi nói: “Ngày xưa, Trương Lương vâng lệnh Hán Cao Tổ đi tìm một vị Nguyên Nhung bình Sở. Khi đến chợ Hàm Dương, gặp Hàn Tín, Lương theo về nhà, xin vào yết kiến.

Lương nói: “Chúng tôi có ba thanh bảo kiếm, thực là của hiếm có trong đời, ai đáng dâng thì dâng, không đáng dâng đem ra rao giá. Bấy lâu tôi đi tìm anh hùng hào kiệt khắp cả

thiên hạ, trước xem tướng người, sau sẽ dâng kiếm. Hiện hai 29

thanh kiếm kia đã dâng cho hai người xứng đáng, còn một thanh này, ngày nay gặp tướng quân, biết tướng quân là bậc hào kiệt, muốn lấy lòng thành dâng tướng quân để bảo kiếm gặp được anh hùng”.

Hàn Tín hồi ấy mới làm chức Chấp Kích Lang bên Sở, chưa có tiếng tăm gì. Thấy Trương Lương biết mình tài ba, mừng lắm, đứng dậy vái Lương đáp:

“Tín này từ khi ở Sở, chẳng qua chỉ là một kẻ vô danh, nay tiên sinh có lòng hạ cố, đem thanh bảo kiếm đến đây thực là hân hạnh muôn vàn. Xin tiên sinh làm ơn cho xem qua”.

Trương Lương giở kiếm đưa cho Hàn Tín. Tín cầm lấy đưa ra ánh đèn xem, đích thực là bảo kiếm.

Tôi ngắt lời ông tôi: “Thưa ông sao Hàn Tín lại biết là bảo kiếm?”

- Trông thanh kiếm nó sắc bén xanh thì biết. Vả lại trên mặt bảo kiếm có bài thơ đại ý rằng:

- “Kìa chẳng thấy:

Côn, ngô sắt đúc mù khói bay.

Sáng đỏ rực rỡ lên từng mây,

Thợ giỏi nung đúc mấy năm tháng,

Can Tương kiếm mới ra đời đây...

*

Ánh sáng tuốt ra nhụt xương tuyết

Người đời buộc phải khen kỳ tuyệt

Lập lòe lưỡi bóng như băng hoa

Tròn trặn khâu vàng in bích nguyệt

*

Gặp nay thiên hạ buổi phong trần

Nào đâu hào kiệt để được gần

Chẳng lẽ báu vàng lưu lạc mãi

Anh tài ai kẻ xứng kỳ trân?”

Hàn Tín bình nhật rất thích kiếm, nay lại gặp kiếm báu, lấy làm ưng ý lắm, bèn hỏi Trương Lương:

“Tiên sinh có ba thanh kiếm báu, chẳng hay hai thanh gươm kia tiên sinh đã bán cho ai?”

Trương Lương đáp: “Chúng tôi đã thưa với tướng quân, là bán kiếm, chúng tôi xem tướng người trước, mới giở đến kiếm sau: gặp người biết, chúng tôi chỉ xin dâng không, không dám nói đến giá đắt rẻ. Nay biết tướng quân là bậc hào kiệt, tôi mới đem kiếm lại đây. Tôi chỉ mừng cho bảo kiếm đã gặp chủ.”

- Đa tạ tiên sinh, Tín này đâu dám tự nhận là hào kiệt.

- Xin tướng quân hiểu cho, tướng quân không phải là hào kiệt đâu tôi dám mang kiếm lại đây.

Trương Lương kể cho Hàn Tín về ba thanh bảo kiếm. Một thanh là Thiên Tử kiếm, một thanh là Tể Tướng kiếm, còn một thanh là Nguyên Nhung kiếm. Thiên Tử kiếm có tên riêng là Bạch Hồng Tử Điện, treo lên vách tà ma phải sợ; Tể Tướng kiếm có tên riêng là Long Tuyền Thái A, có tia sáng vọt đến trời! Nguyên Nhung kiếm có tên riêng là Can Tương. Trao kiếm tôi phải xem người. Muốn dùng kiếm Thiên Tử phải đủ

tám đức để thay trời trị dân, là:

Nhân, hiếu, thông, minh, kinh, tắc, kiệm, học, Muốn dùng kiếm Tể Tướng cũng phải có tâm đức để phò vua giúp nước, là:

Trung, chính, minh, biện, thứ, dung, khoan, hậu.

Còn như Nguyên Nhung kiếm, người dùng cần phải có tâm đức, để trừ loạn, bảo nguy là:

Liêm, quả, trí, tín, nhân, dũng, nghiêm, minh

Trương Lương đã dâng thanh Thiên Tử kiếm cho Lưu Bang tức là vua Hán Cao Tổ, tặng thanh Tể Tướng kiếm cho Tiêu 31

Hà, thừa tướng của Lưu Bang. Còn thanh Nguyên Nhung kiếm thì hôm ấy Lương tặng Hàn Tín sau là Phá Sở Đại Nguyên soái của Lưu Bang.

Đấy cháu nghe, người xưa trao một thanh kiếm kén người như vậy. Thanh kiếm của ông ngày nay tuy không sánh nổi với những thanh bảo kiếm xưa, nhưng nó đã từng nhuộm máu kẻ gian, đã từng có một quá khứ cũng gọi là đẹp đẽ, nay để lọt vào tay giá áo túi cơm thì tủi cho thanh kiếm. Tuy nó không quý, nhưng ông cũng đặt cho nó một cái tên xứng đáng. Ông gọi nó là Trí Nguyện kiếm. Dùng thanh kiếm phải là một người có đức biết nghĩ đến nước nhà.”

Ông tôi còn nói nhiều về thanh kiếm cổ ấy, nhưng hồi ấy tôi có hiểu gì đâu. Ngày nay ông tôi đã ra người thiên cổ, và thanh kiếm, trước khi chết ông tôi có tặng cho một người bạn hồi ấy đang hoạt động ở miền biên giới Lạng Sơn.

Chắc người bạn ấy phải xứng đáng dùng thanh kiếm, và chắc người ấy đã làm cho vong linh ngoại tôi được ngậm cười nơi chín suối.

13-12-48

NHỮNG MIẾNG CÔN QUYỀN

Cụ Đề Thảo chẳng mấy khi ở nhà ngồi suông. Đành rằng từ ngày thời thế đổi thay, cụ chán mồi công danh phú quý, nhưng không phải cụ quay về để sống với ruộng vườn.

Ruộng vườn cụ phó mặc đàn bà con trẻ.

Tôi trung không thờ hai chúa, chính nghĩa bao giờ cũng là một. Không muốn làm việc ích cho người hại cho mình, cụ

Đề đành ngao du hết nơi này qua nơi nọ để quên thế sự. Cụ

đi vắng luôn luôn. Họa mới có khi cụ ở nhà. Ai hỏi cụ đi đâu thì cụ trả lời là đi tìm người tri kỷ. Mà mỗi khi cụ ở nhà thì khách khứa lại đầy nhà, nói năng ầm ĩ suốt ngày đêm. Xem chừng những bạn cụ phần nhiều cũng nhàn nhã như cụ, nghĩa là những người cũng chẳng làm ăn gì, không phải vì bất tài, nhưng chính vì có đức.

Xuất thân con nhà võ, tổ tiên cụ đã từng giúp vua phò nước, cụ cũng lại chuyên nghề võ, những mong đem tài cung kiếm thỏa chí nam nhi, nhưng không ngờ số trời vận nước, cụ đành bỏ dở công danh vì không muốn đen thân bẩy thước phụng sự áo cơm suông.

Có những đêm cụ cùng bằng hữu, dưới ánh trăng thanh, trong thửa vườn rộng, cùng nhau ôn lại mấy đường gươm, đi 33

lại mấy bài quyền để nhớ lại một thời oanh liệt đã qua. Tiếng gươm đi vun vút, phải chăng chỉ là một bóng mờ của một quá khứ vẻ vang. Mấy ông bạn già lúc này đầy quắc thước.

Những món côn quyền đã khiến gân các cụ thêm dẻo, mắt các cụ thêm sáng, và nguồn sinh lực các cụ dồi dào!

Sau một bài võ, các cụ cùng nhau trao đổi với nhau vài ý kiến về võ nghệ, rồi dần dà về thế thái nhân tình.

Các cụ đồng lòng khen những bậc lão nho khí khái không màng vinh hoa phú quý, cam sống trong cảnh bần hàn để

khỏi ô danh và các cụ đồng thanh bài bác lũ ăn xổi ở thì, thấy lửa đỏ là đâm đầu đến. Bàn đến những bọn ấy, có cụ

bảo nên lấy của chúng nó để chia cho người nghèo khó.

Cứ kể thế mang tiếng là ăn cướp, nhưng ăn cướp của bọn ăn cướp để phân phát cho kẻ cần dùng chỉ là một cử chỉ

nghĩa hiệp.

Sau mỗi cuộc thảo luận của các nhà võ già ấy, thường thường trong vùng hay có nhà mất cướp. Có ai dám ngờ đâu những tay lão anh hùng ấy, vì những người này vẫn nghèo, vẫn túng như

xưa. Chỉ có một vài nhà nghèo trong vùng tự nhiên có người vứt bạc vào sân. Của trời cho sao lại chẳng tiêu?

Và những nhà mất cướp hoặc mất trộm, không muốn lôi thôi vẫn thường khai là chẳng mất gì. Khổ chủ không kêu, quan nha tội gì mà truy nã ai, cho nên phần nhiều những vụ

cướp ấy không bao giờ tìm ra thủ phạm.

Cụ Đề Thảo thường hay đi bài Mai Hoa quyền rất đẹp: một đường quyền thành tám, tám lần tám sáu mươi tư, tay cụ đấm, chân cụ đá, vù vù như gió thổi, như lá rụng ào ào.

Ai còn dám bảo cụ là một người già. Cụ quay trước, cụ lùi sau, đường nào, đường ấy, gọn ghẽ lanh lẹn, người đứng xem phải ngây người tán thưởng.

Quyền cụ đi đẹp, đường kiếm cụ đi lại càng hay. Lưỡi gươm loang loáng, xuất quỷ nhập thần, trông như tuyết sa, 34

nghe như mưa trút. Cụ thường nói: “Bây giờ thời buổi Tây Tầu chúng nó lấy súng đạn đè người, chứ không có súng đạn, một tay tôi với một lưỡi gươm, tuy già tôi cũng địch nổi một trăm thằng chúng nó”.

Cụ kể chuyện lại, có nhiều lần, một mình cụ phải địch với mấy chục quân cướp mà cụ cứ bình tĩnh khiến chúng phải bỏ chạy. Và cũng có khi trong cơn nguy biến cụ phải nhảy truyền nóc nhà chạy trốn. Đối với cụ một bức tường vài bốn trượng, chỉ nhún mình là nhảy qua. Bởi thế nhiều khi cụ lăn mình vượt từ sân trước tới sân sau của những nhà cụ qua thăm như bỡn.

Tuy đôi khi cụ thường cùng mấy vị hảo hán già lấy của người giầu cho kẻ khó, nhưng bình sinh cụ cũng như các bạn rất ghét bọn trộm cướp. Cụ bảo: “Chúng tôi đi lấy của người ta khác. Của chúng nó kiếm ăn một cách phi nghĩa, mình chẳng lấy, trời cũng chẳng cho chúng nó giữ. Đối với bọn bóp hầu bóp cổ đồng bào, đối với lũ tham quan ô lại, đối với bọn phản bạn lừa thầy lại nhiều tiền sẵn của, không lấy của chúng mà phân phát cho người nghèo cũng phí đi. Vả chăng tiền của ấy, có để chúng nó cũng chẳng giữ được nào. Chúng tôi lấy của chúng nó, nhưng chúng tôi có dùng cho chúng tôi một mảnh kẽm nào đâu. Cần phải giúp người khác thì chúng tôi lấy đấy thôi. Còn bọn kẻ cướp lại khác. Thấy của người ta chúng tối mắt lại, muốn lấy làm của mình. Người ta làm ăn lương thiện mới có tiền, đó là cái công trời thưởng, không ai có quyền lấy của người ta.”

Bởi vậy, nhiều lần trong làng hoặc các làng lân cận có cướp là cụ đi điều tra, tìm bắt bằng thấy thủ phạm. Có khi chính cụ thân chinh ra đón đường đánh bắt. Bọn cướp đối với cụ rất là kiêng sợ. Chúng biết cụ võ nghệ cao siêu, chúng lại biết lòng ngay thẳng của cụ, nên chúng cũng ít hành sự

trong vùng cụ ở.

Dân làng mến cụ lắm, mong cụ ở nhà luôn luôn để bảo vệ cho làng. Chỉ cần biết cụ có mặt ở làng là bọn cướp bảo nhau không dám bén mảng đến.

Nhưng cụ Đề Thảo phải đâu là người yên sống được ở một nơi, dù nơi đó là quê cha đất tổ, dù nơi đó có vợ ngoan, con thảo, trời còn bớt cho một chút tuổi già, sống nhàn hạ khiến người sinh quẩn. Vả chăng nếu cứ ở làng còn có đâu những người tri kỉ để đàm đạo, để ôn lại những chuyện Cần Vương, để bàn đến những chuyện cho dịu bầu máu nóng.

Cụ Đề Thảo cần phải đi, đi để gặp những bạn già cùng tuổi, cùng tâm trí để cùng uống rượu, cùng múa gươm, cùng luyện lại một bài Mai hoa quyền, hoặc một bài Bát bộ liên hoa quyền.

Cụ đi thăm bạn, rồi lại về nhà trông qua con cháu. Cứ thế, cứ thế cho đến lúc hai tay buông xuôi, hai con mắt khinh đời nghiền nhắm lại.

Phải chăng sinh bất phùng thời là vậy.

19-12-48

HAI CHỮ TRUNG HIẾU

Khi đọc bài “Chiêu hồn nước” của Phạm Tất Đắc, cụ Cử

Cương nói:

“Ừ có thế chứ, tưởng trong bọn thanh niên ngày nay chúng còn mải mê về vật chất, còn tìm đâu cho thấy một tâm hồn yêu nước nữa? Thế này thì trời chưa nỡ diệt giống nòi dân Việt, thế này thì tổ tiên dân Việt ắt cũng không đến nỗi uất hận dưới cửu tuyền.”

Rồi cụ ngâm:

“Cũng thì nhà cửa giang san

Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời

Nghĩ lắm lúc đang cười hóa khóc

Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang

Vạch trời thét một tiếng vang

Đem thân tan với giang san nước nhà

Đồng bào hỡi con nhà Đại Việt...”

Trên đời cụ Cử, điều cụ trọng nhất là đại nghĩa. Giầu sang phú quý, cụ coi là những vật phù hoa. Tiền tài dù có bao nhiêu 37

rồi cũng mất, sang trọng đến tột bực cũng chẳng bền. Có bền chăng với muôn đời ngàn thủa ấy là Đại Nghĩa.

Theo ý cụ, cái đại nghĩa gồm có hai chữ hiếu trung.

“Phi phụ bất sinh

Phi quân bất vinh

Không cha hồ dễ sinh ai

Không vua hồ dễ mấy người vẻ vang”

Nhưng làm người quân tử phải lấy trung thay hiếu.

“Thần khả báo quân ân

Tử năng thừa phụ nghiệp

Ơn vua tôi phải báo

Nghiệp bố con cần noi”.

Cha có trung với vua thì con mới hiếu với cha. Một người cha không có liêm sỉ, không coi nghĩa quân thần là trọng thì mong sao con giữ được tròn đạo hiếu.

Thời xưa ông Nguyễn Trãi tiễn cha là ông Nguyễn Phi Khanh, bị quân nhà Minh giam bắt, ông Phi Khanh có khuyên con lấy hiếu làm trung.

Thường thường, nhắc đến truyện ấy, cụ Cử Cương vẫn đắc ý đọc cho con cháu nghe mấy câu thơ của ông Á Nam đầy cảm khái:

Cha xót phận tuổi già sức yếu

Lỡ sa cơ đành chịu bó tay

Thân lươn bao quản vũng lầy

Giang san gánh vác sau này cậy con

Con nên nhớ tổ tiên thuở trước

Đã nhiều phen vì nước gian lao

Bắc Nam bờ cõi phân mao

Ngọn cờ Độc Lập máu đào còn đây

Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái

Phận liễu bồ chống với cuồng phong,

Giết giặc nước trả thù chồng

Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.

Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến,

Vì giống nòi huyết chiến bao phen.

Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên

Gươm đeo chính khí nước rền dư uy

Coi lịch sử gươm kia còn tỏ

Mỡ dư đồ đất nọ chưa tan

Giang san này vẫn giang san

Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai

Con nay cũng một người trong nước

Phải nhắc cân gia quốc đôi đường

Chí trai hồ thỉ bốn phương

Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng

Giang san này vẫn giang san

Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai.”

Còn vì ai nữa: Vì lũ giá áo túi cơm, vô liêm, vô sỉ chứ vì ai. Giá cụ Cử muốn cửa cao nhà rộng, muốn xuống ngựa lên xe, có lẽ không khó. Đã bao lần, những bậc có danh vọng, đến tận nhà cầu cạnh, mời cụ ra giữ một trọng trách, nhưng mỗi lần là một lần cụ từ chối. Nói chuyện cùng bạn hữu cụ

bảo: “Họ tưởng lấy mồi chức trọng quan sang mà dử được tôi hay sao? Họ cần phải biết nhục với tổ tiên chứ. Tôi thẹn không nói được như đại tướng Trần Bình Trọng đã nói với quân Nguyên: “Thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vua đất Bắc.” Sống như thế này cũng là một cái sống vong bản rồi.

Lại còn muốn dê diếu với hậu thế hay sao?” Cụ có ba người con trai, người con cả bị rắc rối về mấy vụ bãi khóa 1924, bị

bắt giam rồi bị kết án đầy đi Lao Bảo. Được tin con đi đầy cụ cố ra Hà Nội thăm con. Gặp con cụ khuyên:

“Thôi con yên lòng. Đó là ý trời và là vận nước. Có con như thế, cha khỏi hổ với tiền nhân. Đấy cũng là góp mặt với sơn hà, gây một vết trước cho người sau theo.”

Cụ không buồn, nhưng cụ chỉ tiếc là con cụ có chí lớn nhưng không đạt!

Rồi đến năm 1930, vụ án Yên Bái bùng ra. Biết bao nam nữ thanh niên Việt Nam bị bắt, bị giết, bị giam cầm. Trong số đó, có cả thằng con trai thứ hai của cụ, năm ấy mới mười tám. Lúc con cụ bị bắt, cụ uống rượu thật say. Khi cụ bà phàn nàn, cụ bảo: “Dòng máu nhà ta thế thì làm thế nào được. Âu cũng là một điều đáng mừng. Tôi chỉ tiếc ngày nay tôi đã già rồi”.

Cụ còn thằng con trai thứ ba năm ấy mới mười bốn, cụ

luôn bảo: “Mày còn nhỏ phải cố học, để mai sau thay thế hai anh mày”. Cụ kể cho con trai nghe câu truyện Nhạc Phi đời Tống khi nghe lời mẹ quỳ trước bàn thờ để mẹ thích vào lưng bốn chữ “Tận Trung Báo Quốc” Cụ bảo con: “Thầy chẳng cần thích vào lưng mày chữ gì, nhưng mày phải nhớ đến cái thù của hai anh mày, của bố mày, của nòi giống mày.” Rồi cụ đọc cho con nghe bài thơ về Nhạc Phi, bắt phải nhẩm lấy làm lòng:

Người Nhạc Phi tướng tài nhà Tống

Tuy làm nên danh tiếng ngôi cao

Dốc lòng thờ mẹ hiếu sao

Sớm khuya hầu hạ ra vào dám sai

Thuở nhỏ khi giặc ngoài xâm lấn

Muốn cho con tròn phận thờ vua

Bắt con quỳ trước bàn thờ

Nhạc bà thích chữ hàng giờ trên lưng

Thích bốn chữ “Tận, Trung, Báo, Quốc”

Dù thịt đau da nát hề chi

Hiếu trung muôn thuở còn ghi

Đời này ai dám Nhạc Phi sánh tầy.”

MEN SAY

Ông Tú Khiêm người làng Hoàng Nông, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình. Ông là con trai cụ Bang Tốn, người đã khởi quân Cần Vương tại Hưng Yên và Thái Bình chống lại với quân Pháp.

Trong người vốn sẵn dòng máu ái quốc, ông Tú Khiêm khước từ mọi ân huệ của Chính Phủ Pháp. Hoàng Trọng Phu đã đôi ba phen cho người đến mời ông ra giữ một chức gì.

Đối với ông, dù chức trọng quyền cao đến đâu mà ra luồn vào cúi thì công hầu mà chi! Ông phải đâu là người có thể

khom lưng, há miệng để khen dở là hay, bảo xấu là tốt được.

Bởi thế nên ông đối với người anh em thúc bá với ông, con trai cụ Đề Thường, người đồng chí huynh đệ của cụ Bang Tốn thủa xưa, vẫn có một ác cảm.

Cụ này sau khi đậu phó bảng, nhận một chân dạy học tại trường Trung học Bảo hộ, rồi sau đến những cuộc cải cách ở học giới, ông ra giữ một chức học quan.

Nếu cụ này vì hoàn cảnh mà chịu giữ một chức học quan để mong cải thiện ngành giáo dục thì ông Tú Khiêm đã hoàn toàn lãnh đạm với cuộc đời. Ngày nay ông Tú chỉ lấy chén 42

rượu làm quên. Ông say suốt ngày, say suốt đêm. Có rượu uống say đã đành, không rượu ông cũng say.

Ông thường nói: “Đời say cả, chỉ một mình ta tỉnh, ta cũng dại như Khuất Nguyên xưa! Âu là ta cũng say. Nhưng cái say của ta là cái say của người quân tử. Họ say bả vinh hoa phú quý, bán nước cầu vinh, thì ta say men say rượu. Say bả vinh hoa phú quý có bao giờ tỉnh được, còn như ta say, ta muốn say hay muốn tỉnh đều tự ý ta”.

Động đến hơi rượu là ông Tú say. Dần dà, ông chẳng cần uống rượu nữa, ông cũng say. Muốn say lúc nào ông chỉ cần chén nước lã, nhấm nháp với vài quả ổi xanh chấm muối là một lát sau ông đỏ gay mặt, sặc mùi hơi rượu. Có lẽ chất rượu ngấm ngầm trong người ông, nên chỉ cần nghĩ đến rượu là có hơi men rồi.

Mỗi lần ông say là một lần ông khinh đời ngạo thế. Khi người anh em thúc bá của ông đậu phó bảng, về làng vinh quy có hai vợ tấp tểnh đón chồng ở tỉnh, ông Tú Khiêm thấy như thế là dở có làm tặng ông phó bảng câu đối:

“Chị đôi giầy mõm nhái, em đôi giầy mõm nhái, bốn chân kéo lê đất.”

“Hương một cờ đuôi nheo, hội một cờ đuôi nheo, hai cọc chổng lên trời”

Ông tú rất lấy làm đắc ý về đôi câu đối.

Sợ người làng không hiểu đôi câu đối của mình, ông giải thích:

“Những hạng người lăn lưng đi cầu cạnh, quên nguồn gốc tổ tiên có hơn gì loài vật.”

Ông Tú có cô con gái. Người không đẹp, nhưng cũng không quá xấu. Nói chuyện về con ông bảo: “Gả chồng cho con, tôi không kén hàng tham, phán, tôi chỉ muốn con tôi lấy một 43

người chồng quê mùa, nhưng người chồng đó phải hiểu mình là con cháu Lạc Hồng. Phải hiểu tổ tiên mình xưa có những đức Quang Trung.”

Trong một cơn say rượu, ông đã ngạo thế khinh đời đem con gái ra làm cuộc xổ số. Ông phát cho trai làng, mỗi người một vé số, rồi ông rút thăm.

Nhà ông ở trong làng Hoàng Nông, nhưng ông cho là ở chung đất với người anh em thúc bá sợ người ngoài nhầm tưởng coi ông cũng là một kẻ thường nhân, nên khi ông có tiền, ông đã đào móng xây nhà ở giữa cánh đồng, ông đào hào như một bức thành. Không hiểu đó là một hiện tượng về vật lý học hay đó là một điềm báo trước, nước ở trong hào đêm đêm lấp lánh tỏa ra ánh sáng như

những ngôi sao. Người làng lấy đó làm lạ cho rằng đấy là một điềm ứng vào nhà ông, và ông cũng coi là thế:

“Tổ tiên tôi ngày xưa đã từng phò vua giúp nước, đã từng chống giặc với xâm lăng, ngày nay tôi tự lấy làm hổ thẹn, không được xứng với dòng máu của mình”. Nói chuyện thế là ông nói ngay đến người anh em thúc bá, ông ray rứt: “Đấy, bố nó ngày xưa là chú ruột tôi, đã từng cầm quân chống lại với quân Pháp, rồi bị giết ở Hải Dương, mà nó bây giờ vùi đầu vào bả công danh mượn, có đáng nhục hay không.”

Ông có làm một đôi câu đối về ý nghĩa ấy. Không biết câu đối ấy nói thế nào, nhưng khi ông đem dán trước cửa nhà thờ

họ, người anh em thúc bá của ông đến lễ giỗ xong đã rỏ nước mắt khóc. Chuyện ấy ngày nay vẫn còn là một giai thoại ở

làng Hoàng Nông.

Sự thật, ông Tú Khiêm hơi khắc nghiệt đối với người anh em thúc bá của ông. Cụ này cũng là một bậc có tài, muốn đem tài trí để giúp nước trong buổi giao thời và để mong có thể ngăn cản được bọn lợi dụng thời cơ hại dân hại nước.

Năm 1937, ông có ý chiêu tập những tấm lòng ái quốc để

mưu đồ tiếp tục công cuộc của cụ Bang Tốn xưa. Nói với các đồng chí ông bảo:

“Ngày khởi nghĩa, tôi phải bắt cha con thằng bảng chọc tiết lấy máu tế cờ để làm răn cho kẻ khác”.

Than ôi, ngày khởi nghĩa của ông chưa tới, việc kín của ông đã bị bại lộ.

Lẽ tất nhiên việc đó ra Tòa. Cả hai bố con ông đều bị

phạt khổ sai. Ông đã chết ở trong lao, mang theo cái mộng không thành.

RƯỢU THƠ

“Trăm năm thơ túi rượu hồ

Nghìn năm thi sĩ tư đồ là ai?

Lý Bạch thủa xưa càng say, thơ càng hay; và thi sĩ Tản Đà cũng vậy, mỗi lần hơi men nồng bốc lại một lần sáng tác ra dăm bài thơ tuyệt phẩm.

Ai cười cũng mặc, ai bảo sao cũng thây. Thì:

Trời say trời cũng đỏ gay

Đất say đất cũng lăn quay ai cười.

Ngày nay con nhà thơ rượu nào ai quên nổi thi sĩ Tản Đà.

Nói đến thi sĩ nghĩa là nói đến rượu đến thơ. Người đại biểu cuối cùng của lối thơ cổ điển Việt Nam tuy đã chết, nhưng người đời có đâu quên nổi nhà thơ ấy.

Nước gợn sông Đà con cá nhảy

Mây chùm non Tản cái diều bay.

Làng Khê Thương, huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, ở dưới núi Tản trên sông Đà. Phong cảnh hùng vĩ của nước non ấy đã chung đúc nên cái tâm hồn phóng đạt của nhà thơ.

Có lẽ vì cuộc đời đục cả, nên muốn tìm bạn trong sạch chỉ

thấy ở nàng thơ. Mà muốn tìm nàng thơ chỉ trong lúc say, nàng thơ mới xuất hiện bên nhà thơ.

Rượu thơ mình lại biết mình

Khi say quên cả cái hình phù du!

Ba vạn sáu nghìn ngày có là mấy chốc! Có lẽ vì nghĩ thế

nên nhà thơ của thế hệ vừa qua đã say để quên tục.

Muốn thanh cao chẳng được phần thanh cao;

Theo đuổi mộng công danh phú quý, cầy cục hết cửa này qua cửa khác để mong chút ơn huệ thì hỏi còn thanh cao sao cho được. Thi sĩ Tản Đà không muốn bán mình trong cõi hồng trần tục lụy, phải tìm phần thanh khiết trong rượu thơ.

Có lẽ ở đời không thấy ai là xứng với tính tình cao thượng của mình nên nhà thơ muốn tìm bạn ở thiên cung.

Nhưng ở thiên cung ai kén rể bao giờ.

Chức Nữ tảo tùng giai tế giá

Hằng Nga bất nạt bão phu miên!

Thôi thì trên thiên cung không kén rể, thi sĩ đành tìm lấy người hiền nơi trần tục.

Trong những người quen biết không có ai, âu đành tìm bạn ở người không quen biết:

Người đâu tá quê nhà chưa tỏ

Tuổi bao nhiêu tên họ là chi?

Đã sinh cùng nước cùng thì

Cùng ta không biệt mà ly hỡi mình?

Hỏi cùng núi mây xanh chẳng biết

Hỏi cùng sông nước biếc không hay,

Sông nước chảy, núi mây bay

Mình ơi có biết ta đây nhớ mình!

Thi sĩ Tản Đà rất ghét những hạng lăm le tấp tểnh mồi phú quý. Trong bài “Vợ chồng người bán than”, ông đã lấy lời người bán than mắng vợ không biết lấy cảnh nhàn nhã tâm hồn làm sướng, lại muốn vùi đầu vào chỗ bạc tiền: Sướng như thế mà không biết sướng!

Và tự ông thấy ông cũng không phải là thua kém chi đời, nhưng có khác là ý ông không muốn đem thân vào chốn bụi trần mà chi.

Nghĩ mình cũng đấng trượng phu

Tây nho chữ nghĩa kém thua chi đời.

Cũng may cho văn chương nước Việt là ông biết cái sướng tinh thần, nên ông đã bồi bổ cho kho văn chương nước nhà được biết bao nhiêu giai phẩm.

Giá ông cũng chen vai thích cánh với đời, cậy cục đi tìm sung sướng sang trọng thì còn lưu truyền gì cho hậu thế, thì ngày nay còn ai nhắc nhở đến ông. Có lẽ ông sẽ phàm phu hơn bọn tham quan ô lại, hơn bọn bán tước buôn quan.

Nhưng đối với ông bả vinh hoa phú quý có nghĩa lý gì, và chẳng bao giờ ông nghĩ đến. Ông chỉ nghĩ đến rượu, chẳng có thế mà trong lúc ở chơi nhà bạn, ông cuốc cả sân gạch của người ta lên để trồng rau húng, lấy thứ nhắm với tiết canh vịt.

Và lúc ông đã say rượu rồi, ngoại vật đối với ông thật là bé nhỏ. Trong khi người đời vật lộn để cạnh tranh nhau quyền lợi, ông cam sống nghèo nàn để giữ tròn thanh khiết, để giữ

vững thiên lương.

Muốn có tiền mua rượu ông viết giúp vài tờ tuần báo ở thủ

đô, thơ của ông được đặc biệt hoan nghênh.

Muốn thế lấy mấy câu thơ của cụ Lê Đại mà áp dụng vào ông được:

Nghiên chưa cạn mực, tiền chưa cạn

Sân hãy còn hoa, rượu hãy còn.

Thi sĩ Tản Đà chết trong cảnh nghèo nàn. Người đời đã tốn bao giấy mực để luyến tiếc ông.

Khóc ông là khóc một nhà thơ, mà cũng là khóc một tâm hồn cao quý đã cam sống thanh khiết, không chịu đem mình luồn lụy lấy vinh hoa.

Khi ông chết, Chính phủ Pháp đã trợ cấp cho vợ góa của ông bằng cách giúp bà Tản Đà nhiều cách. Phải chăng đây là cách Chính phủ Pháp kính trọng một tấm lòng yêu nước của người Việt Nam.

Tiếc ông là tiếc một thiên tài không còn nữa, nhưng cũng là tiếc một chí khí cao cả của người Việt.

Bức dư đồ rách ai bồi,

Báo An Nam chết ai rồi lại ra?

LÒNG NGƯỜI CHIẾN SĨ

Chiều nay trời ngẩn ngơ sầu,

Lòng không sao cả dưng đâu bỗng buồn.

Nặng nề mây kéo hoàng hôn,

Gió già heo hắt sông cuồn cuộn trôi.

Vọng trông về phía xa xôi

Rét mang Tết lại quê người quạnh hiu!

Nào đâu giọng nói thân yêu,

Mẹ già tựa cửa chiều chiều đợi mong!

Nào đâu thiếu phụ trông chồng,

Ngày tàn năm hết tin chồng ai trao!

Nào đâu dưới bóng hoa đào,

Con thơ vắng bố gọi nào ai thưa!

Nào đâu những buổi năm xưa?

Ngày vui đầm ấm dần mờ chia ly!

Ôi biệt ly, hỡi biệt ly,

Phút giây ngắn ngủi nhớ ghi muôn đời!

*

Kìa chàng chiến sĩ nực cười,

Phải đâu là lúc tim tơi bời buồn.

Hai vai gánh nặng đang còn,

Làm trai trả nợ nước non sá gì.

Đứng lên hăng hái mau đi,

Nghiến răng mím lợi quyết vì non sông,