Cầm Ca Việt NamPhần 1 · trang 1–10

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 1TOAN ÁNH CÂM CA VIỆT NAM XUÂN THU

Trang sách 2Toan Ánh CẦM CA VIỆT NAM (SỮU TẦM PHONG TỤC) tựa của Nguyễn Hiến Lê Lá Bối

Trang sách 3CẦM CA VIỆT NAM Lá bối in lần thứ nhất 1970 SAIGON - VIETNAM

Trang sách 4Mến tặng hiền thê để kỷ niệm 30 năm ngày cưới T. A.

Trang sách 5TỰA Tôi mừng rằng công trình sưu tầm biên khảo về Nếp củ của ông Toan Ảnh càng ngày càng được quốc dân hoan nghênh. Non ba chục năm trước, đọc những bài chép các tục lạ ở thôn quê Bắc Việt vả đăng rải rác trên các bảo Tri Tân, Trung Bắc Chủ Nhật, Tao Đun tôi đã để ý tới ông liền : khu vực đó ít người khai thác mà những chuyện ông kê đêu hấp dắn, dồi dào về chi tiết. Kế đó là chiến tranh Pháp Việt. Bằng đi một thời gian, sau Hiệp định Genève một ít lâu, tôi lại thấy óng xuất hiện trên vũn đàn với những tác phẩm : Bó hoa Bắc Việt, Trong lãy tre xanh. Và trong mấy năm nay, không năm nào ông không cho ra vài ba cuốn, có cuốn dày 400- 500 trang khổ lớn : Tin ngưỡng Việt Nam, Người Việt... Đất Việt, Làng xóm Việt Nam, Miền Bắc khai nguyên... Ông dã sớm định một chí hướng lừ khi mới ra làm việc, lựa một con đường ít người đi má cũng là con đường đẹp nhất, thích thú nhất :

đi sâu vào lòng dân tộc, tìm hiều nếp sống của tổ tiên ; và luôn mấy chục năm, tập trung mọi hoạt động vào đó, sưu tầm trong các sách báo cũ và mới, đi

Trang sách 6tới từng miền để điều tra, ghi chép, lợi dụng mọi hoàn cảnh đề đạt mục đích (cuộc di cư năm 1954 đối với ông chính là một điều may vì nhờ nó mà ông đã nghiên cứu được tại chỗ phong tục miền Trung và miền Nam) nên tài liệu của ông mỗi ngày một nhiều, sự sáng tác của ông mỗi ngày một phong phú. Nghe nói ông dự tính soạn năm sáu cuốn nữa, mỗi cuốn bốn năm trăm trang. Và công của ông đến nay đã được quốc dân đền đáp. Đỏ là điều đáng mừng, không phái mừng cho ông mà cho tiền đồ của văn hóa nước nhà.

Sau Hiệp định Genève, khi ảnh hưởng của Mỹ bắt đầu lan tràn vào Việt Nam, trong khoảng mười năm đầu một số người hăng hái tiếp thu văn hóa Mỹ vì nó lạ đối với chúng ta, một số khác nhiệt liệt giới thiệu những trào lưu tư tưởng mới của Pháp. Dĩ nhiện công việc đó nên làm, nhưng chúng ta đã say với cái mới, cái lạ của người mà cơ hồ như quên cái đẹp, cái cũ của mình. Vài năm nay, có một trào lưu ngược lại ; chúng ta đã thấy mặt trái của phương Tây : có một lực lượng phi thường chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại mà họ không ổn định nổi chính xã hội của họ, lại chỉ gây thêm vô số xáo trộn trên thế giới, ở Đông Á, Tây Á, Phi . Châu, Nam Mỹ. Nên một số học giả phương Tây đương muốn tìm hiều sâu hơn văn minh của phương Đông ; ở nước ta thì một số nhà văn đã trở lại

Trang sách 7XIl nghiên cứu Văn hóa cổ truyền của mình : triết lý cổ, tuồng cổ, văn thơ cỏ, nếp sống cô.. Chúng ta chứa biết công trình của các nhà đó có dẫn tới một đường lỗi nào dung hoa mới với cũ không, tạo nên một nhân sinh quan mới, một nếp sống mới nào không, nhưng nội một điều quốc dân, nhất là thanh niên, đã hoan nghênh công việc của họ, cũng đủ cho ta mừng rồi : có tìm hiều kỹ dĩ vãng của mình thì mới quí nó được, có quí nó thì mới tìm được hướng đi cho tương lai; không một dân tộc nào đoạn tuyệt hẳn với dĩ vãng mà cường thịnh được. Lịch sử là một sự liên tục : tương lai ở trong hiện tại, mà hiện tại ở trong dĩ vẫng. Tôi mong mà cũng tin răng «sự suy đồi của văn hóa vì đụng chạm với những sản phầm ngoại lai lúc này» - lời của ông Toan Ánh - chỉ là một thứ lở lói ngoài da phát sinh trong các thành thị, còn đại đa số dân chúng ở thôn quê, ở các quận, các tỉnh nhỏ vẫn còn giữ được nếp sống cũ.

Tôi có thể dẫn chứng được vì đã mục kích nhiều gương hi sinh nhẫn nại tiết tháo.

Trước sự xâm nhập ồn ào, « man rợ» của các loại nhạc Jazz, Twist, Be-bop mấy năm gần đây, ông Toan Ánh âm thầm thu thập tài liệu về Cầm Ca Việt Nam để chúng ta thấy tính cách nghiêm trang mà hỏa nhã, vui mà không loạn của ca nhạc cổ, nhất là cái tinh thần "cộng lạc» giữa giai cấp sĩ phu và bình dân thời xưa ra sao. Tôi yêu quí các cụ Nguyễn

Trang sách 8Du và Phan bội Châu quả khi các cụ đêm đêm đi hát dăm với các thôn nữ, và tôi thích cái tục hát quan họ ở Bắc Ninh làm sao ? Thời đó trí thức và bình dân đâu có cách biệt như ngày nay, mà không có cách biệt thì làm gì có đấu tranh giai cấp.

Tác giả không thể đi sâu vào chỉ tiết được - như vậy thì biết mấy ngàn trang cho đủ? nhưng ông đã ghi hết được những đại cương về cầm ca của ta từ thời cô cho tới đầu thế chiến vừa rồi: nhắc qua " nhạc lý » : lục ky, thất bất đàn ; tả mấy chục thứ nhạc khí và không biết bao nhiêu giọng ca hát trí thức và bình dân: hát đò đưa, hát chăn trâu, hát ru em, hát ví, hát quan họ, hát dặm, hát trống quân, hát phường, hỏ, vè, hát xảm, hát ả đào, ca Huế, hát thờ, hát tuồng, hát chèo, vân vân, cả ca cải lương nữa, chấm dứt là những bài hát đầu tiên chịn ảnh hưởng của Tây phương.

Đọc tác phẩm của ông tôi bâng khuảng nhớ lại một lúc vui thanh thoát trong đời tôi md nhờ dân ca tôi đã được hưởng. Cách đây non bốn mươi năm, cũng vào một đêm Trung thu như đêm nay, những ở làng Thịnh Hào cách Hà Nội dăm sáu cây số. Anh em chúng tôi ba bốn người đương chuyện trò trong một khu vườn bỗng có tiếng hát văng vắng đưa lại, và chẳng ai bảo ai, mọi người đều im bặt. Tiếng hợp ca mỗi lúc mỗi gần và chúng tôi nghe rõ là điệu Ru hời :

Trang sách 9XIII Tay tiên là tiên chuốc chén ơi ới đào là rượu đào, Đổ đi là đi thời tiếc, ơi ới vào, uống vào, uống vào thời say.

Ru là ru ru hỡi, ơi ới hãi là ru hời...

Giọng ca tới những tiếng chén, tiếc, bay vút lên không, rồi chim hẳn xuống ở những tiếng (rượu) đào, (uống) vào; sau cùng tan lần trong cảnh bao la của đồng ruộng. Đúng lúc đó nhìn qua bở ao, chúng tôi thấy một đoàn thợ gặt, cả trai và gái khoảng mười mấy người đi hàng hai dưới ánh trắng văng vặc trên con đê (tức đường Quần ngựa). Tiếng hát ngừng một chút rồi lại cất lên, tôi nhồm nhồm muốn chạy theo họ, nhưng rồi lại ngồi xuống, vi băng qua được cánh đồng chiêm tới chân đê thì họ đã đi xa mất rồi. Tôi lắng tai nghe tới khi dư âm tắt hẳn, mà tiếc ngo tiếc ngẫn ! Suốt đời tôi, chưa có lần nào giọng ca làm cho mê như lần đó: nó du dương, uyền chuyền, bát ngát, tôi biết dùng tiếng gì để tả bây giờ?

Ca nhạc Tây phương không sao gợi cho tôi được cảm xúc thần tiên đó. Ca nhạc của minh quả thực không phong phú, nhiều sắc thái bằng phương Tây nhưng có những nét riêng, cái thần riêng thâm thiết với ta, như là tiếng gọi của tổ tiên, của dân tộc. Ông Toan Ánh đã có công gợi cho ta nhớ lại nhớ cái hồn của đất nước đó trong cuốn Cầm ca Việt Nam. này. Chỉ là một « nhất lầm » nhưng rất đủ để hướng

Trang sách 10XIV dẫn những người muốn đi sâu vào chi tiết.

Một điểm đáng chú ý nữa là ông đã khéo lựa những câu hát để chúng ta thấy tinh thần khả ái của thôn nữ Việt Nam.

Họ sống thật cực khổ:

Một ngày hai bận trèo non, Lẩy gì mà đẹp mà đòn hỡi anh ! mà họ rất chung tình :

Ra về chỉ một ngóng theo, Ngóng rừng rừng rậm, ngóng đèo đeo cao. và rất hiếu thảo với cha mẹ, tận tụy với chồng con :

Bố kinh thờ mẹ thờ cha, Thờ chồng trọn đạo cùng là nuôi con.

Một số thiếu nữ ngày nay, hạng bận mini-jupe hút Salem, uống huýt-ky, đọc những câu đó tất bữu môi, cho là cổ hủ; nhưng dân tộc ta - mà dân tộc nào cũng vậy - sở dĩ vượt qua được những cơn hỗn loạn, khủng hoảng mà lại hiên ngang ngửng đầu lên được, chính là nhờ những người mẹ, người vợ cổ hủ như các cụ bà Sào Nam, Tú Xương, Nguyễn quang Diêu...

Sàigòn, Trung Thu Kỷ Dậu NGUYỄN HIẾN LÊ