Thú vui tao nhãPhần 2 · trang 11–27

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 11Thú vui tao nhã Người ngoại quốc sống trên đất Việt, tìm hiêu nếp sống của người Việt Nam, đều công nhận dân. tộc Việt Nam là một dân tộc chịu khó, không ngã. lòng trước mọi khó khăn, đã chiến thắng được tất cả mọi trở ngại vật chất và tinh thần trong chịu đựng, trong gian lao. Lịch sử Việt Nam trải qua bao nhiêu cuộc hưng vong, người Việt Nam như cây tre, gắp gió mạnh thì ngã xuống, qua cơn giỏ lại vươn mình lên. Trong cuộc sống hàng ngày, họ không nề hà vất vả, làm lụng sáng chiều, đầu tắt mặt tối, vật lộn với sự sống. Sống trên một dải đất khi nắng thì như thiêu như đốt, khi lạnh thì như cắt da cắt thịt, đất đai thì núi rừng trùng điệp và đồng lầy mênh mông, nếu tổ tiên chúng ta không kiên nhẫn phấn đấu, không bền gan chịu đựng, làm sao ngày nay chúng ta có một giang sơn gấm vóc. Chúng ta đã chống lại được sự thôn tính của người Trung Hoa về phương Bắc, chúng ta lại mở

Trang sách 12CẦM CA VIỆT NAM mang được bờ cõi về phương Nam, và gần đây, chủng ta lại tự giải thoát được ách nô lệ của người Pháp, mặc dầu kẻ địch của chúng ta có đủ khí giới tôi tân, đối lại chủng ta chỉ có sự đoàn kết dân tộc với lòng bền bỉ kiên cường.

Ở hoàn cảnh rất khó khăn, về địa lý cũng như về chính trị, dân tộc Việt Nam đã phải làm lụng nhiều hơn tiêu khiển, đã phải đương đầu chiến đấu nhiều hơn hưởng thụ, gia dĩ, từ ngày lập quốc tới nay, hết kẻ thù gần đến kẻ thù xa, họ luôn luôn muốn thôn tỉnh đất nước chúng ta, cho tới ngày nay tham vọng ngoại tộc trên-đất nước vẫn chưa hết, họ muốn sang đoạt hết quyền sống, trách chi chứng ta không cực nhọc trong sinh hoạt !

Nói như vậy không phải là người Việt Nam không có những thủ chơi giải trí. Có lắm chứ, tuy vất vả, tuy bận rộn, nhưng sau những giờ làm lụng, sau những cuộc phấn đấu, chúng ta vẫn có nghỉ ngơi và chơi bời, có như vậy chúng ta mới có dịp tự thưởng công cho mình.

Chúng la giải trí với những thủ vui riêng của dân tộc, và những thú vui này là những trò tiêu khiến của mọi tầng lớp, thay đôi tùy theo từng hạng người và cũng có khi từng địa phương.

Và ngay trong các lối chơi tiêu khiển cũng có năm bảy đường, « có cách chơi nhã, có cách chơi tục, có cách chơi thanh, có cách chơi thô, có cách

Trang sách 13TOAN ÁNH chơi nghĩa lý văn chương, có cách chơi bá láp vổ vị, có cách chơi đủ di dưỡng tính tình có cách chơi làm hưr bại nhân cách » (1) Thói thường cô làm thì phải có chơi, và chơi bời cũng không phải là có hại, « có .lao lực phải có tiêu khiển (1) điều cần thiết là phải chọn lối chơi mà vui, vì trong cách chơi hay hoặc dở, nhã hoặc tục, thanh hoặc thô thường do lối mà cũng do cả người chơi nữa. « Người chưi phong nhã cao thượng thì cách chơi cũng cao thượng phong nhĩ; người chơi nhả nhớt tục tằn thì cách chơi cũng tục tằn nhủ nhớt » (1). Người biết chơi thường tìm những thú chơi hợp với mình. Có những thú chơi ầm i ồn ào, có những thú chơi yên tĩnh trầm lặng, có thủ chơi cân tới sức vóc, có thú chơi cần sự suy nghĩ, lại có thú chơi cần cả trí lẫn lực. Có thú chơi, người chơi chỉ một mình cũng thấy thú, lại có những thú chơi phải có đồng bạn mới hào hứng; có thủ chơi không cần sự ganh đua, có thú chơi phải ganh đua mới thỏa thích.

Thú chơi thay đổi tùy người, thay đổi tùy địa phương, nhưng cũng lại thay đổi theo thời đại. Tôi không nói tới những thú chơi mới ngày nay do ảnh hưởng của Tây phương mà có, tôi chỉ hạn chế trong những thú cổ xưa của người mình, và tôi cũng (1) Phạm Quỳnh. - Văn chương trong lối hát ả đào.

Nam Phong số 69, tháng 3 năm 1923.

Trang sách 14CẦM CA VIỆT NAM không đề cập tới những thú chơi ồn ào rầm rĩ, những thú chơi mạnh mẽ cần tới sức vóc, chỉ muốn nhắc tới những Thú vui tao nhã của người xưa.

Những thú tao nhã này, trước hết phải kể tứ thử phong lưu là cầm, kỳ, thi, họa, rồi đến những thú tiêu khiển khác như ca hát, chơi cây cảnh, uống trà, chơi chim, chơi hòn non bộ, chơi diều v.v...

« Xét trong cách chơi bời, cách nào cũng có một cái thú tiêu nhàn, cũng di dưỡng được tính tình, cũng khoan khoái được thần trí » (1).

Những thú chợi tao nhã của tổ tiên chủng ta trải qua bao nhiêu cuộc hưng vong của đất nước, ngày nay nhiều thủ vẫn còn tồn tại và đương thời cũng còn nhiều người thích thú. Còn hay mất, những thủ chơi này đã từng làm cho ông cha chúng ta say mê, chúng ta phải tìm hiểu, tìm hiểu để thưởng thức cũng như để so sánh với một vài thủ chơi ngày nay.

Nếu chúng ta được nghe những cụ già đứng trước những cây tùng của hòn non bộ thân bằng cổ tay lá bằng mũi kim vào giữa mùa nóng nực mà nói rằng thấy mát cả người như đã bước chân vào rừng tùng ; nếu chúng ta được thấy một người đứng tuổi vào bực đàn anh trong làng cặm cụi ngồi vót từng cải khung diều, uốn đôi cánh diều quên cả ăn, (1) Phan kế Bính, - Việt Nam phong tục, Đông Dương tạp chí, 1914 - 1915.

Trang sách 15TOAN ÁNH quên cả mệt, nếu chúng ta được nhìn một cụ gia khác cặm cụi với nghiên mực, với ngọn bút nho để vẽ một bức tranh thủy mạc, chú ý tới nét vẽ của mình như quên hẳn cuộc đời bên ngoài, nếu chúng ta lại chứng kiến các cụ pha một ấm chè tàu buổi sáng, được tự tay đun lẫy bình nước, tự tay tráng chiếc ấm và những chiếc chén, từ chén tổng tới chen quân và nếu... còn nhiều nữa, chúng ta sẽ cảm thấy cái thanh thú của những thú chơi lịch sự thanh tao của người minh và chừng đó chúng ta ắt phải say những cái say mê của tổ tiên.

Viết về những thú vui tao nhã trong nếp sống cũ của dân tộc, tôi tự biết rằng sẽ không làm thỏa mãn được nhiều độc giả vì sự hiểu biết quá nông cạn của tôi, vì tôi chỉ nhắc lại một cách quá giản lược, chính tôi không phải là một tài tử trong một thú chơi, không lột hết được những điều phải trình bày, nhưng tôi vẫn viết, viết để ghi lại một vài cái gì của ông cha để hoặc có người lưu ý tới sẽ đào sâu bới kỹ hơn, trình bày rõ ràng và đầy đủ với một sự tham bác rộng rãi hơn.

Trước khi đề cập tới những thủ vui tao nhã khác, trong tập sách nhỏ này, trước hết tôi xin trình bày về hai thú Cầm, Ca.

Tôi sẽ rất thỏa mẫn nếu những trang sách nhỏ này có người đọc tới và sẽ chỉ bảo cho những điều thiếu xót để bỗ khuyết về sau.

Tháng giêng năm Kỷ Dậu - 1909

Trang sách 16CẦM Trong những thú vui tao nhã của ta, người xưa xếp tứ thứ phong lưu lên đầu, mà đứng đầu tử thứ này là cầm, nghĩa là chơi đàn.

Gảy đàn (cầm) là một lối chơi thanh nhã, hoặc gảy một mình, hoặc hợp tấu với bạn bè (1) Câm tuy nói là đàn, nhưng ta phải hiều đây là nhạc, vì ngoài đàn ra, trong thú liêu khiển này người xưa còn thối sáo, kéo nhị, đánh trống, chơi sinh tiền v.v...

Những lúc thư nhàn, những khi đêm khuya thanh vắng với một nỗi tâm tư vui buồn riêng, dạo một khúc đàn, thổi một bản sáo để tự tỏ nỗi vui hoặc giải nỗi buồn, quả thật là thú vị. Sự trầm lặng yên tĩnh càng tăng vẽ tao nhã của thú chơi.

Tiếng đàn thánh tha thánh thót như những cung bực của niềm vui, mà cũng có thể như những tiếng nói để thổ lộ nỗi buồn u uất. (1) Đào duy Anh - Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Nhà XB Bốn Phương Saigon, 1961.

Trang sách 17CẦM CA VIỆT NAM Đàn tuy là một thủ tiên khiện, nhưng trong đạo trị dân của người xưa, đàn, hay đủng hơn, nhạc cũng là một trong những điều quan trọng, vi điệu đàn là tự lòng người mà hiện ra. Qua điệu đàn của một địa phương, có thể biết được phong hóa thịnh suy, chính trị mờ tỏ.

Sách Lễ Ký có nói rằng : Nhạc giử thóng luân lý giả dã, nghĩa là nhạc thông với luân lý. Tiếng nhạc thanh tao êm ái có thể biến thành khêu gợi dâm đãng. Người xưa chơi đàn gin giữ chánh thanh, cố giữ điệu đàn không có âm thanh biến thể để chánh thanh hóa dâm thanh.

Đàn tuy tao nhã, nhưng chỉ tao nhã với khách phong lưu ; với những con người đạo đức kèm, người xưa cho là gia hữn cầm, nữ tử dâm.

Đàn hay dở lợi hại là do người, người học đàn phải biết tự điều khiển mình, tiếng đàn mới hữu ích và không di hại.

Người xưa thường dùng đàn để chỉnh tâm dưỡng tính, để khuyến thiện, răn ác với mục đích sửa cho ngay lòng người. Vua Thuấn xưa gảy cây đàn năm dây, ca bài Nam Phong đem sự đại trị lại cho thiên hạ, đức Khổng Tử khi ở nước Tề, nghe nhạc Thiều mà quên ăn.

Tại nước ta, đàn nhạc đã có từ lâu và vua Lê thánh Tôn đã quy luật âm nhạc bằng cách đặt ra bộ Đồng Văn và bộ Nhã Nhạc để hòa nhạc và

Trang sách 18TOAN ÁNH xướng hát.

Trong các cuộc tế lễ từ Triều đinh đến dân gian, bao giờ đàn nhạc cũng điều hòa nghi lễ.

Đàn đã ăn sâu vào phong tục của ta, đàn đã là một thú tiêu khiển thanh tao, và đàn cũng đã gắn liền với một phần đời sống của nhiều người, từ nơi dân giả tới hàng quý tộc.

BÁT ÂM.

Đàn hay dở do âm thanh, khéo điều hòa âm thanh thi tiếng đàn thánh thót thanh cao êm ái, điều hòa vụng, âm thanh rối loạn và như vậy tiếng đàn cũng biến theo.

Để phát ra âm thanh, ta dùng tám thứ tiếng phát ra bởi tám vật liệu khác nhau, gọi là bát âm, do đó các phường nhạc của ta xưa còn được gọi là phường bát âm.

Bát âm gồm :

Kim : tiếng loại kim khí, thường là tiếng đồng như tiếng chuông, tiếng bạt (loại chuông nhỏ), tiếng chiêng, tiếng nao (loại chiêng nhỏ), tiếng não bạt, tiếng sinh tiền v.v...

Thạch : tiếng đá, thường là tiếng khánh.

Thố : tiếng đất sét nung, thường là tiếng huân, một thứ nhạc dùng để thổi, tiếng còi và có khi tiếng bát.

Ti : tiếng phát ra do dây tơ, thường là tiếng

Trang sách 19CẦM CA VIỆT NAM các thứ đàn : cầm, sắt, tỳ bà, tranh, nguyệt v.v...

Trúc : tiếng các loại tre, thường là tiếng các loại sáo, loại tiêu v.v...

Bào : tiếng trái bầu, trái bi, thường là tiếng kèn. Cổ nhân thường dùng các trái bầu bí làm kèn.

Cách : tiếng da thuộc căng thẳng, thường là tiếng trống.

Mộc: tiếng gỗ thường là tiếng mõ, tiếng phách.

Những nhạc khí chế tạo bởi các nguyên liệu trên phát ra mỗi loại một thứ tiếng khác nhau, nhiều âm thanh có thể đi đơn độc trong các bản độc tấu, nhưng thường trong một buổi hòa nhạc, phải có sự hòa hợp pha trộn giữa nhiều âm thanh của nhiều nhạc khi. Tiếng gọi là bát âm, nhưng trên thực tế rất ít khi phường bát âm dùng đủ các nhạc cụ với đủ tám thanh âm của tám nguyên liệu nói trên, nhứt là tiếng gỗ, thiệt ít khi được dùng đến. Thường trong những buôi đàn hát, các âm thanh của ti, trúc, cách và kim được dùng đến nhiều, và những nhạc khí cũng được thay đổi tùy từng trường hợp, nhiều nhạc khí như kèn trống đám táng không đem dùng trong buổi tế lễ, mặc dầu các bản nhạc không giống nhau.

Trong trường hợp có một bản nhạc hòa nên' bởi cả tám nhạc khí, bản nhạc gọi là bát âm nhã nhạc. Thường phường hát âm xưa chỉ chơi những điệu sẵn có, lưu thủy, ngũ đối, tử đại, nạm ai, nam bình, tầu mã v. v... rất ít có bản mới.

Trang sách 20TOAN ÁNH NHỮNG ĐIỀU KỴ Người xưa chơi nhạc có sáu điều kỵ gọi là lục ky, những điều kỵ này đều về thời tiết. Các nhạc cụ là những đồ lúc làm cần tỉ mỉ để giữ cho cung điệu được đúng, sai một chút là lạc âm thanh. Kỹ thuật chế tạo nhạc cụ của ta xưa dù sao cũng chưa hoàn toàn tinh vi, nhất là thân nhiều nhạc cụ đều hằng gỗ hoặc bằng tre, rất dễ chịu ảnh hưởng của thời tiết.

Lục kỳ của ta là :

Kỵ đại hàn.- Trời lạnh thường làm mọi vật se lại, co lại, và trong lúc đó khi trời cũng khô hanh.

Gặp kỷ đại hàn, nước còn đông lại, đàn không thể hay được.

Ky đại thử .- Trái với lạnh, gặp nóng vật gi cũng nở ra, và trong lúc đó khi trời như bốc lửa.

Đàn gáy lên không phản ảnh đúng được cung bực của bản đàn, đàn không hay.

Ấy là chưa kể người chịu ảnh hưởng của sức nóng, lúc đàn nắn dây so phim không được như lúc tiết trời mát mẻ, ấm áp.

Ky đại phong.- Gió lớn làm rung bầu không khí, những âm thanh phát ra cũng bị rung động theo, đàn trong cơn đại phong cũng không lột hết được ý đàn.

Ky đại vũ. - Mưa to, nước đổ như trút, tiếng nước đổ át tiếng đàn, đàn không hay. Đây là chưa

Trang sách 21CẦM CA VIỆT NAM nói, không khí có nước làm âm thanh có thể sai lạc và dây đàn cũng chịu ảnh hưởng sự âm thấp của khí trời.

Ky sấm sét.- Khi sấm sét vang trời, đàn không hay, tiếng sấm sét át tiếng đàn.

Kụ đại tuyết.- Khi tuyết phủ đầy đường, đàn không hay. Nước ta không có tuyết, nếu có cũng rất hạn hữu và cũng chỉ có ở các tỉnh biên giới miền Bắc nơi có núi cao.

Sáu điều kỵ trên của các tài tử phương Đông thời xưa, các cụ ta vẫn hằng theo. Xét cho kỹ những điều kỵ đó cũng đúng, nhất là đối với các nhạc khí của người mình chế tạo, tuy có tinh vi nhưng cũng không hoàn loàn thoát khỏi được ảnh hưởng của thời tiết.

Ngày nay với những nhạc khi Tây Phương của nên tân nhạc, chế tạo hởi những nguyên liệu chọn lọc qua một kỹ thuật tân kỳ, không hiểu lục kỵ trên có còn chăng ? Và các nhạc sĩ cổ điễn ngày nay có còn giữ những điều kỵ của người xưa ?

NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐÂN Gặp những khi thời tiết kỵ với tiếng đàn, người ta không đàn, nhưng ngoài những trường hợp đại kỵ nêu trên, cũng còn những trường hợp khác người tao nhã không đàn. Những trường hợp này có bảy và người xưa gọi là Thất bất đàn, Bảy trường hợp này hoặc nằm trong khuôn phép xử

Trang sách 22TOAN ÁNH thế của người lịch sự thanh cao, người chơi đàn thường cõ giữ gìn để tránh tiếng chê trách của bậc trí thức thượng lưu, hoặc vì tôn trọng ngón chơi, nâng cao nghệ thuật.

Thất bất đàn là : 1.- Tang tóc không đàn, 2.- Khi nhạc có chuông trống ồn ào không đàn, 3.- Khi tâm trạng bối rối không đàn, 4.- Khăn áo không chỉnh tề không đản, 5.- Không xông trầm không đàn, 6.- Trong mình không sạch sẽ không đàn, 7.- Không gắp tri âm không đàn.

Qua bảy điều trên, người chơi đàn đã có lý do chỉnh đáng dể không đàn trong mỗi trường hợp.

Tang tóc không đàn vì sự buồn rầu ; chơi đàn là để giải trí, giải trí trong lúc có tang không hợp với đạo đức của phương Đông. Các cụ còn nói nghe tang không dàn, tang đây có thể là tang của người khác, như được một tin buồn của người khác, người lịch sự không có quyền vui với đàn địch trong khi người khác đau xót.

Khi nhạc có chuông trống không đàn vì tiếng chuông tiếng trống sẽ át hẳn tiếng đàn, đàn dù có hay mấy cũng không ai biết thưởng thức và chính mình cũng không tự thưởng thức được tài nghệ của mình, lại khi tâm trạng bối rối, đàn làm sao mà hay được?

Trang sách 23CẦM CA VIỆT NAM Khăn áo không tề chỉnh, trong người không sạch sẽ, không xông trấm không đàn chính vì lý do nâng cao nghệ thuật.

Không gặp tri âm cũng không đàn, vì đàn lên ai là người nghe, ai là người thấu được tâm trạng của mình qua tiếng đàn.

Nhân đây, tôi xin phép nhắc lại sự tích Bá Nha, Tử Kỳ, mặc dầu tích này bạn đọc đều thừa biết, nhưng nhắc lại để chứng tỏ đàn mà có tri âm, người chơi đàn mới thật là mẫn nguyện.

SỰ TÍCH BÁ NHA, TỬ KỲ Bá Nha người nước Tống làm quan đến chức Thượng Đại Phu, chơi đàn rất giỏi, nhưng chưa gặp người hiểu đàn để thưởng thức ngón đàn tuyệt diệu của mình. Một ngày kia Ông đi Sứ nước Sở về, qua một quãng sông, gặp đêm trăng trong, gió mát, lại thêm cảnh vật nên thơ, Ông cho ghé thuyền vào bờ sông Hàm Dương lấy đàn ra gảy.

Lúc ấy ở trên bờ sông có Tử Kỳ vừa đốn củi về, nghe tiếng đàn dừng lại nghe trộm. Bá Nha đang gảy đàn, đàn bỗng đứt dây. Bá Nha đoán có người nghe trộm tiếng đàn của mình, và Ông nghĩ, quãng sông vắng vẻ, rừng núi chập chùng, kẻ nghe trộm đàn ắt không phải thiện nhân. Ông cho quân sĩ lên bờ tìm bắt. Tử Kỳ lên tiếng nói :

- Tôi là người đốn củi, quá đây, thấy đại nhân gảy khúc đàn hay nên lắng tai nghe, tôi thật không phải kẻ bất lương.

Trang sách 24TOAN ÁNH Bá Nha không tin một gã tiều phu lại thưởng thức nồi tiếng đàn của mình, hỏi lại :

- Vừa rồi ta đàn hản gì ?

Tử Kỳ đáp ngay :

- Ngài đàn bản Đức Khổng Tử thương tiếc thầy Nhan Hồi.

Thấy Tử Kỳ am hiểu tiếng đàn của mình, Bá Nha có lòng trọng, mời xuống thuyền, rôi lên dây gảy một bản đàn khác. Trong lúc đàn, Bá Nha nghĩ đến non cao, Tử Kỳ khen hay và nói :

- Tiếng đàn cao vút, chí của Ngài vòi vọi ở chốn non cao.

Bá Nha lại đàn một bản khác, tâm trí nghĩ đến giòng nước chảy, Tử Kỳ lại khen hay:

- Chí của Ngài cuồn cuộn như giòng nước chảy.

Thấy Tử Kỳ biết thưởng thức ngón đàn của mình, Bá Nha nhận thấy thiệt là tri âm và quý mến lắm. Hai người cùng nhau đàm đạo về đàn, về nhạc thân mật và tương đắc.

Bá Nha muốn mời Tử Kỳ cùng về Kinh đô nước Tống với mình để cùng chung hưởng sang giàu, nhưng Tử Kỳ từ chối vì còn cha mẹ già phải phụng dưỡng, không thế bỏ cha mẹ ra đi, trái đạo làm con.

Hai người hẹn nhau đến năm sau cùng hội ngộ ở nơi này.

Năm sau, y hẹn, Bá Nha xin phép vua Tống

Trang sách 25CẦM CA VIỆT NAM trở về thăm nhà, đi qua chỗ cũ đem đàn ra gáy.

Đàn gảy lên, Bá Nha không thấy Tử Kỳ, tiếng đàn lại nghe như sầu não oán than. Bá Nha nghi hoặc, tìm đến nhà Tử Kỳ, hỏi ra mới biết Tử Kỳ đã chết.

Bá Nha buồn rầu thương tiếc, xin đến mả để thăm người bạn tri ậm lần chót.

Đến mộ Tử Kỳ, Bá Nha đem đàn ra gảy một bản đàn ai điếu nghe bi thảm não nuột sau khi đã bày đồ lễ trước nơi an nghỉ cuối cùng của người tri kỷ. Bá Nha khóc than thảm thiết và khi đàn xong, Bá Nha đập vỡ đàn, thể trọn đời không đàn nữa, vì người duy nhất biết thưởng thức đàn của mình là Tư Kỳ đã chết.

Qua sự tích trên, phải nhận rằng, chơi đàn đã là một cái thú, gặp người biết thưởng thức ngón đàn của mình lại càng thủ hơn.

BÁT TUYỆT Đàn hay, khách chơi đàn cần phải có tri âm và khi đã đạt tới mức của Bá Nha, ngón đàn thật là tuyệt diệu.

Theo người xưa, cái tuyệt trong đàn có tám điều gọi là Bát tuyệt, và tám điều này, đạt được thực ra rất hiếm người.

Bát tuyệt là :

Thanh : Đàn hay, người chơi đàn khiến được liếng đàn. Gặp cây đàn tiếng đục, lúc chơi tiếng cũng hóa trong.

Trang sách 26TOAN ÁNH Kỳ : Đàn hay thật là kỳ ảo, biến hóa vô cùng trong đục rõ rệt và nghĩ tới đâu, tiếng đàn như theo tới đó, như khi Bá Nhạ đàn cho Tử Kỳ nghe, lúc lên non cao, lúc theo giòng nước.

U: Tâm hồn người chơi đàn nằm trong tiếng đàn nếu có chuyện gì u trầm, trong tiếng đàn có thể hiện ra. Sách xưa ghi lại truyện Đức Không Tử đánh đàn. Lúc Ngài đang đàn, có thầy Tăng Tử và thầy Tử Cống đứng bên cửa nghe. Khi Ngài đàn xong, thầy Tăng Tử nói rằng : «Trong tiếng đàn dường như có tham ý, sao mà bất nhân thế !»

Thầy Tử Cống nhắc lại lời thầy Tăng Tử với đức Không Tử. Ngài bảo rằng :

- Sâm (tên húy của thầy Tăng Tử) thật là người hiền trong thiên hạ, đã quen thẩm âm rồi.

Khi ta đang đàn có một con chuột chạy ra, con mèo thấy, mắt lăm le, chân nhẹ nhẹ rình bắt con chuột, ta muốn cho bắt được, điều muốn của ta đã hiện trong tiếng đàn.

Nhã : tiếng đàn vui vẻ mà hòa nhã, không hấp tấp, lụp chụp.

Bi : Trong tâm có điều gì bất như ý, tiếng đàn nghe sầu não ai oán.

Tráng : Gặp việc đắc ý, tiếng đàn nghe mạnh mẽ hùng hào.

Du : Ý người đánh đàn ở non cao hay vực

Trang sách 27CẦM CA VIỆT NAM thắm tiếng đàn biều hiện được nơi đó hoặc cao xa hoặc thăm thắm.

Trường: Ý người đánh đàn tại chỗ sâu xa, tiếng đàn nghe dài dặc, cuồn cuộn như giòng nước.

Chơi đàn đạt được bát tuyệt, ngón đàn thật là tinh vi, và người sành đàn được thưởng thức tài nghệ tuyệt diệu này cũng lấy làm thú vị.