NHẠC KHÍPhần 3 · trang 28–275
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 28NHẠC KHÍ Chơi nhạc, người sử dụng nhạc khí này, người sành nhạc khí khác, mỗi cây đàn, cây sáo, cây nhị, âm thanh mỗi khác. Tình cảm của người chơi nhạc biều lộ qua cung đàn, điệu sáo, nhưng mỗi ngón đàn nhạc lại nói lên một cách tâm hồn của người chơi cũng như lại diễn tả một tính tình khác nhau ?
Có tiếng đàn gảy nên những khúc hùng tráng mạnh mẽ, có tiếng đàn tạo nên những điệu êm đềm mơ mộng nhẹ nhàng. Có người chỉ giỏi về một cây đàn có người tài nghệ có thể diễn hiển trên đôi ba nhạc khi.
Nhạc khi của ta rất nhiều từ đàn đến sáo, từ sáo đến nhị, - ở đây tôi không nói tới những loại thanh la, nào bạt, chuông, trống, chiêng, khánh, thường chỉ được sử dụng trong những cuộc tế lễ.
Dưới đây xin nói qua về mấy nhạc khí chính
Trang sách 29CẦM CA VIỆT NAM tôi được biết hoặc qua các sách vở hoặc được thấy bạn bè đã từng dùng trong những buổi hòa nhạc.
CÁC LOẠI ĐÀN Ta chơi nhiều loại đàn, có thứ hoàn toàn Việt Nam, có thứ do nước ngoài du nhập vào.
ĐẢN BẦU. - Cây đàn hoàn toàn Việt Nam, nặng tính chất Việt Nam nhất phải kể là cây đàn bầu. Đàn bầu được chế hóa một cách hết sức giản dị, và chỉ có một dây, do đó đàn còn có tên là độc huyền cầm.
Dây đàn căng thẳng trên trống đàn, một đầu dây buộc chặt vào trống đàn, còn một đầu buộc vào cây trụ bằng tre. Cây trụ dùng để nhấn âm thanh khi nhạc sĩ gảy đàn. Đàn không ngựa, không phím, và trên mặt trống đàn chỉ có ba vạch trắng, chia đàn làm bốn cung thay ví năm cung như các đàn khác. Các nhạc sĩ thành thạo, không cần đến các vạch trắng, họ đã hiểu cung nào ở chỗ nào.
Trống đàn làm bằng một thứ gỗ đục rỗng thường cỡ 1m20x0,12x0,16.
Tuy đàn chỉ có bốn cung, nhưng mỗi cung có thể tạo ra rất nhiều âm thanh và tiếng đàn nghe tha thiết buồn buồn, một thứ buồn êm ái quyến rũ, đôi khi đến não nùng để thấm lặng vào tâm hồn con người.
Người xưa cho những bản nhạc của đàn bầu là tục nhạc, là dâm thanh vì tiếng nhạc dễ gợi u
Trang sách 30TOAN ÁNH hoài và tạo niềm sầu cảm.
Ca dao có câu :
Làm thân con gái chở nghe đàn bầu.
Đàn bà con gái bị cấm nghe đàn bầu chính vì sức quyến rũ của những bản đàn.
Những lúc đêm khuya thanh vắng, tiếng đàn như rót vào tâm hồn con người và có một sức khêu gợi mãnh liệt, người có tâm sự buồn nghe đàn càng buồn thấm thía, trách chi những thiếu phụ, nữ lang sống cô độc trong khuê phòng làm sao tránh khỏi ảnh hưởng của âm thanh sầu man mác và đầy quyến rũ.
Nhớ lại hồi nhỏ tôi đã được nghe một tay đàn bâu, vừa đàn vừa ca bài Tiền chân anh Khóa của Á Nam. Nhạc sĩ đã khéo diễn tả cái cảnh chia ly trên cung bực với những tiếng đàn nỉ non thánh thỏi, người nghe như có cảm tưởng đang sống trong một cảnh chia ly:
Anh Khỏa ơi ! Em tiễn chân anh đến tận bến tàu, Hai tay em đỡ củi khăn trầu em lấy đưa anh.
Tay cầm trầu giọt lệ chạy quanh, Anh sơi một miếng cho bõ chút tình em nhỏ thương• Anh Khóa ơi ! Cái bước công danh ngoắt ngoéo đủ trăm đường, Anh đi một bước tấm gan vàng em xẻ làm hai.
Kìa người ta bè bạn vui cười,
Trang sách 31CẦM CA VIỆT NAM Hai anh em ta thương nhớ chỉ ngậm ngùi mà đứng thương nhau!
Bài hát của nhà thơ đã đi sâu vào tâm khảm người nghe lại thêm tiếng đàn rấm rứt như than vẫn não nề, ôi buồn sao buồn vậy !
Đàn bầu để nằm và người chơi ngồi thẳng, một tay gảy, một tay cầm cây trụ đề điều khiển âm thanh.
Đàn bầu thường chỉ độc tấu, vì đàn rất khó hòa âm với các đàn khác. Chính vì tiếng đàn độc tấu nên nghe càng như rền rĩ nỉ non, và do đó sức khêu gợi, quyến rũ càng mạnh.
Khách tài hoa nhiều người chơi đàn bầu, nhưng : xưởng đặc biệt xẩm chợ thường dùng đàn này để ca làm kế độ nhật.
NHỊ hay ĐÀN CO .- Nhị cũng là một nhạc khí hoàn toàn Việt Nam, và được gọi là đàn cò ở miền nam. Gọi là đàn, nhưng khi chơi nhị, tài tử không phải gảy vào dây hay đánh vào thỏi ở trên như các loại đàn khác, mà dùng mã vĩ cọ sát vào hai dây nhị. Nhị hơi giống vĩ cầm của Tây phương, và sự phát thanh của nhị cũng như của vĩ cầm.
Nhị còn có tên là Hồ cầm. Nhị có bốn phần : thùng, cần, ngựa và dây.
Thùng nhị làm bằng một khối gỗ đục rỗng và được bịt bằng một miếng da trâu ở trên mặt. Một con ngựa được gắn trên trống thùng, đề căng hai dây qua.
Trang sách 32TOAN ÁNH Cần nhị dài chừng nửa thước và cắm chặt vào thùng. Hai dây nhị được buộc từ đầu cần xuống tới ngựa, những dây này ăn vào hai trục đề lên dây, và luồn qua một cái khuyết ở giữa cần, khuyết là một vòng đồng.
Như trên đã trình bày, chơi nhị, phải dùng mã vĩ cọ sát vào dây nhị. Mã vĩ làm bằng đuôi ngựa hoặc bằng tóc buộc vào một cung tre, dây mã vĩ được đặt vào giữa khe của hai dây nhị. Khi chơi nhị, cầm chiếc cung tre kéo mã vĩ. Sự cọ sát giữa mã vĩ và dây nhị tạo nên âm thanh và âm thanh được rung mạnh trên một mảnh cây tùng hừơng.
Chơi nhị gọi là kéo nhị. Những nghệ sĩ tài hoa khi kéo nhị, tiếng nhị nghe êm ái hòa với các tiếng đàn khác. Những người mới tập, khi kéo nhị, âm thanh phát ra như xé vào tai với những tiếng the thẻ chát chúa.
ĐẢN CẦM.- Cầm là một loại đàn cổ từ Trung Hoa truyền sang ta. Theo sách cổ để lại thì đàn do vua Phục Hy sáng chế ra đầu tiên. Sách kể lại rắng : « Xưa vua Phục Hy thấy chim Phượng Hoàng đậu trên cây Ngò đồng, ngài cho cây Ngô đồng là loại cây quý nhất, nên ngài sai đốn ngã cây Ngô đồng xuống cưa làm ba khúc, và gỗ thử từng khúc một : khúc ngọn tiếng quả trong, khúc gốc tiếng quá đục, chỉ có khúc giữa đủ tiếng nặng nhẹ đục trong. Nhà vua đem ngâm khúc giữa này ở dòng nước chảy 72 ngày rồi sai người thợ khéo
Trang sách 33CẦN CA VIỆT NAM là Lưu Tử Kỳ đẽo ra làm thành đàn đặt tên là Diêu Cầm. Đàn dài ba thước sáu tấc sáu phân, trước rộng tám tắc, sau hẹp bốn tắc, trục ngọc, phim vàng. Đàn có 13 phím, 5 đây.
Về sau, Bá Ấp Khảo con vua Văn Vương nhà Chu thêm một dây, đến đời vua Võ Vương lại thêm một dây nữa. Bảy dây của đàn câm mang tên : cung, thương, giốc, chủy, vũ, văn, võ.
Qua những dòng trên, lúc đầu đàn cầm chỉ có bảy dây nhưng về sau các nhà sành nhạc thêm bớt đặt ra đàn này đàn khác từ một tới chín dây:
Nhất huyền cầm, tam huyền cầm, ngũ huyền câm Chơi đàn cầm có nhiều bài, và danh tiếng nhất là khúc Phụng cầu Hoàng.
Sử sách chép lại, những tay chơi đàn cầm hay thủa xưa là Bá Ấp Khảo, Bá Nha, Tư Mã Tương Như v. v...
Theo ông Thạc Nhân trong Xã Hội Nguyệt san số 6 xuất bản tháng 4 năm 1966, đàn câm là đàn Nguyệt Cầm, còn gọi là đàn kim, tương tự như đàn Mandoline của Tây phương. Đàn nguyệt cầm này khác hẳn đàn cầm của vua Phục Hy. (1) ĐÀN SẮT. Cầm sắt thường đi đôi với nhau, cả hai đều dùng dây tơ. Theo sách cũ chép lại thì đàn sắt nguyên của Bào hi Thị sáng chế ra, dài Thạe Nhân. _ Xã hội Việt Nam với vấn đề Lễ Nhạc.
Trang sách 34TOAN ANH bảy thước hai tấc, hai mươi lăm dây.
Ông Thạc Nhân trong bài dẫn trên có đề cập tới Dương câm sắt và ông viết :
"Dương câm sắt là một thứ cổ nhạc khi của " đồng bào người Việt gốc Miên. Đàn được cấu « tạo bởi những thanh sắt dẹp, đặt khít nhạu trên " một cái đàn bán cung, theo thứ tự âm thanh từ " thấp lên cao. Mỗi thanh sắt là một âm. Người « chơi đàn luôn luôn ngồi thẳng hai tay cầm hai " thanh gỗ có mấu đánh cùng một lần xuống những « thanh sắt. Do đó mỗi lần gỗ đều có một hợp âm « bởi hai thanh. Đặc biệt sự chế biến âm thanh " cho dương cầm sắt này là người ta đục rỗng ở « dưới thanh sắt nhiều ít tùy theo mỗi âm thanh...»
ĐÀN TRANH.- Đàn tranh bằng gỗ đục rỗng lòng máng. có 16 dây, 16 dây này tùy theo nhu cầu của âm thanh, căng chùng, dài ngắn khác nhau và tất cả đều bằng đồng. Những dây này mảng trên những ngựa gắn vào khoảng giữa thùng đàn. Người chơi đàn phải ngồi thẳng, dùng đầu ngón tay phải có móc những móc sắt mà gáy, giống như người chơi Hạ Uy cầm; tay trái nhấn trên các sợi dây để ựa âm thanh.
Theo sách xưa để lại, đàn tranh dài sáu thước, mười hai dây, cao ba tấc.
ĐẢN TY BÀ.- Đàn Tỳ Bà có bốn dây, gồm một thùng đàn trông từa tựa như thùng đàn
Trang sách 35CẦM CA VIỆT NAM Mandoline nhưng nhỏ hơn. Đàn có 14 phím gắn trên thùng từ gần lưng chừng thùng đến hết cần đàn, mỗi phím là một âm thanh. Âm thanh dài ngắn tùy theo tay nhấn vào phím. Chơi đàn, nhạc công phải ôm đàn vào lòng, tượng tự nhự chơi mandoline ngày nay. Âm thanh được tạo ra bởi tay gảy vào dây, dây rung lên.
Người xưa cho đàn tỳ bà nguyên người Hồ làm ra, do đó còn mang tên là Hồ cầm. Người Hồ khi đi ngựa thường chơi đàn này, lấy tay nây ngược lên kêu là Tỷ, nây xuôi xuống kêu là Bà, đàn được đặt tên là Tỷ bà vì vậy. Đàn Tỳ bà được người xưa trổ gỗ Ngô đồng ra mà làm, bụng như rùa, cổ như phụng.
Từ đời nhà Nguyên tới nay, đàn Tỷ bà làm bằng gỗ, đầu công, cô dài, có bốn trục vặn bốn dây, ở giữa có 14 phim.
DƯƠNG CẦM.- Đàn còn mang tên là Đả cầm hình như trái cật, dài 1 thước 5 tắc, bề ngang một thước (1), có 42 dậy đồng, chia làm 14 bậc, mỗi bậc 3 dây.
Khi chơi đàn, để đàn trước mặt dùng hai thanh tre có mấu mà đánh, do đó gọi là đả cầm.
Đàn này mới có từ đời nhà Thanh.
Tại Việt Nam còn có Dương cầm sắt đã nói ở trên, Dương cầm gỗ cũng giống như Dương cầm (1) Thước tắc đây là thước tấc của ta thời xưa.
Trang sách 36TOAN ÁNH sắt chỉ khác ở chỗ những thanh sắt đục rỗng được thay thế bằng những thanh gỗ cứng, dày mỏng tùy theo nhu cầu của mỗi âm thanh, Dương cầm tre với những thanh tre thay những thanh sắt. Ngoài ra lại còn Dương cầm đồng trinh bày và cấu tạo cũng gần như các dương cầm lrên, nhưng « có điểm đặc biệt là thay vì những thanh sắt hay gỗ, người ta làm những chiếc chiêng đồng nhỏ, dày mỏng cũng tùy theo nhu cầu của mỗi âm thanh.
Lối chơi cũng như các dương cầm trên » (1).
ĐẢN NHẬT.- Đàn này, ngoài Bắc Việt còn gọi là đàn tứ vi có bốn dây. Thùng đàn hình tròn như mặt trời, cần dài 7 tắc, mặt thùng rộng 8 tấc.
Đàn có 10 phím, 4 dây, 2 dây chập một.
ĐẢN NGUYỆT.- Đàn nguyệt hình mặt trăng, còn được gọi là Nguyệt cầm. Ông Thạc Nhân đã nhâm đàn này với đàn Câm.
Đàn này thùng rộng tám tấc rưỡi, dày một tắc cưỡi, hoàn toàn kín, cần dài 1 thước 7 tắc, 8 phim, 1 dây, hai dây chập một như đàn nhật. Người xử dụng đàn có tài chỉ cần 2 dây. Mỗi phím có thể có 4 âm thanh tùy theo tay rung mạnh hay yếu trên dây, nhờ đó đàn có những biến âm rất êm tai và quyến rũ.
ĐÁN TAM.- Tên đàn do ba dây của đàn. Đàn giống như đàn Nguyệt nhưng bé hơn. Thùng cũng (1) Thạc Nhân ._ Tài liệu đã dẫn.
Trang sách 37CẦM CA VIỆT NAM bằng gỗ, rộng năm tấc, dày hai tấc, hai bên bịt bằng da trâu thay vì bằng gỗ mỏng như đàn Nhật và đàn Nguyệt. Cần đàn dài một thước năm tấc, có ba trục để níu ba dây ; giữa mặt đàn có con ngựa, dây căng qua, và dây cũng luồn qua một chiếc khuyết ở giữa cần như dây nhị, chiếc khuyết này bằng ngà hay bằng xương có xoi ba lỗ cho ba dây. Khi chơi đàn, nhạc sĩ ngồi xếp bằng, kê đàn trên đầu gối chân mặt, tay trái ôm cần mà nhấn trên dây, tay mặt cầm một miếng ngà dài chừng hai tấc, rộng chừng tám phân hoặc miếng đồi mồi mà gảy.
ĐẦN CẦM NAM.— Đây là một cây đàn đặc biệt, có thể ăn theo với mọi điệu hát cung cao và cũng là một cây đàn hoàn toàn Việt Nam. Theo tài liệu của cụ Hoàng Yến trong Câm học tâm nguyên đăng trong Nam Phong tạp chí số 47, tháng 5-1921, thì đàn này do Luân Quốc Công, tên hủy là Dục đặt ra. « Ngài là một tay rất mực phong lưu, tinh thông " nhã nhạc ; phàm điệu hát, câu hò, khúc lý, về tay « ngài sửa sang lại, phần nhiều Ngài thấy điệu hát " mình cung cao lắm, đờn xưa ít ăn theo, Ngài « mới hiệp cả Cầm, Sắt, Tỷ Bà lại một, chế ra một « cây đàn mới, kêu tên là Nam cầm. Đờn này thùng " dày, hình như quạt lá vả, cần dài 3 thước, tảm « dây. Nam Bắc truyền bả ai cũng cho là hay.»
ĐẢN ĐÁY. Đàn đáy còn được gọi là đùn nhà
Trang sách 38TOAN ÁNH trò, vì được dùng nơi cầm ca, do các kép gảy khi ca nhi hát ả đào. Đàn mặt sau khoét rỗng, nên còn được gọi là vô để cầm. Đàn thùng vuông, cần dài ba thước và cũng có ba dây, căng từ cuối thùng đàn lên đâu cần đàn, nơi có ba chiếc trục để vặn ha chiếc dây, hình thức gần như đàn cầm nam.
Có người cho rằng đàn đáy chính là biến thân của đàn cầm nam mà hình dáng được sửa đổi lại.
Đàn đảy gảy theo điệu hát của các ca nhi, cao thấp mau chậm, nhặt khoan tùy theo điệu hát, thật là hay. Ngày xưa, người Nghệ An chơi đàn đáy rất tuyệt diệu, được liếng khắp trong nước, và trong các tài tử có Cửu Đạm đàn thật cao nên ngày nay nhắc tới, những người quán ở tỉnh này còn nhớ.
Tương truyền rằng đàn đáy do ông Lý Thiết Quài, một vị trong bát tiên sáng chế ra : Xưa có hai vợ chông nhà đốt than ăn ở rất nhân từ mà vẫn nghèo, cho đến một hôm được một ông già cho một cây đàn và bảo hai vợ chồng tập đàn ca sẽ giàu có.
Hai vợ chồng mang đàn về nhưng không biết đàn, lại tìm đến ông già ấy dạy cho hàng ngày cho tới khi biết sử dụng đàn. Vừa hay lúc ấy gặp ngày lễ Vạn thọ vua Hán Vũ Đế. Hai vợ chồng đến đàn hát.
Bày lòi vua Vũ Đế có ông Đông Phương Sóc, nghe tiếng đàn thấy điện quen, đã từng được nghe. Hỏi thì hai vợ chồng nhà này nói rõ đầu đuôi và tả hình dạng ông già. Đông Phương Sóc
Trang sách 39CẦM CA VIỆT NAM lúc đó mới nhớ lại là bản đàn của Lý Thiết Quài gảy ở cung tiên. Do sự tích trên mà sau này tại các làng có nghề nhà trò, khi cúng lế, thường tế vua Hán Vũ Đế, ông Đông Phương Sóc và ông Lý Thiết Quài, như ở Làng Cổ Đạm, huyện Nghị Xuân, tỉnh Hà Tĩnh vậy.
Trèn đây là mấy loại đàn được ta thường dùng ngày trước, và cho tới ngày nay cũng không có mấy thay đôi đối với cổ nhạc.
Nói cho đúng, đàn không thay đổi, không có nhạc cụ mới, - tôi không nói tới những cây đàn Tây phương, - mà cả đến bản đàn cũng rất ít bản đàn mới. Nhạc độ ở nước ta xưa thấp kém lắm, các bản nhạc phần nhiều chịu ảnh hưởng của Trung Hoa và Chiêm Thành, ngoại trừ những bản hòa với dân ca đầy màu sắc dân tộc.
Các nhà chơi đàn của ta xưa, trong các cây đàn nêu trên, thường lấy 5 cây đàn làm ngũ điệu :
Đàn Tranh, đàn Nguyệt, đàn Tỳ Bà, Nhị và đàn Tam. Các tài tử phong lưu xuất sắc thường biết chơi cả năm cây đàn trên.
CÁC LOẠI SÁO Đàn nhị thường đi vởi sáo. Trong một phường bát âm không thể không có sáo được. Tiếng sáo hòa với tiếng đàn khiến khúc nhạc càng êm ái và
Trang sách 40TOAN ÁNH càng diễn tả rõ cái hay của bản đàn. Tiếng sáo bao giờ cũng thanh nhã. Tiếng sáo tạo nên do không khí chịu hơi thổi mà ra.
Sáo cũng có nhiều loại với nhiều tên khác nhau, có thứ thổi ngang, có thứ thổi dọc. Dưới đây là mấy loại sáo đã được cụ Hoàng Yến nhắc tới trong Cầm Học tầm nguyên.
HOÀNG .- Hoàng là 1 ống sáo có cái lưỡi gà, khi thổi tiếng phát ra do cái lưỡi gà, và âm thanh trầm bồng tùy theo các lỗ sáo.
TIÊU.- Tiêu bằng trúc có sáu lỗ, năm lỗ ở mặt trớc và một lỗ ở sau.
Tục văn hiến thông khảo nói rằng ống Tiêu được chế ra từ đời nhà Minh, dài một thước chín tắc năm phân, tròn ba tấc, đầu ống khoét một lỗ gọi là Sơn khẩu.
Ống Tiêu ta hiện thổi bây giờ hình thức cũng vậy nhưng nhỏ và ngắn hơn.
ĐỊCH. - Địch có bảy lỗ tức là ống sáo ta thổi bây giờ.
QUẢN._ Nhạc khí này ta thường gọi lầm là Địch. Quản chế ra từ đời nhà Đường có bảy lỗ, được gọi là thất tinh quản, lại có một lỗ ở bên cạnh, lỗ này thường được dán lại bằng lụa ruột cây tre để cho tiếng reo lên, là trợ thanh. Ngày nay khi thồi sáo, ta thường lột lụa mo cau hoặc lụa củ hành mà dán lỗ này.
Trang sách 41CẦM CA VIỆT NAM TRÌ.- Trì giống như ống Địch có đáy, thổi ngang, sáu lỗ.
HUẤN. - Đây chính là cái còi bằng đất có 2 lỗ, một lỗ thổi hơi vào, một lỗ là lối hơi thoát ra tạo nên tiếng còi.
Cái Huân người xưa làm bằng đất to, như trứng gà, tròn năm tấc rưỡi, dài bạ tấc, sáu lỗ.
KÈN Kèn cũng là một nhạc khí mà âm thanh tạo nên do hơi thồi làm chuyển động không khi trong kèn. Kèn thường như một ống loa, trên thân kèn có những lỗ, số lỗ nhiều ít theo nhu cầu của âm thanh, mỗi lỗ có hai âm thanh cao và trầm.
Miệng kèn nhỏ như một tổ sâu, có cái lưỡi gà để tạo âm thanh. Kèn phải thổi dọc.
Xưa kèn chỉ thường được dùng trong việc tế lễ, nhất là tang lễ. Tang lễ có một loại kèn riêng gọi là kèn đám ma, thồi lên kêu tò te tí te, tiếng thật là buồn, nhất là đêm hôm, khi con cháu khóc người chết có đệm tiếng kèn thật là ảo não.
SINH TIỀN Đây cũng là một nhạc khí Việt Nam làm bằng hai thanh gỗ gắn vào nhau, trên mỗi thanh gỗ có lồng những đồng tiền đồng, do đó tên là sinh tiền.
Nhạc sĩ sử dụng sinh tiền đập mạnh, tiếng những
Trang sách 42TOAN ÁNH đồng tiền chạm vào nhau vang lên để tăng nhịp điệu cho bản nhạc được hòa âm bởi các nhạc khí khác. Các thanh niên chơi sinh tiền trong phường bát âm thường có những điệu bộ như điệu múa, và đôi mắt đưa theo những đồng tiền lên xuống va chạm vào nhau trông thật khả ái.
PHÁCH Phách làm bằng hai thanh tre dùng đề đánh vào nhau theo nhịp đàn và làm nhịp cho câu hát.
Các ả đào khi hát thường đánh phách.
BÁT Đây chính là chiếc bát lớn dùng để gỗ nhịp khi có ca hát đàn địch.
TRỐNG Trong các buổi tế lễ thường có tiếng trống và trống dùng trong những dịp này thường là thứ trống to.
Trống có nhiều loại, mỗi loại được dùng một cách riêng, có loại dùng một dùi trống, có loại dùng hai dùi trống, và có loại chỉ cần bàn tay vỗ vào mặt trống là phát ra âm thanh.
Trống bao giờ cũng hình ống có khi hai đầu và giữa bằng nhau, có khi ở giữa khum khum, hai đầu nhỏ hơn. Trống có hai phần :
Trang sách 43CẦM CA VIỆT NAM Thành trống.- thường bằng gỗ, - đây là tôi nói riêng về trống Việt Nam, - những trống phương tây ngày nay du nhập vào nước ta, thành bằng kim khi. Thành trống thường rỗng giữa.
Mặt trống.- Ở hai đầu thành trống, được bịt bằng da, ta thường dùng da trâu. Hai đầu bịt này là hai mặt trống.
Đánh trống phải có dùi, dùi to nhỏ tùy theo loại trống.
TRỐNG CÁI.- Đấy là loại trống đại, thường đình làng nào cũng có. Trống này bề cao có khi tới hai thước và mặt trống có khi rộng tới một thước. Trống dùng để điểm vào trong các cuộc tế lễ, cùng đi với tiếng chiêng.
Trong những đám rước, trống cái phải có hai người khiêng và một người thứ ba đánh trống.
Những khi làng có hát thờ thần, thường có một vị chức sắc ngồi cầm chầu đánh trống, mỗi khi có điều gì đáng khen lại đánh một tiếng trống.
Trong đám tang cũng có khi có trống cái, trống đánh nhát gừng tiếng một dẫn đầu cho đám tang.
TRỐNG CƠM.— Trống cơm là một loại trống hoàn toàn Việt Nam, mình dài và nhỏ, khi đánh trống không dùng đến dùi mà dùng hai bàn tay vỗ vào hai mặt trống. Trên hai mặt trống, lúc chơi thường có hai nắm cơm nếp nhỏ, có lẽ do hai nắm
Trang sách 44TOAN ANH cơm nếp này mà trống được mang tên là trống cơm.
Cũng có nơi «như làng Đình Bảng, làng Phù Đồng, tỉnh Bắc Ninh chẳng hạn, nhạc công lại không bao giờ đính cơm nếp lên mặt trống, họ chỉ đề nguyên da trống như vậy trong lúc biều diễn mà thôi.» (1) Trống cơm được coi là một nhạc cụ cần thiết trong các phường nhạc bình dân. Từ những bản nhạc dạo hành khi rước thần hoặc đưa ma đến những đám hát chèo ta đều nghe có tiếng trống cơm, và bao giờ tiếng trống cơm cũng giữ nhịp cho điệu nhạc.
Tiếng trống cơm nghe cũng đặc biệt, bùng bập bùng, không trong lanh lảnh và cũng không trầm như chìm xuống. Tiết điệu trống cơm thật là phong phú và cách biểu diễn tiết tấu cũng rất tài tình.
Tiếng trống cơm với tất cả những âm thanh trầm bồng như nặng hồn dân tộc bên trong.
TRỐNG BƯNG.- Có ai đã dự một cuộc thi vật ở các hội quê miền Bắc chưa ? Và có ai đã dự một buổi đánh cờ bơi hoặc đánh cờ người trên sân khấu chưa ? Đã dự những cuộc này, ắt phải để ý tới một người cầm một chiếc trống nhỏ có cán đi sát các đấu thủ gỡ lên những, tiếng tong tong tong để khuyến khích các đô vật hoặc thúc dục các kỳ thủ khi cuộc vật đi vào lúc gay cấn hoặc khi các kỳ thủ đang nghĩ (1) Nguyễn tiến Chiêu.- Trống cơm. - Bách khoa số 67, đề ngày 15-10-1959
Trang sách 45CẦM CA VIỆT NAM nước cờ. Tiếng trống thúc dục này đánh trên trống bưng. Có lễ gọi như vậy vì người sử dụng phải bưng chiếc trống trên tay, mặc dầu bưng đây không đúng hắn nghĩa, vì trống được cầm bằng một chiếc cán ở tay trái, còn tay phải cầm dùi trống đánh vào mặt trống.
Trong các buổi cúng lễ của các pháp sư đạo Lão, ngoài tiếng tiu, tiếng cảnh cũng có tiếng trống bưng. Trống bưng còn được gọi là trống khẩu.
TRỐNG ẾCH.— Đây là một thứ trống của trẻ em chơi. Ở nhà quê, khi ăn thịt ếch, người ta lột da, và có người dùng da ếch bịt lên một ống tre, một khúc gỗ nhỏ khoét rỗng, phơi khô cho trẻ em chơi làm trống gọi là trống ếch. Danh từ trống ếch về sau được dùng để chỉ loại trống nhỏ, mặt cũng bịt bằng da trâu, dùng cho các trẻ em chơi trong những khi chơi tế lễ rước xách, nhất là khi có múa sư tử vào dịp Trung thu ở miền Bắc.
Hồi năm 1945, khi Việt Minh nắm chính quyền tại các xã, họ đã tổ chức những đoàn nhi đồng và các đoàn này đã đánh trống ếch đi rước khắp làng tuyên truyền cho họ. Hòi đó, nhiều người chỉ nghe tiếng trống ếch là đủ sợ, tiếng trống ếch làm họ liên tưởng tới mọi sự giết chóc họ đã được chứng kiến.
TRỐNG BẢN.- Những phường nhạc đám tang có một loại trống riêng thành rất thấp độ hai tấc rưỡi ta, nhưng mặt lại rất rộng, đường kính trên
Trang sách 46TOAN ÁNH tám tấc. Tiếng trống nghe trầm và rất ăn với tiếng kèn. Trống này gọi là trống bản, và nôm na hơn người ta gọi là trống đám ma.
Trống Bản cũng như trống Cơm, khi sử dụng nhạc công phải dùng dây đeo qua vai và đề trống phía trước mặt và đánh trống có hai dùi.
TRỐNG NGŨ BỘ. - Trống này giống như chiếc trống cái nhưng khuôn khổ nhỏ hơn, thành trống cao độ nửa thước, và. mặt trống đường kinh bằng hai phần ba thành trống.
Không hiểu tại sao lại gọi là trống ngũ bộ?
Phải chăng trống này hòa cùng với tiếng nạo bạt đánh lên dịp năm, như phường trống ở làng Thị Càu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh. Phường trống này thường gồm bốn người, hai người đánh trống và hai người chơi nạo bạt, mà người dân quê quen gọi là chũm chọe, vì nạo hạt gồm hai mãnh bằng đồng hình tròn có núm, khi chơi đem hai mặt đánh vào nhau.
Trong những cuộc tế lễ hay rước xách ở làng Thị Càu ngoài phường bát âm, có thêm phường trống này. Tiếng trống nghe dịp năm tung. tung cắc tung tung, hòa với tiếng chũm chọe ăn theo thành những tiếng dịch dinh dinh choe.
Nhạc công chơi trống cũng dùng quai, nhưng lại đeo thông ngang vai, đề trống ở mẻ cạnh sườn.
Đánh trống cũng phải dùng hai dùi.
Trang sách 47CẦM CA VIỆT NAM Tại các nhà cô đầu, trống dùng đề đánh chầu đệm theo câu hát, điệu đàn, tiếng phách là loại trống hình thể giống trống ngũ bộ, chỉ khác khi đảnh trống, quan viên thường bịt mặt trống để tiếng trống nghe tom tom thay vì tung tung.
Ngoài mấy loại trống kể trên, còn nhiều trống khác như trống bỏi, trống thầy cúng v. v...
Đàn, nhị, sáo, sênh phách, kèn trống là những nhạc khí chính, thường ai cũng rõ, nhưng còn nhiều nhạc khị khác chỉ những người sử dụng mới hiều như tiu, cảnh, lệnh, mỗ, cồng, khánh v. v...
Tiu là một nhạc khí bằng đồng hình như cái bát, các thầy cúng thường đánh với cảnh tiếng nghe cheng cheng.
Cảnh cũng là một nhạc khí bằng đồng, gõ lên tiếng kêu cũng cheng cheng. Cảnh hình tròn vòng trong nỗi cao hơn vòng ngoài. Khi sử dụng thầy cúng dùng một chiếc dùi nhỏ gõ vào nơi vòng trong. Ở vòng ngoài, tức là vành cảnh có ba lỗ xỏ dây để mắc vào một chiếc khung tròn bằng sắt hoặc bằng đồng, chiếc khung này có cán. Lúc gỗ cảnh, thầy cúng gõ thành những tiếng chập cheng, muốn tạo nên tiếng chập, thầy đưa tay giữ lấy chiếc cảnh.
Tiếng cảnh hòa với tiếng ê a đọc kinh hoặc đọc sở của thầy củng.
Lệnh là một nhạc khí bằng đồng dầy vào khoảng
Trang sách 48TOAN ÁNH 5 ly ngày nay, hình tròn đường kính độ 20 phân tây, khi gỗ lên, tiếng kêu beng beng. Lệnh thường được dùng tại các làng quê để triệu tập những phiên họp của quan viên tại đình làng. Lệnh có một lỗ ở mép đề xỏ dây vào, người đánh lệnh xách lệnh lên bằng dây này và gõ vào bằng một chiếc dùi.
Mõ bằng gỗ hoặc bằng gốc tre, tạo nên những tiếng cốc cốc.
Cồng bằng đồng, hình tròn, ở giữa có núm tròn lồi lên, người ta dùng dùi đánh vào núm tròn này, vang lên những boong boong. Chung quanh công có vành cao độ ba bốn phân tây, hoặc ít nhiều hơn tùy theo cồng to hay nhỏ.
Khánh bằng đá hoặc bằng sành, gỗ vào phát ra những tiếng coong coong.
Còn nhiều nhạc khi mà rất tiếc với kiến thức nông hẹp, người viết không đủ hiều để diễn tả, hoặc không biết đề nói tới được.
NHẠC Ở VIỆT NAM Đã nói về cầm với các nhạc khí, chúng tối thấy cũng nên nhắc qua tới các loại nhạc ở Việt Nam, - Ở đây chúng tôi xin phép chỉ nói tới cổ nhạc.
Theo những nhạc khí, theo hoàn cảnh xã hội và qua sự trình bày của các phường nhạc, nhạc Việt Nạm có thể chia làm hai loại: nhạc lễ và nhạc tiêu khiên.
Trang sách 49CẦM CA VIỆT NAM NHẠC LÊ Nhạc là một cái gì màu nhiệm thiêng liêng và người xưa cho rằng chỉ những thiên tài mới chế được ca nhạc, và do đó phương Đông chúng ta lại quan niệm rằng nhạc là sự điều hòa giữa trời đất và nhạc hay cùng hòa chung với trời đất.
Nhạc lại có thể cảm lòng người và thay đổi được phong tục. Lễ nghi không có nhạc thiếu vẻ trang nghiêm, và đề giữ gìn mỹ lục, để bảo tồn lễ nghi, người xưa dùng nhạc trong các buổi tế lễ.
Nước Tàu về thời cổ vua chúa đặt ra nhạc phủ để trông coi việc tế tự và dạy bọn nhạc công (1).
Chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, ngay từ ngày xưa, các vua chúa Việt Nam cũng dùng nhạc trong các cuộc tế lễ, và dần về sau trong các cuộc tế lễ tại các đình miếu, từ đường ở các vùng nông thôn Việt Nam, hoặc trong các đám ma, đám rước thần người ta có sử dụng các hội tiêu nhạc (2).
Về đời nhà Lê, vụa Lê Thánh Tôn đã sai các quan triều thần nghiên cứu âm nhạc Trung quốc, đặt ra bộ Đồng Văn chuyên tập âm luật đề hoa nhạc và bộ Nhã Nhạc chuyên dùng nhân thanh để xướng hát (3). Hai bộ này được sử dụng vào các lễ (1) Đỗ bằng Đoàn, Đỗ trọng Huề.- Việt Nam ca trủ biến khảo trang 23. (2) Thạc nhân.- Tài liệu đã dẫn. (3) Đào duy Anh.- Việt Nam Văn Hoa Sử Cương.
Trang sách 50TOAN ÁNH tế Giao Miếu và lễ triều hạ.
Rồi đến đời Lê Trung Hưng, các chúa Trịnh lại có đội bả lệnh dùng trong việc tang tế trong phủ Chúa cũng như ngoài dân gian.
Từ đời Quang Hưng (1578), nhạc khí dùng cho, bộ Đồng văn và Nhã nhạc gồm một trống ngưỡng. thiên lớn, một kèn trúc lớn, một long sinh long phách (sinh tiền và phách có hình rồng), một cây đàn ba, bốn hoặc mười lăm dây, một ống sáo và một trống mảnh một mặt. Nhạc khi dùng "cho đội bả lệnh gồm trống, mõ, trống tiến bông, kèn đại, kèn tiểu và kèn tổ sâu.
Hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc từ đời này thường ít dùng đến, và về sau trong các cuộc tế lễ Giao miếu và lễ triều hạ, cũng như trong các buổi tế thần của dân gian người ta đều dùng nhạc của giáo phường, tức là thứ nhạc dân gian. Nhạc này ngày càng biến hóa, và bộ nhạc gồm một cái nhịp dài bằng tre, do một mụ già gỡ nhịp, một cái ống sáo, một cái quyển nhị, một cái trống cơm, một cái đàn đáy, mỗi người kép cầm một cái, còn đào thì cầm một cái phách, một cái sinh tiền, hoặc một cải trống mảnh một mặt dùng khi vừa hát vừa múa. (1) Ở miền Nam, âm nhạc của ta từ khi chúa Nguyễn vào khai thác, đã chịu ảnh hưởng âm nhạc Chiêm Thành và đã tạo nên những khúc nhạc cung (1) Đào duy Anh.- Sách đã dẫn.
Trang sách 51• CẦM CA VIỆT NAM Nam trầm bi oán vọng, khác vởi những khúc nhạc linh hoạt cung Bắc. Nhạc miền Nam ngày càng phong phú thịnh vượng hơn, so với nhạc miền Bắc ngày một suy. Nhà vụa có đội nhạc Thánh dùng trong việc tế tự, gồm những tay giỏi nhạc trong nước, sử dụng các nhạc khí cũng giống như miền Bắc, gọi là Đường ngoài.
Tới ngày nay, nhạc lễ cũng thay đổi nhiều, và trong các buổi tế lễ chỉ dùng những bạn nhạc thu hẹp thường gọi là phường bát âm với các nhạc khí : nao, bạt, bát, sinh tiền, kèn, trống nhỏ, đàn, nhị, sáo, một vài thứ đàn. Có phường có tám nhạc khi, có phường chỉ có năm sáu. Về đàn thì có khi là đàn nhật, có khi là đàn nguyệt, có khi là đàn tranh hoặc một thứ đàn khác, có khi hai ba thứ đàn.
Các bản nhạc dùng tới vui buồn thay đổi tùy trường hợp tế tự hoặc tang lễ.
Nói đến nhạc lễ cũng phải kể tới những buổi cầu đồng, hầu bóng lại các miếu điện vùng quê, mà ở đây có thầy cung văn vừa đàn vừa ca những bản chầu văn với mục đích để đồng sớm nhập.
Trong những đám rước thần ở thôn quê bao giờ cũng có ban nhạc tham dự, không kể trống đầu đám rước. chiêng đi theo cờ tiết mao trên Ban nhạc gồm cả phường đồng văn lẫn phường bát âm. Phường đồng văn đi sau voi ngựa và đoàn chấp kích, thường gồm một người cầm trống khẩu, người này đứng đầu gọi là cai đồng văn, một người
Trang sách 52TOAN ÁNH cầm thanh la, hai người cầm sinh tiền, bảy hoặc tám người đánh trống bản. Có làng lại có thêm hai đứa con trai, ăn mặc giả gái, mỗi đứa đeo một cái trống cơm, gọi là con đĩ đánh bồng.
Phường đông văn này, hễ trống khẩu, thanh la, sinh tiền khởi lên thì trống bản họa lại. Hai con đĩ đánh bồng vừa đập trống vừa múa nhịp nhàng theo khúc điệu của những bán nhạc.
Phường bát âm đi sau phường đồng văn, hai phường cách nhau bởi cờ vía và gươm dàn mặt (1).
Phường bát âm thường gồm tám nhạc khí đã trình bày ở trên.
Tuy gọi là phường đồng văn và phường bát âm, nhưng thường là dân đinh trong làng, ít khi các làng xã phải nhờ đến những phường chuyên nghiệp. Các thanh niên trong làng, trong lúc mùa màng nhàn rỗi thường cùng nhau tập luyện âm nhạc trước là để tiêu khiền sau là giúp dân làng trong những cuộc tế lễ rước xách. Những chàng trai quê thường rất lấy làm hãnh diện được tham dự ban nhạc, nhất là phường bát âm trong những buổi tế thần cũng như trong khi đi rước. Trong những dịp này, các chàng trai được các cô gái làng chú ý. Các chàng cố đàn cho hay, sáo cho giỏi... (1) Về nghi trượng đám rước, thứ tự cơ quạt đàn kiệu trống chiêng v. v... xin xem Tín Ngưỡng Việt Nam quyền thượng trang 177 - 181. Nam chi tùng thư.
Trang sách 53CẦM_CA VIỆT NAM NHẠC TIÊU KHIỂN Ngoài các buổi tế lễ, người ta còn dùng nhạc.
để tiêu khiển mua vui cùng nhau. Năm ba bạn trẻ, có khi do một người nhiều tuổi đứng đầu họp thành một ban nhạc, để cùng nhau luyện các bản nhạc và hòa tấu với nhau những khi gió sớm, lúc trăng chiều. Cũng có những người với một nhạc cụ, một cây đàn nhật hoặc cây đàn nguyệt, một cây nhị hoặc cây đàn bầu, khi nhàn rỗi vừa đàn vừa hát những bản nhạc mình ưa thích. Những lúc thư nhàn, hoặc khi đêm khuya thanh vắng buồn bã một mình, thì mượn tiếng đàn làm tiếng giải muộn.
Hoặc đàn nguyệt, đàn thập lục dạo một vài câu lưu thủy, hoặc gảy chơi một câu tứ đại, nam ai v. v...
Tiếng đàn thánh tha thánh thót, ti tỉ như dẽ kêu sầu cũng đủ tả tấm lòng ngao ngán. (1) Đem tâm tư gởi vào khúc nhạc, dùng nhạc để quên nỗi u buồn, dụng nhạc để nói lên niềm vui, nhạc thật là một thú tiêu khiển thanh cao tao nhã.
Trong các ban nhạc họp nhau để mua vui tiêu khiển các loại nhạc khí được dùng thường là : đàn kìm, đàn nguyệt, đàn tranh, hồ cầm, sinh tiền, sáo, tiêu và trống nhỏ ; và các ban nhạc tài tử này cùng nhau hòa những bản nhạc thông dụng và được nhạc giới công nhận là có giả trị. Trong (1) Phan kế Bính.- Việt Nam, phong tục, Đồng Dương tạp chí 1914, 1915
Trang sách 54TOAN ÁNH các bản nhạc này, thường được phần chia thành hai loại : bản Bắc và bản Nam tức là những khúc nhạc cung Bắc và cung Nam như trên đã nhắc tới.
Nhạc cung Bắc.- Đây là những bản nhạc linh hoạt, một phần phóng tác theo nhạc Trung hoa, nhưng xoang điệu mang sắc thái Việt Nam. Thực ra cũng có những bản gốc Trung hoa, cũng có những bản gốc Việt Nam, ngày nay lẫn lộn, khó mà phân biệt. Mấy bản cung Bắc chính có thề kể:
Cổ bản : Một bản nhạc cô rất nhiều xoang điệu.
Nhạc nghe êm tai, nhưng nội dung không, rõ là gì.
Lưu thủy : Lưu thủy là nước chảy. Bản nhạc gầy cho thính giả một cảm giác êm ái, điệu nhạc như trầm lặng nhưng nhanh nhanh và buồn buồn.
Hành vân : Hành vân là mây bay. Qua hai chữ hành vân ta hình dung đám mây trôi xa xa giữa bàu trời xanh ngắt. Nghe bản nhạc hành vân, ta cảm thấy nhè nhẹ, êm êm, thanh thản.
Kịm tiền: Bản nhạc gọi theo tên nhạc khí, kim tiền tức là sinh tiền dùng đề đập nhịp. Nội dung và xoang điệu bản nhạc đi rất mạnh. Nghe bản nhạc, thính giá cảm thấy cái gì hăng hái, say sưa, mạnh mẽ. Trái hẳn với xoang điệu thanh thản của các bán lưu thủy, hành vân, xoang điệu bản kim tiền đi nhanh, dồn dập, réo rắt, hùng mạnh.
Bình bán : Bán này dung hợp cái chậm rãi và cái dồn dập của hat bản lưu thủy và kim tiền, xoang
Trang sách 55CẦM CA VIỆT NAM điệu vừa mau vừa chậm, vừa trầm vừa hùng. Nội dung bản này có thể nói đoạn đầu là lưu thủy và đoạn sau là kim tiền.
Tẩu mã: Bản này diễn tả nhịp ngựa phi, do đó vừa dồn dập, vừa nhanh, vừa mạnh. Điệu tầu mã thường được sử dụng trong các vở tuồng với những vai anh hùng, tráng sĩ.
Tứ đại cảnh : Tứ đại cảnh là cảnh của bốn mùa Xuân, Hạ, Thụ, Đông trong một năm. Nội dung bản nhạc diễn tả cảnh sắc của bốn mùa. Bản nhạc này tuy được xếp vào các bán nhạc cung Bắc,. nhưng nhiều người cho rằng tác giá bán nhạc này là vua Tự Đức vì các lễ sau đây :
- Bán nhạc được phồ biến nhất nhiều ở Huế - Vua Tự Đức là một nhạc sĩ có tài lại có tâm hồn nghệ sĩ, đàn giỏi, thơ hay.
Trên đây là những bản nhạc cung Bắc chính, ngoài ra cũng còn những bản khác như Phú lục, như những bản cổ của người Trung Hoa v.v...
Nhạ: cung Nam.- Đây là những bản nhạc sản xuất ở miền Nam từ thời chúa Nguyễn, chịu ảnh hưởng rất nhiều các nhạc khúc Chiêm Thành.
Từ nhạc thường buồn oán bi sầu, nhưng rất có giá trị. Dưới đây là các bản chỉnh và luộn luôn được cầm giới sử dung :
Nam ai : Nam ai là thương Nam, xót Nam. Đây
Trang sách 56TOAN ÁNH là bản nhạc buồn nhất, ai oán nhất trong các bản nhạc cung Nam.
Với bản nhạc Nam ai, rất nhiều nhạc sĩ, thi sĩ đặt lời ca, tùy theo hoàn cảnh cảm súc và ý nghĩa của từng người. Thường bản ca Nam ai có ba vần tạo thành ba khổ. Dưới đây là một thí dụ:
Khuyên ai gắn bó báo đền công trình thày mẹ Ấn nặng nhường sông, nghĩa chất non cao Ơn cúc dục cù lao, Sinh thành lo sợ xiết bao, Lo cơm bữa nhường nao, Ăm bồng ra vào.
Nâng niu, bú mớm đêm ngày xem tày vàng ngọc, Hay chạy, hay đi, lúc nắng, lúc mưa.
Từ xưa đến giờ.
Lúc hãy còn thơ, Đến bây giờ, Chịn nhuốc nhợ, Biết bao nhiêu mà !
Tróng năm trọn ngày qua.
Da mồi, tóc bạc, mày xa, Khuyên trong cõi người ta, Thảo ngay mới là !
Xoang điệu của bản Nam ai chậm chậm để
Trang sách 57CẦM CA VIỆT NAM diễn tả nỗi buồn thảm cực độ, do ảnh hưởng của Chiêm Thành.
Nam thương : Nam thương nghĩa là buồn nam, mến nam. Đây là một bản nhạc cổ điệu buồn nhưng không buồn bằng Nam ai. Bản nhạc cũng chịu ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành, xoang điệu đi chậm nhưng một vài chỗ âm thanh có vẻ réo rắt, hàm ý thương tiếc nhớ nhung, đau khổ buồn buồn.
Nam xuân : Đây là một bản nhạc ít buồn và có đượm cái vui, tuy cái vui vẫn như thể bị cái buồn nối tiếp. Phải chăng đây là cái buồn truyền kiếp của một quốc gia đã bị diệt vong mà ảnh hưởng ăn vào âm nhạc của Việt Nam. Xoang điệu bản nhạc tuy buồn nhưng có nhiều nét thướt tha duyên dáng, cái thướt tha duyên dáng của hình bóng cô gái Chàm đi lả lướt trên bóng chiều.
Nam bình : Đây là một bản nhạc không buồn không vui, âm thanh đi đều đều. Có thể nói đây là một bản nhạc cung Nam được hòa hợp bởi ba bản Nam ai, Nam thương và Nam Xuân cho nên nội dung pha lẫn buồn vui, nhưng cái buồn vẫn nhiều hơn.
Bốn bản nhạc trên, tuy nhạc chỉ có một bản, nhưng mỗi bản lại được phổ thành nhiều ca khúc bởi nhiều tác giả, mỗi ca khúc nội dung khác nhau tùy cảm hứng của từng tác giả.
Trang sách 58TOAN ÁNH Xét qua tất cả các bản nhạc cung Bắc và cnng Nam, ta thấy số các bản nhạc không thay đổi mấy qua thời gian, nhất là rất ít cỏ bản mới. Các nhạc sĩ Việt Nam ta xưa cho rằng trách nhiệm của mình là học cho đủ những xoang điệu cũ, chứ không dám đặt ra những xoang điệu mới, thậm chi có người cho rằng những tiếng dăm thêm của một vài tài tử trẻ tuổi là do tính hiếu kỳ (1) Với quan niệm trên ta đừng lấy làm lạ khi vấn đề sáng tác nhạc của ta xưa rất là hạn chế.
Từ mấy chục năm nay, vì ảnh hưởng nhạc Tây phương, nhạc Việt Nam cũng có đôi sự thay đồi. Người ta đua nhau chơi tân nhạc, xa rời cổ nhạc. Cái thủ phong lưu này của người xưa đã biến cải, và dường như những người ở chốn thị thành, những người tự cho mình là trí thức không lưu ý tới nền cô nhạc, chỉ đua đòi học theo tân nhạc. Phải chăng đấy là một sự tiến bộ, hay đấy chỉ là một hiện trạng gốc rễ bị lung lay.
Đã đành rằng với thời đại mới, người ta không thề cứ bo bo theo cũ, nhưng theo mới không bỏ • cũ, dùng mới đề cải tiến cũ, đề dung hòa cũ, có như vậy mới mong giữ vững được cội rễ của văn hỏa.
Nhạc Việt Nam không phải dở, đã có những người ngoại quốc tán thưởng, thì tại sao chính ta, ta không chấn chỉnh lấy nền nhạc nước nhà? (1) Đào duy Anh._ Tài liệu đã dẫn.
Trang sách 59đàn Nguyệt
Trang sách 60ống Tiêu ống Địch ống Quản ống Hoàng ống Từ ống Thược ổng Huân
Trang sách 61đàn Nhụt đàn Sắt vẻ theo thức đàn lễ khí để tại Tàn Thư Viện Huế đàn Tranh Him
Trang sách 62đàn Bàu đàn Cầm
Trang sách 63đàn Tam đàn Cầm Nam đàn Tỳ Bà đàn Đáy
Trang sách 64Tài liệu đạc thêm ÂM NHẠC XỨ THƯỢNG Âm nhạc của người Thượng rất đơn giản thường là kết hợp bởi những âm thanh man dại của núi rừng.
Sống trong vị trí cách biệt hẳn mọi giao tiếp đổi thay của thế giới bên ngoài âm nhạc cũng như văn hóa của người Thượng ít bị ảnh hưởng ngoại lai mà vẫn giữ bản chất nguyên vẹn buồi ban đầu. Những bài ca của người Thượng thường là những điệu hát thần thoại được kết dệt tự ngàn xưa, hoặc đề kết lại nguồn gốc của bộ lạc, ca ngợi đời sống anh hùng của những từ trưởng can đảm, hay để mơ tưởng một cuộc sống thanh bình sung túc, hoặc ca tụng những mối tình thơ mộng của núi rừng.
Những lời ca đó không được ghi chép bằng văn từ mà chỉ được lưu truyền qua cửa miệng của loài người trải qua nhiều thế hệ.
Âm điệu của những bài hát rất đơn sơ, chất phác mô phỏng tiếng nói của núi rừng: Tiếng gió lách qua chòm
Trang sách 65CẦM CA VIỆT NAM lá, tiếng chim hót, tiếng suỗi reo, tiếng thác đồ rạt rào...
Tất cả những âm thanh kết hợp thành nhịp điệu chỉ phối hình thức diễn tả. Do đó âm điệu của những bài ca miền núi thường thường trầm trầm nhẹ nhẹ như gió thoảng như thác không có những âm thanh cao vút hay dồn dập rộn ràng.
Nhạc cụ :
Nhạc cự dùng phụ họa cho lời ca cũng để diễn tả những âm điệu mô phỏng của thiên nhiên với những tiếng ngân nhỏ nhẹ trầm buồn như tiếng thì thào của tâm hồn những người sơn cước.
Người Bahnar, Sédang hay chơi một loại đàn bầu giản dị. Ta gọi là đàn bầu vì đàn bên dưới làm bằng một quả bầu khô, cán đàn là một ống tre nhỏ, bên trên cắm 12 cái chốt để cột dây đàn. Dây đàn ngày trước làm bằng sợi dây gấc nên tiếng trầm và nhỏ, ngày nay thay thế bằng những sợi thép của dây điện thoại. Những sợi dây đàn được cột dài ngắn theo thứ tự vào những chốt trên cán đàn đối với thân bầu. Những sợi dài cho âm trầm, những sợi ngắn cho âm cao, tiếng rung của dây đàn sẽ được chuyền vào quả bầu và phát ra những âm thanh trầm trầm nho nhỏ. Muốn nghe đàn phải đứng rất gần người đánh đàn vì tiếng nhẹ như gió thoảng.
Người Sédang cũng thường thổi một loại ống sáo có 6 lỗ, thổi bằng cách nhậm vào một dàn ống. Ống sáo này cũng phát ra những tiếng nho nhỏ buồn buồn. Những thiếu nữ Bahnar thường chơi loại đàn ống. Nếu một hay hai
Trang sách 66TOAN ÁNH người chơi thì đàn gồm có 8 ống, nếu nhiều người cùng đàn có thể nhiều ống hơn. Những ống này làm bằng thân cây lồ ô đã thông mắt, các ống dài ngắn khác nhau. Những ống dài cho âm trầm, những ống ngắn cho âm bổng. Muốn đàn người ta gác dọc những ống này trên hai thanh tre nằm ngang trên mặt đất, ống dài nhất ở bên phải rồi theo thứ tự đến ống ngắn nhất bên trải. Nếu chỉ một người chơi đàn thì người này phải quì ngồi ngay dưới đất ở giữa các ống đàn, dùng hai tay vỗ vào nhau để phát ra hơi gió ở trước mỗi ống, hơi gió luồn vào trong ống, chạm vào thành ống tạo nên tiếng ngân rồi thoát ra thành một âm ở đầu kia của ống. Người đánh đàn phải thuộc âm điệu của từng ống, mỗi ống cho một âm khác nhau, nhưng người chơi đàn có thề đánh những bán âm bằng cách vỗ ở giữa hai ống gần nhau, hơi gió sẽ chia vào hai ống và phát ra một âm trung bình giữa hai âm. Thường bao giờ cũng có một người ngồi ở phía dưới đối diện đề đánh nhịp. Người đánh nhịp chỉ vỗ vào ống có âm trầm thứ nhì, ống này được kê cho cao phía bên người đánh nhịp. Tiếng đàn này rất ấm và trầm, thoang thoảng âm vang hòa điệu với những bài ca âm điệu hiền lành.
Người Rhadé, người Stieng, người Khatu ở Quảng trị có một loại kèn ghép bằng nhiều ống hóp nhỏ theo thứ tự cao thấp như hình bậc thang, tiếng kèn có những âm thanh đều đều có vẻ man dại và buồn.
Người Thượng ở miền Nam Cao nguyên lại còn có một loại đàn ghép bằng hai thanh tre hay gỗ chuốc mỏng,
Trang sách 67CẦM CA VIỆT NAM tùy theo độ mỏng hay dầy, mỗi thanh tre cho một âm thanh khác nhau. Những thanh này được nối lại với nhau bằng hai sợi giây song song. Người chơi đàn cầm một thanh tre hay gỗ mỏng khác gõ vào đàn.
Có nơi loại đàn này biến đổi thành hai hình thức khác nhau, người ta không ghép những thanh tre lại đề cầm mà đàn nhựng lại gác chúng lên trên miệng một đường mương nhỏ rồi dùng cây gõ lên những thanh tre đó sẽ có được những âm thanh trong trẻo và nhẹ.
Ngoài những loại đàn và kèn đặc biệt của đồng bào Thượng thay đồi cho từng bộ lạc, ta còn thấy đồng bào Thượng có một nhạc cụ thông dụng cho mọi nơi đó là những chiếc goồng và trống. Goồng hay chiêng và trống gồm có nhiều loại lớn bé khác nhau, đánh gồng gióng trống cho hòa hợp là cả một nghệ thuật, người Thượng thường sử dụng các loại nhạc khí sau này vào những lúc có lễ lạc tế tự long trọng.
Người Thượng cũng có những vũ khúc bình dị, bình dị như âm nhạc và tâm hồn của họ. Vũ điệu thường đơn giản ít động tác và nhẹ nhàng hòa hợp với lời ca tiếng nhạc. Họ rất thích ca hát nhất là các cô thiếu nữ, lời ca ngân nga đều đều như không bao giờ thay đồi.
Ngày nay xen lẫn với những điệu ca cổ truyền, người Thượng cũng đã biết hát những bản nhạc cải cách của Phạm Duy, Nguyễn văn Đông... Vào một vài buôn Thượng, thỉnh thoảng chúng ta được nghe điệu nhạc trầm buồn, vi vu qua tiếng đàn ống lẫn lộn với những âm thanh dồn dập như thánh thót của Tây Ban Cầm.
CỬU LONG GIANG và TOAN ÁNH (Miền Thượng Cao Nguyên)
Trang sách 68CA HÁT Trước khi nói tới kỳ, cải thủ phong lưu thứ hai của ta sau cầm, lỏi nghĩ cần nói tới ca hát trước.
Có dàn thi có hát, có câm thì có ca; đàn giữ dịp cho câa hát. hát trợ hứng cho cung đàn, và cổ nhân thường nói thú cầm ca để gồm cả đàn lẫn hát.
Tiếng nói của ta rất nhiều giọng, cho nén câu nói nyên chuyền bổng chim rất dễ biến thành câu hát (1) Ta hay hát vào những lúc nào ?
Ta thường ca hát khi cảm hứng nổi lên muốn đem lâm tư gửi vào giọng hát, hoặc cũng có khi vì uất hận muốn gởi nỗi niềm bực tức vào câu ca.
Ngoài ra trước một cảnh đẹp hoặc trong khi làm một còng việc nặng nhọc, đề thông cảm với vẻ đẹp thiên nhiên hoặc để cho công việc bớt mệt nhọc ta cũng ca hát. Bởi thế cho nên người nhà (1) Đào Duy Anh.- Việt Nam văn hóa sử cương.
Trang sách 69CẦM CA VIỆT NAM quê khi làm việc hoặc khi vui chơi hay hát lắm.
Đứa trẻ chăn trâu, buổi chiều cho trâu về, hoặc cỡi trên cổ, hoặc nằm trên lưng trâu, nhẹ nhàng cất tiếng hát rồi năm mười đứa khác cũng họa theo.
Những đàn ông, đàn bà cấy lúa, cắt lúa, làm cỏ hay tát nước ở dưới trăng hoặc ban đêm đập lúa, giã gạo, cũng theo nhịp nhàng tay chân mà hát để quên mệt. Trên các sông, nhất là trên sông Hương ở Huế, giữa đêm khuya thường được nghe một chị lái đò ở xa xa cất tiếng lanh lảnh hỏ « mái nhì » hay hỏ « mái đẩy », giọng thực não nùng tê tái.
Những người kéo gỗ trên sông, những lũ kéo chài dưới biển, cũng thưởng dùng tiếng « hồ khoan», «dô ta» để làm cho rập tay chân: Ở Bắc Việt, những đêm sáng trăng, nhất là đêm rằm tháng tám, con trai, con gái trong làng thường họp nhau để hát đổi hạy hát trống quân ... xem thể thì ta thấy rằng người nhà quê ta rất thích hát. (1) Ta rất thích hát và hát cũng là một thú chơi thanh cao tao nhã không kém gì cầm kỳ thi họa.
Hát nghĩa là gì, và hát với ca có khác nhau không ?
Theo Đào đăng Vỹ trong Việt Nam Bách Khoa từ điển thì ca và hát cũng như nhau và có nghĩa là « Đưa giọng cao thấp lớn nhỏ và nhịp điệu để (1) Đào Duy Anh.- Sách đã dẫn.
Trang sách 70TOAN ÁNH đọc những câu văn câu thơ nghe cho êm dịu. Ca chỉ là ngân nga giọng cho hay, còn hát gồm cả ca mà có điệu bộ hoặc có làm tuồng: ca vọng cổ, ca nam ai, hát cải lương, hát bội, hát chèo cổ.
Nói về ca hát, Việt Nam có những giọng ca điệu hát chung của dân tộc, nhưng mỗi miền Bắc, Trung, Nam lại có những lối ca hát riêng, tuy có đôi khi giống nhau, nhưng sự giống nhau vẫn có điều khác biệt vì tinh tình con người mỗi địa phương tuy có đại đồng nhưng vẫn tiểu dị.
Các giọng ca hát của ta có thể phân biệt :
- Các giọng bình dân.
- Các giọng tri thức CÁC GIỌNG CA HÁT BÌNH DÂN Đây là những giọng ca hát do giới bình dân thường hát với nhau, hoặc được giới bình dân ưa chuộng thưởng thức.
Những câu hát dùng trong các giọng bình dân phần lớn là những câu ca dao nhưng khi đưa vào giọng hát đã hơi bị biến đổi trên hình thức tùy theo từng giọng.
Những giọng bình dân có giọng hát trong lúc làm việc để con người đỡ mệt như hát đò đưa, hò tát nước, hò kéo gỗ v. v... hoặc có tác dụng hẳn với việc làm như hát ru em. Bên những giọng hát trợ lực cho việc làm, có những giọng hát trao tình giữa trai gái, những giọng hát này riêng bọn nam
Trang sách 71CẦM CA VIỆT NAM nữ dùng đối đáp với nhau trong cuộc gặp gỡ khi làm việc, trong những đám hội hè hoặc trong những buổi hát thi hát đố.
ở miền Bắc về lối hát trao tinh này có ba giọng chỉnh : hát ví, hát quan họ, và hát trống quân.
Ở miền Trung có hát ví, hát dặm, hát các phường, hò. Ở miền Nam cũng cỏ những câu hò, lại có hát cải lương và vọng cổ.
Với những giọng hát này, lúc hát các trai gái xưởng họa đối đáp có thể có nhiều biến thể thành nhiều giọng khác.
Ngoài các giọng hát trong lúc làm việc và các giọng hát trao tình còn các giọng hát tôn giáo mà tiêu biểu nhất là giọng hát chầu văn ở miền Bắc.
Lối này cũng có thể coi là một lối hát nghề nghiệp của các ông cung văn, tức những người vừa đàn vừa hát trong các buổi hầu bóng. Hát vè cũng là một lối hát, dùng những câu vè để nói về một việc gì hoặc một vật gì.
Hát xẩm của những người bị mục tật đi hát rong làm kế sinh nhai cũng là một lối hát nghề nghiệp, ta thường gọi là xẩm chợ.
Hát tuồng, gọi là hát bội ở miền Trung, hát bội ở miền Nam cũng là hát nghề nghiệp, tuy nhiêu khi cũng có những ban hát tuồng tài tử.
Sau hết phải nói đến hát chèo, một lối hát diễn lại các tích cũ giống như hát tuồng, nhưng
Trang sách 72TOAN ÁNH với những giọng hát khác hắn và thiên về luân lý nhiều hơn.
Ngoài các giọng hát đã kể trên, tôi tưởng cũng không thể bỏ q qua được những câu hát của trẻ em, những câu hát được các em nhắc lại trong các trò chơi như Thả đỉa ba ba, Chi chi chành chành D.D...
Các giọng hát, trên bình diện khác nhau, nhưng phân nhiều nội dung câu hát không khác nhau.
NỘI DUNG CÂU HÁT Trước khi đi vào chi tiết của từng lối hát, chúng la thử xét qua nội dung của những câu hát.
Có những cân hát tả cảnh của đất trời:
Ngôi tựa mạn thuyền Trăng in mặt nước cùng nhìn non nước cang xinh Sơn thủy hữu tinh Thơ ngâm ngoài lái, rượu bình giải trí trong khoang Tay lựa cung đàn Tiếng can gieo giắt, tiếng trầm năn nỉ thiết tha. (Hát quan họ) Nhiều hơn là những câu hát nói lên tâm tình của yèn đương.
Hôm qua tát nước đầu đình Bỏ quên cái nón đưới cành hoa sen
Trang sách 73CẦM CA VIỆT NAM Bắt được cho chúng anh xin Hay là anh đề làm tin thì làm. (Ca dao) Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu Áo anh sứt chỉ từ lâu Muốn mượn cô ấy vào khâu cho cùng. (Ca dao) Cùng có những câu hát để tròng ghẹo lẫn nhau:
Trống quân có dĩa thịt bò Những anh không vợ đi mỏ cả đêm (Hát trống quân) Trống quân trống quít trống cỏi Ta chẳng lấy nó, nó đòi lấy ta Trống quân anh đánh dịp ba Lúc vào dịp bảy, lúc ra dịp mười. (Hát trống quân) Cũng có những câu hát để th á ch đố lẫn nhau :
Cái gì mà thấp, cái gì mà cao ?
Cái gì sáng tỏ như sao trên trời?
Cái gì anh trải em ngồi ?
Cái gì thơ thân ra chơi vườn đào? • Cái gì mà sắc hơn dao?
Cái gì phơi phới lòng đào hỡi anh?
Trang sách 74TOAN ÁNH Đã có cân thách đố, lẽ tất nhiên phải có câu trá lời :
Đất thấp ông trời cao Ngọn đèn sáng tỏ hơn sao trên trời Chiếu hoa em trải anh ngồi, Đêm nằm mơ tưởng ra chơi vườn đào Nước kia nó sắc hơn dao, Trứng gà phơi phới lòng đào em bảo anh' Giữa câu hát, trai gái rất nhiều câu khen tặng nhau :
Cô tay em trắng như ngà.
Con mắt em liếc như là dao cau, Miệng cười như thể hoa ngâu, Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Và các cô gái thường có những câu hát đắn đo :
Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
Thân em như đóa hoa tươi, Phải chăng chàng thật là người yêu hoa ?
Lại có những câu hát làm quen :
Lạ lùng tôi mới tới đây Lạ thung, lạ thổ tôi nay lạ nha Ba cô tôi lạ cả ba Bốn cô lạ bốn biết là quen ai Đến đây lạ cả bạn trai "
Lạ cả bạn gái biết ai mà chào ?
Bây giờ biết nói làm sao?
Trang sách 75CẦM CA VIỆT NAM Biết ai quen thuộc mà vào trình thưa Cô cả cô hai ơi ! (Hát ví) lên Cũng có những câu hát để trai gái nói những lý do yêu đương của mình, những câu hát này nhắc tới những điều đáng yêu của đôi bên.
Dưới đây là một câu để chàng trai trình bày cùng cô gái tại sao chàng đã yêu cô :
Một yêu tóc để đuồi gà, Hai yêu lời nói mặn mà có duyên;
Ba yêu má lúm đồng tiền, Bốn yêu răng lánh hạt huyền kém thua;
Năm yêu cô yếm đeo bùa, Sáu yêu nón thượng quai tua dịu dàng;
Bảy yêu nết ở khôn ngoan, Tám yêu ăn nói lại càng thêm xinh;
Chín yêu em ở một mình, Mười yêu con mắt hữu tình với ai.
Chàng trai đã yêu cô gái qua mười lý do. Ở đây tôi tưởng cần phải nói rõ về điềm thứ tư :
Ngày xưa, cho tới hồi tiền chiến, ở miền Bắc và phía Bắc miền Trung, ta có tục nhuộm răng đen, nhất là tại các vùng quê. Răng đen nhưng phải đen nhức như hạt huyền mới đẹp, hay ít ra cũng phải đen như hạt na già.
Những hàm răng không đủ đen, lại loang lỗ ta gọi là rằng cải mả thì dù người đẹp cũng giảm vẻ đẹp rất nhiều.
Trang sách 76TOAN ÁNH Có cân hát trèn để nói lèn mười điều đáng yêu của cô gái, cũng lại có câu hát mười yêu khác nói tới những điều chẳng đáng yêu của cô gái chút nào :
Một yêu em béo như bồ, Chân tay ngắn ngủi đít to như giành ;
Hai yêu mắt toẻt ba vành.
Đầu đuôi khóe mắt nhử xanh bảm dầy.
Ba yêu tới cặp mói dây, Mỗi khi ăn nói bầy nhày rãi ra.
Bốn yêu bộ mặt rỗ hoa, Lại thêm em có nước da mực tàu.
Năm yêu mái tóc trên đầu;
Hôi như tổ cú chấy bâu hàng dàn.
Sáu yêu tính khí ngang tàng, Bạ ai em cũng oang oang chửi liền.
Bảy yêu lời nói có duyên, Chua như mèo mửa xỏ xiên cả trời.
Tám yêu những lúc em cười, Trông xinh bằng mẹ đười ươi hiện hình.
Chín yêu dáng điệu hữu tinh, Đi đâu đổ quán xiêu đinh như chơi;
Mười yêu khi đứng lúc ngồi, Xở tràng trung tiện, sấm trời phải thua:
Thực ra câu hát trên chỉ là một câu hát để tròng ghẹo các cô gái, chứ ở đời đã mấy ai có đủ mười đức tính đáng quý như câu hát nêu ra.
Trang sách 77CẦM CA VIỆT NAM Những loại câu hát tương tự không phải hiếm, tại các địa phương thường có những câu hát khác nhau. Trong Phong lưu đồng ruộng, soạn giả đã có dịp nhắc tới một câu hát nói về Cô gái Sơn Tây yếm thủy tầy giần, với những điều cũng đáng nực cười không kém chi mười cái đáng yêu của cô gái trong câu hát trên.
Tóm lại các câu hát qua những giọng điệu tuy khác nhau nhưng nội dung không khác nhau bao nhiêu. Có câu hát dùng cho lối hát này lại dùng cả cho lối hát khác. Và phần nhiều những câu hát đều là những câu ca dao; không biết những người hát đã dùng ca dao đề hát hay chính những câu hát đã chuyền thành ca dao.
NHỮNG GIỌNG HÁT TRONG KHI LÀM VIỆC Người bình dân thường sống cuộc đời làm lụng vất vả, một nắng hai sương. Trong lúc làm lụng để quên mệt nhọc, họ thường dùng những câu hát để trợ lực cho mình và cũng là đề giải khuây cùng chúng bạn làm việc. Mỗi việc làm đều có giọng hát riêng, nhưng các giọng hát này đều có một điểm giống nhau là hát mà không có nhạc đệm.
Muốn hát, người lao động bình dân cử cất tiếng ca, cốt sao cho âm thanh êm ái, cao thấp cho nhịp
Trang sách 78TOAN ÁNH nhàng, dài ngắn cho ngân ngà, người nghe thấy êm dịu là khúc hát đã thành công.
Hát trong việc làm có nhiều giọng khác nhau bởi việc làm của mỗi người không giống nhau.
HÁT ĐÒ ĐƯA Hát đò đưa là giọng hát của các cô cậu lái đò lúc chở đò hát lên theo nhịp với cây chèo khua trên mặt nước.
Giọng hát đỏ đưa thường êm êm buồn buồn tạo cho người ta có một tâm trạng yếu đuối và dễ bị cảm dỗ. Câu hát dài ngắn không đều, nhưng giọng bao giờ cũng buồn như gió lướt.
Cha mẹ thường cấm con gái nghe giọng hát đò đưa, và ca dao cũng có câu :
Trai khôn tránh khỏi vợ thừa, Gái khôn tránh giọng đỏ đưa mới là !
Thực ra giọng hát đò đưa miền Bắc chỉ là một giọng hát huê tình, và các cô cậu lái đỏ trong khi chờ đợi đưa khách qua sông đề tâm hồn được thông cảm với nỗi niềm riêng thường hát lên. Các cô cậu hát thường không phải đề quyến rũ ai, mà cũng không phải hát cho một thính giả nào. Các cô cậu hát cho mình, nhưng cha mẹ các cô gái cứ luôn luôn dặn dò các cô phải coi chừng giọng hát đò đưa.
Giọng hát đò đưa thật quyến rũ, theo Mai vặn Lương trong La Chanson Annamite (1), phải kề tới (1) Indochine, nos, 77, 78, 1942.
Trang sách 79CẦM CA VIỆT NAM giọng hát đò đưa miễn Trung, nhất là giọng hát của các cô lái đò trên sộng Hương ở Huế, giọng hát này, tức là hò Huế, sẽ được trình bày riêng ở sau.
Lối hát đò đưa cũng rất thịnh hành ở vùng Nghệ Tĩnh các cô cậu trai gái lái đò vừa chèo thuyền vừa hát hoặc một mình hoặc có đối đáp với nhau.
Hát một mình, dù trai hay gái hát, gọi là hát buông; còn hát có đối đáp gọi là hát cuộc. Khi hát cuộc hoặc hai chiếc thuyền đi song song với nhau, hoặc chiếc nọ đi sau chiếc kia trên một giòng sông.
Người hát ngoài trai gái lái đò, cỏ thể là khách đi đò.
Chèo đò thường vất vả, dãi nắng dâm sương mà công sả chẳng đủ ăn, do đó trong lúc hát buông các lái đò thường nhắc đến tình cảnh của mình :
Cau khô ăn với hạt bèo, Lãy chông đò dọc, ráo chèo mà ăn.
Nghề chèo đò có kiếm được bao nhiêu, nghỉ chèo, chèo ráo nước là cũng thiếu tiền ăn !
Một trăm ông lái đỏ thanh nhàn Không thương trai bạn cơ hàn nắng mưa !
Hát đò đưa tuy là một giọng hát trong việc làm nhưng khi trai gái đối đáp đã biến thành lối hát trao tình.
Sông rộng trời cao, gió mát trăng trong, trước cảnh đẹp lại gặp người đẹp,hỏi trai gái nào khỏi động tâm. Họ hát với nhau, họ trao đổi tình duyên, họ
Trang sách 80TOAN ÁNH hẹn hò cău dặn, mai sau có nên duyên hay không là truyện khác. Họ hãy biết ngày nay gặp gỡ, cùng nhau hát trong một cuộc đưa đò, cùng trao nhau những lời êm dịu qua câu hát để hưởng lấy đêm trăng, để hưởng lấy cảnh đẹp và đề hưởng lấy sự trìu mến nũng nịu qua những lời hát ái ân, lẫy mái chèo làm nhịp, khua xuống mặt nước như nhặt như khoan.
Trên những dòng sông, thuyền bè qua lại, đã có biết bao mối tình được bắt đầu, được gửi lại hoặc được kết thúc tốt tươi.
Đây là lời dặn dò nhau :
Anh xuôi năm bảy tớ thầy, Đề em lẻ bóng trên này sao yên ?
Inh vê cho chóng mà lên, Đừng vui dưới nọ mà quên trên này !
Dặn dò rồi nhớ nhung:
Từ ngày nhô nọc lui thuyền Sông bao nhiêu khúc, dạ em phiền bấy nhiêu.
Hoặc gắn bó :
Sông sâu sóng vỗ rập rình Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu Hoạc trách móc:
Nước lên lắp xắp cầu dày Anh quen em mới được một ngày thuyền lui.
Rôi chia tay đòi hên có người chờ đợi :
Nước ngược anh bỏ sào xuôi
Trang sách 81CẦM CA VIỆT NAM Khúc sông bỏ vắng có người sầu riêng.
Nước chảy cho đá trôi nghiêng, Anh vui chung thiên hạ, em sầu riêng một minh.
Khúc hát đờ đưa thật là thú vị, nó đã làm cho các cô cậu lái đò đỡ vất vả trong lúc chèo thuyền, và cùng các cô cậu vui đời, yêu đời mặc dù đời chèo thuyền trên sông nước một nắng hai sương.
Những câu hát ái ân, những câu hát triu mến, các cô gái tuổi mới lớn lên quên làm sao được, và giữ làm sao đề tránh giọng hát đò đưa như lời khuyên nhủ của mẹ cha :
Mẹ cha khuyên nhủ sớm trưa Nhưng em vần hát đỏ đưa cùng chàng !
Chính vì vậy trên các khúc sông vẫn luôn luôn vọng lên tiếng hát, trai hát mà gải cũng hát, và cũng có thể rằng một cuộc hát đò đưa bắt đầu cho một hảo lương duyên.
Khách đi đò đôi khi thấy lái đò ca cũng cả hứng náy tình hát đối đáp mươi câu, có khi cả một cuộc hành trình đề lưu một kỷ niệm với con sông.
Sông bao nhiều nước cũng vừa Đôi ta giọng hát đỏ đưa khác gì !
HÒ KÉO GỖ Đây là lối hò đặc biệt của những người chung
Trang sách 82TOAN ÁNH sức làm một công việc nặng, nhất là những người kéo gỗ.
Đặc biệt trong giọng hỏ kéo gỗ bao giờ cũng có điệp khúc là mấy tiếng hỏ dô ta.
Một họn người cùng nhau kéo cây gỗ. Cây gỗ nặng, sức người cố gắng nhưng cây gỗ không nhích được bao nhiêu. Đề làm nhịp cho mọi người cùng ra sức kéo một lúc và để đỡ sự mệt nhọc, một người hát lên một câu hát, thường là một câu hát vui hoặc một cầu về tình ải. Câu hát chấm dứt, tất cả đoàn người đều cất tiếng hỏ dô ta rồi cùng cố sức cùng kéo.
Thi dụ :
Dô ta kéo gỗ làm đinh, Con gái vô tinh thì đề vủ ra !
Hò dô ta !
Không phải mọi người chỉ nhắc lại một lần hỏ dô ta, mà họ nhắc lại đôi ba lần. Nhắc lại tiếng hỏ dô ta lần đầu để gắng sức, những lần sau để thở.
Vừa hát vừa làm việc, công việc xong, họ cũng ngừng hát.
Người cất tiếng hát phải tìm những câu ngộ nghĩnh đề đồng bạn cùng vui, công việc mới nhanh chóng và đỡ mệt.
HÒ TÁT NƯỚC Các thiếu nữ đồng què, lúc cùng nhau tát nước, đề vui công việc, họ có những câu hát riêng, không
Trang sách 83CẦM CA VIỆT NAM giống những câu hát lúc họ hát trao tình với các bạn trai. Trong câu hát, có tiếng bắt chước tiếng nước tát từ ao sang ruộng hoặc từ sông vào đồng :
Thi thuồm ! thì thuồm !
Tát nước ao chuôm, Bóng trăng soi xuống, trăng suông soi vào!
Thi thào ! thì thào !
Nước chảy ào ào!
Cầu trời cho trận mưa rào tháng năm !
Tiếng gầu sòng, tiếng gầu dai vục xuống mặt nước, nước múc nước lên, đồ nước vào đồng phải chăng là những tiếng đệm cho câu hát.
Hay cảnh tay tuy mỏi vì tát nước, nhưng câu hát nhịp nhàng cất lên giữa hai người cùng tát nước như có sức làm tiêu tan sự mệt nhọc, và các cô thiếu nữ, sau một buổi tát nước đêm, thấy nước trắng xóa trong ruộng nhà, lòng các cô phơi phởi, hớn hở vì công việc đã xong, và vui vẻ xếp gầu cùng nhau ra về !
HÁT RU EM Ru em cũng là một việc làm của người dân quê. Ta có câu :
Xay lúa thì đừng ăm em, Ăm em thì đừng xay lúa.
Ru em là một phần trong công việc ăm em.
Ằm em, ru cho em ngủ, còn để đi làm việc khác, hoặc cùng nghỉ ngơi với giấc ngủ của em.
Trang sách 84TOAN ÁNH Ru em phải hát với giọng êm êm để đưa em vào giấc ngủ.
Gọi là ru em, nhưng thường thì bà ru cháu hoặc mẹ ru con chị ru em cũng có, nhưng chị còn bận nhiều công việc khác ở trong nhà, ở ngoài đồng hơn.
Về mùa hè, bà ru cháu, hoặc mẹ ru con thường nằm võng, tiếng võng đưa kẽo cà kẽo kẹt như làm nhịp cho điệu hát, và võng đưa tạo nên luồng gió nhè nhẹ khiến cho cháu ngủ theo giọng hát của bà và bà cũng thiu thiu ngủ cùng với cháu.
Hát ru em thường bắt đầu bằng hai tiếng A ơi ! hoặc Bồng bồng.
Câu hát là những câu ca dao, nhưng cũng có những cân chỉ dùng để hát ru em :
Bồng bồng mẹ bế con sang Đỏ dọc quan cấm, đỏ ngang không chèo;
Muốn sang thì bắc cầu kiều Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
Hoặc:
A ơi ! Cái ngủ mày ngủ cho lâu Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về!
Hoặc :
Bồng bồng ! cái bống là cái bống bình Thổi cơm gánh nước một mình bống sơi !
Bồng bồng ! Cái bống là cái bống bang Mẹ bống yêu bống, bống cùng làm thơ.
Trang sách 85CẦM CA VIỆT NAM Những câu hát ru em thường nhiều câu chẳng có ý nghĩa gì hoặc đôi khi là những điều ước mong của người mẹ về đứa con :
Mẹ ru con ngủ cho ngoan, Mai sau con lớn con nên thân người.
HÁT CHĂN TRÂU :
Các trẻ em ở thôn quê thường phải giúp đỡ cha • mẹ, mà trong các công việc giúp đỡ cha mẹ, chăn trâu là một. Ở miền Bắc và phía Bắc miền Trung, các trẻ em lên chín lên mười đã được cha mẹ giao cho nhiệm vụ chăn dắt trông nom một con trâu, và công việc này, các em, trai cũng như gái, thường làm rất trọn vẹn cho đến năm mười lăm mười sáu tuổi, khi các em có thể giúp đỡ cha mẹ trong các công việc khó khăn.
Trong lúc cho trâu đi ăn cỏ, các em họp đoàn cùng nhau, bày những trò vui, và có khi các em ca hát với nhau. Vua Đinh tiên Hoàng thuở nhỏ cũng đi chăn trâu và thường cùng các bạn cờ lau lập trận. Theo lời tương truyền để lại, trong lúc chăn trâu, chơi tập trận, nhà vua cùng chúng bạn thường hát câu hát sau đây :
Cây cỏ ấy, nước non này, Nước non quanh quất, cỏ cây xanh rì.
Rừng hoang cỏ rậm để chi Phen này ta quyết dọn đi cho rồi !
Này này chúng bạn la ơi !
Trang sách 86TOAN ÁNH Những khi ngồi trên mình trâu một mình, các em vừa cho trâu gặm cỏ ở bờ đê, vừa thồi sáo hoặc cất tiếng hát :
Ngày xưn Ninh Thích chăn trâu, Mà rồi mang ấn công hầu trầu ơi !
Ngày nay mình nghé ta ngồi, Mai sau ta có một đời hiền vinh ?
Ở vùng Nghệ Tĩnh, các em chăn tràn có rất nhiều câu hát. :
Tru (trâu) một mà cột cơn da (cây đa) Tru (trâu) đồi ăn kẹ (bờ ruộng), tru ba ăn cồn (bãi) Củ cu (chim cu) tát nước ao bèo, Mai đòi tru (dẫn trâu) lên trại ai rèo (chăn) cho mi ?
Trước cảnh đồng ruộng bao la, các em cất cao giọng hát như muốn thông cảm với đất trời :
Thua choa (chúng tao), biết sựt thua choa !
Mai đòi tru (trâu) lên trại, trải chiếu hoa cho ngồi Hát chăn trân, các em vùng Nghệ Tĩnh có những tiếng ời ời kéo dài đệm cho câu hát, nghe như tiếng gọi nhau. Các em có những bài hát về đủ mọi diều. Có khi về đám giỏ :
Trách người quân tứ vô tình, Hôm qua có giỗ không cho mình vắt xôi !
Trang sách 87CẦM CA VIỆT NAM Đối với lời trách móc không biếu nắm xôi, em nhà có giỗ đã không ngân ngại hát đáp :
Giỗ thi anh nỏ (chả) mua vàng, Xỏi thì xôi độ (đậu) ngái (xa) đàng không đem.
Cũng có khi các em hát chòng ghẹo nhau :
Đứa mô (nào) không chộ (thấy) thì mù, Có không con gái cội (cưỡi) tru quặp sừng.
Trong đảm chăn trâu có các em lớn, mười lăm mười sáu tuổi trở lên, các em đã biết hẹn hò với nhau :
Năm ni em mắc chăn tru Vài năm chi nữa về làm du (làm dâu) mẹ thầy.
Năm ni ạnh mắc chăn bò, Vài năm chi nữa về lo việc nhà.
Hát chăn trâu tuy là lối hát của trẻ em, nhưng nhờ những câu hát các em đã vui với công việc của mình.
NHỮNG GIỌNG HÁT TRAO TÌNH Tại miền Bắc có ba lối hát trao tình, chính là hát ví, hát quan họ và hát trống quân, rồi từ những giọng hát chính này nó biến thể ra những giọng hát khác.
Trang sách 88TOAN ÁNH HÁT VÍ Hát vi là lối hát thông thường nhất ở trung du và trung châu Bắc Việt. Ở nhiều nơi về miền Đông Bắc Việt, lời hát này còn được gọi là hát Đúm. Hát ví có thể được coi là một bài hát làm quen. (1) Đây là lối hát của những người mới gặp gỡ nhau và cuộc hội ngộ có thể được kén dài (1).
Hát ví có đối và có đáp, có hát để gắn bó và có hát để chia tay. Bài hát ví là một khúc tinh ca nho nhỏ (1) và người hát ví thường dựa vào cánh vật để nói lên tình ý của mình.
Hát vi trong lúc làm việc và cũng hát trong những đám hội, nhất là về vùng Bắc Giang.
Ai đã có dịp qua con đường cái quan mà hai bên là đông ruộng, trên đường khách bộ hành qua lại, dưới ruộng thợ đông làm việc, nam có, nữ có, người cày ruộng, người cấy lúa ?
Ở quãng đường này, cách đây mấy chục năm về trước những chàng trai trẻ đi qua đám ruộng thường bị các cô gái hát trên :
Báo này :
Hỡi người đi đường cái quan, Dưng chân đứng lại em than vài lời.
Đi đâu vội mấy anh ơi, (1) Phạm Duy.- Hát hội miền Bắc. Văn đàn tạp chí, số 4 đề ngày 13-1-1961
Trang sách 89CẦM CA VIỆT NAM Công việc đã có chị tôi ở nhà Anh cả anh hai đó ơi !
Bắt đầu câu hát, người hát thường gọi lên hai tiếng bảo này như muốn cho người nghe chú ý tới câu hát của mình, và cuối câu hát thường đệm bằng mấy tiếng Anh cả anh hai đó ơi ! hoặc Chị cả chị hai đó ơi! để báo cho người nghe biết câu hát của mình đã dứt, để người nghe sửa soạn hát đáp với mình.
Người khách bộ hành đi trên đường, nghe giọng hát đầy quyến rũ, lời ca đầm ấm, ngập ngừng rôi đứng lại đề đáp lời làm quen của cô bạn gái dưới đồng.
Cô bạn gái đang cắt cỏ chăng? Chàng trai - vì khách bộ hành thường là một chàng trai mới được các cô hát ghẹo, - liền hát lại :
Báo này :
Cô kia cắt cỏ một mình Cho anh cắt với chung tinh làm đôi.
Cô còn cắt nữa hay thôi, Để anh cắt với làm đôi vợ chồng.
Cô cả cô hai đó ơi!
Thật là kẻ Bưởi vơ vào! Mới làm quen đã tính chuyện vợ chồng !
Câu hát có khi của chàng trai còn khắn khít hơn :
Bảo này :
Trang sách 90TOAN ÁNH Cô kia cắt cỏ bên sông;
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây !
Sang đây anh bấm cổ tay, Anh hỏi câu này : có lây anh không ?
Cô cả cô hai đó ơi!
Chàng trai hát trả lời cô gái vì lịch sự và vì phong nhã, chàng trai muốn gây chút cảm tình làm quen. Có chàng trai cứ cắm đầu đi mặc cho các cô dưới đồng hát ghẹo. Chàng trai rảo bước đi, cô gái không tha, hát theo :
Bảo này :
Ma kéo hay là ma lôi Mà chàng nỡ bỏ lời tôi chừng về.
Anh cả anh hai đó ơi!
Có chàng trai đi thẳng, nhưng cũng có những chang trai bực mình với các cô gái dưới đồng, chàng đứng lại, hát chọc một câu xuyên tâm:
Bảo này :
Cô kia mà hát ghẹo ai, Cái mồm méo xệch như quai chèo đỏ, Có muốn anh nắn lại cho, Ngày mai chèo đỏ, ăn bát cơm thiu !
Cô cả cô hai đó ơi !
Hát xong chàng bỏ đi thẳng, mặc cho cô gái muốn trả lời hay không.
Cũng có trường hợp chàng trai hát những câu sâu cay hơn.
Trang sách 91CẦM CA VIỆT NAM Nhà em tội lỗi vì đâu, Mà em đi chồng phao câu lên trời ?
Đây là chàng trai có ý moi móc cô gái đang cấy lúa, đầu củi xuống và bộ mông chổng ngược trở lên.
Tuy là gái quê, nhưng các cô cũng chẳng phải tay vừa. Bị hát châm chọc, các cô cũng hát lại :
Nhà em chẳng tội lỗi gì, Em chẳng đi chồng, lấy gì anh sơi ?
Câu hát rất đúng, đúng về nghĩa đen, nhưng cũng lại rất đau đớn về nghĩa bóng. Về nghĩa đen, các cô không đi chồng, nghĩa là đi cấy lúa, làm sao có gạo, còn về nghĩa bóng - chồng đây tức là đi đại tiện.
Thật là cay củ cho chàng trai, bị vố đau lớn, chẳng có cách gì hơn là bỏ đi thẳng, vừa đi vừa lầm bầm rủa thầm lũ thợ cấy chua ngoa... Còn các cô, các cô tiễn theo chàng trai những chuỗi cười khiến cho chàng phải rảo bước đi mau hơn. Chàng không thể trách các cô được, tuy câu hát cửa các cô có hơi tàn nhẫn, vì sinh sự thì sự sinh, chàng hát câu sâu cay, chàng phải chịu những câu sâu cay hơn đáp trả. Các cô gái bao giờ cũng sẵn sàng những câu ứng biến đối với những chàng trai thiếu lịch sự. Như câu chuyện sau đây:
Các cô thợ cấy miền Bắc trước đây đi cấy thường mặc váy, chiếc quần một ống không đáy. Trong lúc
Trang sách 92TOAN ÁNH làm việc đôi khi gió lộng hoặc các cô vô ý, thân vảy tốc ngược lên. Có chàng trai ngẫu nhiên được trông thấy nơi kín đáo nhất của một cô, đã hát một câu thật thiếu lễ độ và lịch sự:
Tấm vải đáng giá bao tiền Mà em để cả tổ tiên ra ngoài ?
Thật đáng giận chưa ? Khi không mà hị chàng trai hát sược, có lễ nào cô gái đề yên. Cô suy nghĩ rồi cô hát đáp :
Nhà em tiết kiệm đồng tiền, Xin anh rước lấy tổ tiên về thờ !
Câu hát đáp mới thật là chua ngoa: Cũng ở chàng trai gieo gió thì phải gặt bão.
Bị câu hát làm cho tím mặt, chàng trai hoặc tìm những câu hát khiếm nhã hơn, hoặc làm thinh bỏ đi thẳng, thường thì đi thẳng cho êm đẹp, vì đối với bọn gái chua ngoa, môm mép con trai đáp sao cho lại.
Chàng trai đi thì mặc chàng, các cô gái lại cúi xuống tiếp tục những công việc của mình bên những trai làng.
Rồi trong đám trai làng, một chàng cảm nhan sắc của một cô gái làng, từ lâu vẫn muốn ngỏ nỗi lòng nhưng chưa có dịp nào thuận tiện. Hôm nay trời đẹp, ánh bình minh tươi sáng, mùi đất được cày vỡ nồng nàn, lòng chàng phơi phới, chàng liếc nhìn cô gái, rồi chàng đánh bạo hát :
Trang sách 93CÂM CA VIỆT NAM Bảo này :
Cô kia yếm trắng lòa lòa, Lại đây đập đất trồng cà với anh.
Bao giờ cà chín cà xanh, Anh cho một quả để dành mớm con !
Cô cả cô hai đó ơi!
Chàng trai hơi sỗ sàng, nhưng đây chỉ là sự sỗ sàng của người đồng quê chất phác.
Cũng có những chàng trai tế nhị hơn, hát xa xới hơn nhưng vẫn ơ vào phần mình:
Báo này :
Cô kia má đỏ hồng hồng Cô chưa lấy chồng còn đợi chở ai ?
Buông không lần lữa hôm mai Đầu xanh mấy chốc da mồi tóc sương !
Cô cả cô hai đó ơi!
Lời nói thật là khẻo lẻo ! Nhưng với những lời khéo léo ấy, cô gái chẳng động tâm ; chàng trai cho rằng cô đã mắc mứu nơi nào; chàng hát xa hát gần :
Báo này :
Cô kia đi đường này với ta, Trồng đậu, đậu tốt, trồng cà, cà sai.
Cô kia đi đàng ấy với ai, Trồng bông, bông héo, trồng khoai, khoai hà !
Cô cả cô hai đó ơi !
Trang sách 94TOAN ÁNH Và có khi chàng trai lúc bắt đầu rụt rè, nhưng với giọng hát, nhất là khi được cô gái đối đáp một đôi lời, chàng trở nên quyết liệt:
Bảo này:
Có mình ơi! anh quyết với cô mình, Công anh dan díu chẳng có thành thi thôi!
Con sông kia, bên lở có bên bồi, Bên lở thì đục, bên bồi thì trong ;
Con sông kia nước chủy đôi giòng, Biết rằng bên đục bên trong bên nào !
Cô cả cô hai đó ơi!
Trên đây chỉ là những câu hát nhắc lại những. cuộc gặp gỡ giữa đường hoặc cùng làm việc với nhau.
Thật ra, trai gái đã yêu nhau vì tình đã quen hơi bén tiếng vì giọng hát câu ca, trai thường tìm đến làng gái để hát một vài canh, trong khi gái vừa làm việc vừa đối đáp với trai. Và những canh hát đối đáp nầy, thường khi đã kết quả bằng những lửa đôi tốt đẹp.
Đây là chưa nói tởi hát hội.
Tại các đám hội xuân miền Bắc, nhất là tại các vùng Trung du, trai gái gặp gỡ nhau dùng miếng trầu mời hát để vui ngày hội, rồi cùng hẹn hò nhau tới những hội sau đề cùng hát. Hoặc những cặp trai gái đã quen biết nhau, họ cùng hẹn nhau tới các
Trang sách 95CẦM CA VIỆT NAM đám hội đề cùng nhau nối tiếp sự trao tình qua câu ca giọng hát.
Ở các đám hội, trai gái như có quyền tự do cùng nhau trao đổi câu ca tiếng hát để nói lên sự yêu đương tưởng nhớ của mình. Lễ giáo Việt Nam tuy khe khắt, nhưng tục lệ các làng lại rất rộng rãi trong các buổi hội xuân, cho trai gái được tự do luyến ái, miễn là sự luyến ái đừng đi tới trò trên bộc trong dâu.
Hát ví là giọng hát để làm quen mà cũng là giọng hát đề đôi bên lưu luyến nhau :
Bảo này :
Mình về ta chẳng cho về Ta nắm cổ áo ta đề bài thơ Bài thơ ba chữ rành rành Chữ « trung», chữ « hiếu », chữ « tình » là ba.
Chữ trung thì để thờ cha, Chữ hiếu thờ mẹ đôi ta chữ tình.
Có cả cô hai đó ơi!
Trống những buồi hội xuân, với các đám hát vi quang cảnh thật là vui. Trời xuân lành lạnh, có khi mưa xuân lớt phớt. Những cô gải quê khăn mỏ quạ, má ửng đỏ vì tiết trời, đứng tụm năm tụm ba cùng những bạn trai khăn đóng áo dài, vẻ mặt trung hậu chân thành, cùng nhau hát những lời yêu đương, thật là êm ái. Một đám hội
Trang sách 96TOAN ÁNH không phải chỉ có một đám hát, mà có rất nhiều đám hát. Đằng sau chùa, đằng trước chùa, bên bờ ruộng, cạnh đường làng, chỗ nào cũng là chỗ để trai gái tự tập ca hát.
Hát vi thịnh hành khắp miền Bắc, nhưng hát ví trong ngày hội thường chi nhiều tại mấy tỉnh trung du như Bắc Giang, Bắc Ninh v.v...
HÁT VÍ NGHỆ, TĨNH Từ trên, tôi mới trình bày về lối hát ví ở miền Bắc.Ở các tỉnh Nghệ, Tĩnh cũng có hát vi, và người dân quê ở vùng này, dù nam hay nữ không ai là không biết hát vi, vì ở đây hát vi cũng như ở ngoài Bắc, là một lối dân ca người đồng quê rất ưa thích.
Tục hát vi trước đây rất thịnh hành, chẳng những bình dân ca hát mà cả đến lớp nho sĩ cũng ham chuộng (1).
Hát lên ta nhởi ta nhơi, Mấy khi đèn hạnh soi nơi quyển vàng.
Người ta hát theo những câu hát cũ hoặc đặt ra những câu hát mới. Những ai không biết cất điệu uốn giọng thì hát đệm theo người khác. Vì cho rằng có không biết hát nữa, đi dự đám hát, nghe người khác hát, theo dõi từng câu, từng ý, từng cách lấy điệu tim lời, từng giọng hát để thưởng thức, hiểu được lời, biết được điệu hát, rõ được giọng hay, dù chinh mình không hát, cái thú của hát vi vẫn đến với mình. 1) Nguyễn chung Anh.- Hát ví Nghệ, Tĩnh
Trang sách 97CẦM CA VIỆT NAM Cũng như ở ngoài Bắc, hát vi là lối hát đối đáp, bèn nọ lên tiếng, bên kia trả lời, trả lời sao cho câu hát ăn với câu hát của người lên tiếng. Muốn như vậy, các trai gái hát ví phải ứng khẩu hát ngay tại chỗ nhiều câu hát mới tự đặt ra nếu không tìm được những câu hát cũ .Người dự hát phải chú ý nghe câu hát của người cất tiếng rồi lúc hát đáp vừa cất giọng hát vừa suy nghĩ để lựa chữ tìm vần. Cũng nhiều khi họ dùng những câu có sẵn đã lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, đã ăn sâu vào trí óc họ.
Sau những ngày làm lụng mệt nhọc, người dân quê vùng Nghệ, Tĩnh cũng như bất cứ người dân quê nơi nào ở Việt Nam cũng cần phải giải trí, và hát vi chính là một thú giải trí tao nhã vừa làm tiêu tan được sự mệt nhọc, vừa làm phấn khởi tinh thần con người để vui với việc làm.
Lắng tai nghe tiếng em « đàn », Bằng ai buông chén ngọc đổ vào gan lạnh lùng!
Đàn đây tức là hát ví. Câu hát đã làm rung động lòng người nghe và đem lại sự ấm áp giữa trời lạnh lẽo.
Hát vi là một sự trợ lực cho việc làm, bởi vậy có làm việc là có hát ví như tục hát phường nải ở Nam Đàn (Nghệ An), hát phường chiếu ở Can Lộc (Hà Tĩnh) hát vá lưới ở các bờ biển, hát phường buôn ở các vùng kẻ chợ, hát phường cấy trong các vụ gặt cấy v.v...
Trang sách 98TOAN ÁNH Hát để giải mệt, hát để trợ lực cho việc làm, nhưng cũng lại là dịp đề trai thanh tân, gái yếu điệu tìm hiều nhau, và đã hơn một lần, những cuộc nhân duyên tốt đẹp đã bắt đầu bằng một canh hát ví như ở ngoài Bắc vậy.
Trong khi làm việc trai gái hát ví với nhau, nhưng các cụ già luôn theo dõi cuộc tranh tài của đôi bên, nhất là các cụ bà, và thỉnh thoảng lại nhắc lời nhắc ý cho con em. Các cụ thường khuyến khích trai gái thương yêu nhau để đi đến những lứa đòi cầm sắt, nhưng trong việc thương yêu, đôi bên đều giữ gin kính trọng lẫn nhau, và chính các cụ già cũng vừa khuyến khích các cô các cậu nhưng cũng lại canh chừng để giới hạn những cử chỉ yêu thương chỉ ở trong vòng lễ giáo.
Hát ví, trai gái lựa câu để nói với nhau, để giãi bảy tâm sự với nhau. Thảng hoặc có chàng trai nghèo, gặp một cô gái nhà giàu kiêu kỳ hợm hĩnh, chàng không ngần ngại gì không nói rõ sự lựa chọn lứa đôi của mình :
Trèo lên cây chuối cao tàu Vừa đôi thi lấy ham giàu màn chi ?
Cô gái cũng chẳng phải vừa! Chàng trai đã miệt thị sự giàu có, nàng phải cho chàng biết cái giàu là điều vẫn hơn :
Ham giàu răng lại mần chỉ ?
Trâu cày, ruộng cấy, có khi thuê phường.
Trang sách 99CẦM CA VIỆT NAM Thuê phường để phường hát đối đáp cho mà nghe tạo nên cảnh phong lưu vui vẻ.
Thường những câu hát ví Nghệ, Tĩnh xoay quanh câu chuyện yêu đương; giữa trai gái phải có yêu đương, có yêu đương mới nảy trí, có náy trí lời hát mới hay:
Ba trăm năm nước cũ thanh bình, Mừng nay gió mát trăng thanh một trời.
Thư hương mừng khách anh tài, Lạ quen xin có mấy lời chào nhau.
Đó là câu hát lúc mở đầu đôi bên mới gặp nhau. Ý nghĩa câu hát thật là đẹp và tình tử biết bao, nhất là khi câu hát lại do một thiếu nữ xinh đẹp hát lên.
Và chàng trai cũng đáp lại bằng một câu hết sức lịch sự, vừa nói lên sự hân hoan của mình, lại vừa ngợi khen nhan sắc của người đẹp.
Gặp hồi gió mát trăng trong, Không đi thì sợ phụ lòng Hằng Nga.
Hữu tinh ta lại gặp ta, Biết nhau một tiếng đã là biết nhau !
Đã lịch sự chưa? Phụ lòng Hằng Nga tức là phụ lòng người đẹp đang đối đáp với mình, và người đẹp khả dĩ sánh với Hằng Nga.
Nhiều khi trai gái mới gặp gỡ nhau trong buổi hát đầu tiên, cô gái thấy chàng trai hướng tới mình nhưng không biết chàng trai đã có nơi chốn
Trang sách 100TOAN ÁNH nào chưa. Cô kín đáo hỏi thăm qua câu hát :
Biết nhau biết tự buổi đầu Còn e núi thẳm sông sâu thế nào?
Trăm năm chút phận má đào, Chín khôn một dại làm sao cho tròn !
Lẽ tất nhiên, nếu chàng trai thật lòng thương yêu cô gái, chàng cho cô gái biết tình trạng gia đình của minh :
Sách đèn chăm phận nam nhi, Đại khoa trước đã, lo gì tiểu khoa.
Cầu Ô đợi bến Ngân Hà, Ngư cầu gieo lá mới là đêm nay.
Trong những buổi hát, có những chàng trai thau thở về mối tình bị chia cắt :
Chim bay về núi tối rồi, Gứi thư, thư chậm, gửi lời, lời quên.
Cũng như hát ví miền Bắc, mọi trạng thái tâm hồn đều có những câu hát để phô diễn.
Nhắc lại mối tình xưa chăng ? Họ sẽ hát :
Nghe tin em đã có con bồng Anh cho riêng đồng bạc, đúc chiếc vòng cháu đeo.
Để mía mai ai họ sẽ hát:
Hoa thơm mất nhụy đi rồi, Về tô màu thuốc lại bán cho người đường xa.
Đề diễn tả một ý chi vững mạnh họ sẽ hát :
Trang sách 101CẦM CA VIỆT NAM Hoa tàn bướm hãy còn xinh.
Chợ tan mặc chợ, quán với đinh cứ nghiêm, Câu hát biến diễn theo mọi hoàn cảnh. Trước đây trong Văn Hóa Nguyệt san số 69, xuất bản tháng 3 năm 1962, các tác giả Hoàng Diệp và Thiết Mai có nhắc đến câu chuyện cụ Phan bội Châu trong một cuộc hát ví được một cô gái quê hỏi thăm một cách rất tài tình :
Vấn quân hà tính, hà danh ?
Hà châu, hà quận ? Niên canh kỷ hà ?
Câu hát chỉ có 14 chữ, lại toàn chữ Hán, mà hỏi được tới năm điều. Câu hát sau nầy đã được dịch nôm :
Hỏi anh tên họ là gì ?
Quận châu nào tới, tưổi thi bao nhiêu ?
Cụ Phan đã trá lời câu hỏi trèn và hát đáp:
Trước Lẩm Thúy, sau Hồng Sơn, Nhà nào đọc sách gảy đàn nhà anh.
Qua câu trả lời, Cụ Phan đã trả lời để trả lời chứ so sánh cân hỏi với câu đáp, ta thấy câu đáp không sát với ý nghĩa câu hỏi tài tình và lém lỉnh trên, đấy không kể cụ đã dùng Nôm để đáp một câu Hán. Dù sao câu đáp cũng đã nói lên tinh tình hào hoa phong nhã và chi khi cang cường của một kẻ sĩ đất Lãm Thúy Hồng Sơn.
Hát ví Nghệ Tĩnh, ngoài những câu hát trao tình, và những câu hát nói lên tâm trạng của trai
Trang sách 102TOAN ÁNH gái, còn có những câu hát đố rất khéo léo đôi khi đến hiểm hóc, với những câu trả lời thật hay và thật tài nói lên sự ứng đối lanh lẹ của nam nữ ca hát.
Dưới đây là những câu thách lời đối đã được nhiều tác giả nhắc tới trên sách báo (1).
Thách :
Ai xô ông Tề mà Ông Tê Ngã Ai lôi ông Phán mà ông Phàn Tri? (2) Chàng mà đối được gái nữ nhi theo về.
Đối :
Ai đạp ông Cô mà Ông Cô Trúc ?
Ai đơm Vua Vũ mà Vua Vũ Vương ? (3) Anh đã đối được hỏi nàng tính răng ?
Thách :
Có Xuân đi chợ Hạ, Mua cá Thu về chợ hãy còn Đông.
Trai nam nhi đối được, gái má hồng xin theo.
Đối :
Anh ở bên Nam sang bán hàng thuốc Bắc. (1) Phần lớn những câu hát trong đoạn nầy đều trích trong cuốn Hát Ví Nghệ Tĩnh của Nguyễn chung Anh (2) Tế Ngã và Phản Trì là học trò Đức Không Tử (3) Cô Trúc là vua nước Cô Trúc, Vũ Vương là Tua nhà Chữ
Trang sách 103CẦM CA VIỆT NAM Chữa con gái Đông phòng cảm bệnh miền Tây Ông Tơ Hồng, Bà Nguyệt Lão như anh sang đây kết nguyền.
Thách:
Chi là chưng, chi là đó, chi là đi.
Rượu bồ đảo anh không uống, anh uống gì mà say ?
Đối :
Trung là trung, trung là trữa (giữa) Xích xuống tí nữa thì trung là ngay, Anh không say vì rượu mà chỉ say ngãi nàng.
Trên đây là một số các câu thách và đối, còn nhiều câu khác với lối chơi chữ tương tự. Cũng có một số câu cho tới ngày nay vẫn chưa có người đối được đến nơi đến chốn :
Chữ rằng : Nhật nguyệt tịnh minh Ngày Nghiêu, tháng Thuấn, hội thái bình âu ca Câu này khó đối bởi hai chữ nhật (đ), nguyệt (A) ghép lại thành chữ minh (uf). Nhật là mặt trời, nguyệt là mặt trăng, minh là sáng. Nhật nguyệt tịnh minh là mặt trời mặt trăng đều sáng, song nhật, nguyệt lại có nghĩa là ngày tháng. Ngày Nghiêu tháng Thuấn chỉ sự thái bình.
Cha con thầy thuốc về làng
Trang sách 104TOAN ÁNH Gánh một gánh hồi hương, phụ tử thiếp hỏi chàng đối chi?
Hồi hượng là về làng, phụ tử là cha con, nhưng hồi hương và phụ tử lại là tên hai vị thuốc Bắc.
Nồi đồng ba, nấu cháo ba ba Tam tam nhi cửu, hỏi anh đà chín chưa ?
Mấy câu trên là những câu khó đối, và lối thách đối văn tự này thường chỉ những người có đôi chút học thức mới đem ra thử tài nhau, còn giới bình dân họ có những đôi câu đối giản dị và bình dân hơn, đối đáp ý nghĩa ở ngay nếp sống hằng ngày, tuy vậy cũng không phải là không tế nhị và không tài tình. Ta hãy thử nghe câu đố hỏi chú thợ cày :
Bây giờ hỏi thật chú cày Một trăm gánh lúa được mấy tay mấy gồi ?
Đáp :
Hai tay úp lại một bàn, Một trăm gánh lúa được sáu ngàn tư tay.
Nghe tuy giản dị nhưng câu hỏi thật khó, và câu đáp thật rành. Theo cách gặt lúa Vùng Nghệ Tĩnh hễ gặt đầy trong nắm tay là một tay, hai tay nhập một là một gồi, bốn gồi là một lượm, bốn lượm bó lại thành một bó, hai bỏ là một gánh, mỗi gánh lúa có 32 gồi tức là 64 tay, một trăm gánh là 6.400 tay hoặc 3.200 gồi.
Và sau đây là mấy câu đố khác:
Trang sách 105CẦM CA VIỆT NAM 'Đổ:
Anh muốn hỏi em một lời Mặt trời ở đó, trốc (đầu) trời ở mô ?
Đáp :
Anh về van đất, đấy ơi, Ra đây em chỉ trốc trời cho anh.
Đố :
Nghe tin em buôn bán tài tình.
Hỏi em con cá rô mấy vảy, con cá kinh mấy xương?
Đáp :
Anh về đểm mạ giữa nương, Đếm người giữa chợ thi em mới đếm được xương cá kinh.
Những câu đối đáp trong hát ví Nghệ Tĩnh thương gần với nếp sống hằng ngày, và cũng luôn luôn thay đồi theo trường hợp của từng người hát.
Thách thức nhau, đối đáp với nhau nhiều khi còn có những câu châm chọc nhau hoặc moi móc nết xấu hoặc hoàn cảnh của nhau, tương tự như các lối dân ca khác ở khắp Bắc, Trung, Nam.
Hát ví Nghệ Tĩnh là một thú của dân quê, rất tiếc ngày nay không còn nữa. Hát ví vùng nấy đã mất, chính quyền miền Bắc bao giờ cũng chủ trương biến hóa cho đến suy tàn tất cả những cái gì còn đượm dân tộc tính và thay thế vào lối hát
Trang sách 106TOAN ÁNH cô truyền nầy, phải chăng là những lối hát mới tuy không hợp với tinh thân người Việt Nam nhưng đã được chính quyền cô võ và ép buộc người dân phải theo.
Văn minh Đông Á trời thu sạch Này lúc cương thường đảo, ngược ru !
Thi sĩ Tản Đà là một nhà tiên tri khi sáng tác hai câu thơ trên ! Ngày nay cương thường thật là đảo ngược ở miền Bắc, và ở miền Nam người ta cũng đang lo sự suy đồi của văn hóa vì đụng chạm với những sản phẩm ngoại lai !
HÁT QUAN HỌ Hát quan họ là một lối hát trao tình đặc biệt của mấy huyện Tiên Du, Võ Giàng, Yên Phong tỉnh Bắc Ninh và huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang.
Tương truyền rằng hát quan họ có từ đời nhà Lê và người đặt ra lối hát nầy là Hiếu trung Hầu tên hủy là Diễn làm quan dưới triều vua Lê cảnh Hưng. Xuất thân Hiếu trung Hầu là hoạn quan, sau được thăng Thanh Hoa trấn dốc đồng.
Hiếu trung Hầu quê ở xã Lũng Giang, tồng Nội Duệ, huyện Tiên Du, trấn Kinh Bắc. Ngài không có con và khi chết ngài bầu hậu hàng Tông và hàng năm tồng Nội Duệ mở hội đề kỷ niệm ngài tại Đồi Lim tức là Hồng Vân Sơn.
Hiếu trung Hầu lúc về già, đặt ra lối hát quan họ đề mua vui.
Trang sách 107CẦM CA VIỆT NAM Đây là một lối hát đối đáp giữa hai bên trai gái, qua những câu hát nam nữ tỏ tình với nhau.
Lời hát đôi khi thật văn chương bóng bầy, đôi khi thật thắm thiết nồng nàn, Hát quan họ, trại gái đối đáp với nhau không cần tới âm nhạc đệm, nhưng nếu có nhạc càng hay. Trường hợp có đệm nhạc rất hiếm, và thường chỉ thấy trong buổi hát thờ ở các đình làng.
Hát quan họ phải hát giọng đôi, hai người chầu miệng vào cùng nhau hát, hại giọng luyện với nhau, tiếng ngân vang, vang vút, tiếng trầm êm ái như ru.
Hát quan họ có nhiều giọng, nhưng có ba giọng chính các nam nữ thanh niên vẫn dùng đề đối đáp trong những ngày hội. Ba giọng đó là :
Giọng sổng.- Dùng đề dạo giọng lúc bắt đầu hát. Giọng sồng ngân vút cao nghe đầm ấm nông nàn. Đây là giai đoạn đôi bên trai gái dò xét ướm hỏi lòng nhau :
Hôm nay tử hải giao tinh, Tuy rằng bốn bề nhưng sinh một nhà.
Số anh phải lấy vợ xa, Số em không lẩy chồng nhà được đâu.
Đã chót yêu nhau, lấy nhau cho được, Bõ lòng nấy rày ước mai ao !
Trên đây là một câu hát giọng sồng. Lúc hát
Trang sách 108TOAN ÁNH lên có những khúc đệm ý a, ý á hoặc ới ư... hoặc những tiếng láy đi láy lại để câu hát ăn với âm thanh, âm thạnh ăn với giọng hát.
Những câu hát Sổng có thể dùng cho bên nam, bên nữ cũng được, lúc hát lên bên đương sự chỉ cần đồi một vài chữ trong câu hát cho hợp với mình.
Giọng Vặt.- Sau khi đôi bên dạo giọng bằng một vài câu hát Sồng là những câu giọng Vặt đề đôi bên gắn bó với nhau. Nếu giọng Sồng chỉ có một giọng thì giọng Vặt lại gồm nhiều giọng : giọng buồn, giọng vui, giọng cao, giọng thấp, giọng ngắn, giọng dài. Chính vì vậy mà gọi là giọng Vặt, giọng Vặt không đồng nhất. Có khi giọng hát bắt chước tiếng đàn với những lời đệm tình tang, tang tính, có khi giọng hát bắt chước tiếng chim líu lo nhưng nồng nàn, có khi bắt chước tiếng run dế nghe buồn rầu ảo não. Giọng Vặt cần thay đổi mới nói lên đủ tình tiết yêu thương của đôi bên nam nữ.
Những câu hát giọng Vặt thường có hai câu để đôi bên đối nhau, bên nọ hát lên, bên kia xướng lại dù bên hát trước là nam hay nữ. Cũng như những câu hát giọng Sổng, mỗi câu hát đều có thể dùng được cả cho đôi bên nam nữ chỉ cần thay đổi một đôi chữ trong câu hát để cho hợp với người hát :
Nam :
Trang sách 109CẦM CA VIỆT NAM Ngồi tựa vườn đào, Thấy người thục nữ ra vào lòng những vấn vương, Gió lạnh đêm trường, Nửa chăn để đó, nửa giường để đó chờ ai, So chữ sắc tài, Có công gắn bó ai người phụ nghĩa quên công.
Nên chăng đấy vợ đây chồng !
Nữ :
Ngồi tựa vườn đào, Thấy người bạn ngọc ra vào lòng những vần vơ.
Tháng đợi năm chờ, Yêu nhau chớ để hững hờ với khách tài hoa.
Khấn nguyện trăng già, Duyên tơ xe lại một nhà đầm ấm yên vui.
Nguyệt lặng sao rời, Bỏ công gắn bó, bỏ lời gắn bó giao đoan.
Nên chẳng tình Tấn duyên Tần !
Dưới đây xin thêm hai câu hát giọng Vặt khác đối nhau :
Nam:
Con chim bồ câu, Nó liệng thấp nó lại liệng cao, Liệng qua cửa phủ, liệng vào trong dinh Ngọn đèn khơi ngọn tam tinh
Trang sách 110TOAN ÁNH Khơi lên cho tỏ ta nhìn mặt nhau Nhìn người chẳng dám nhìn lâu Nhin qua thấy mặt chịu sầu thiết tha / Nào lời tôi dặn hôm qua ?
Có nhớ những lời tôi dặn hôm qua ?
Nữ Con chim bồ câu Nó liệng thấp nó lại liệng cao, Liệng qua cứa phủ liệng vào trong kho.
Ngọn đèn chịu gió phất phơ Nào lời tôi hẹn bây giờ là đâu ?
Khơi đèn nhìn mặt thêm sầu, Khơi đèn nhìn mặt thêm đau tấc lòng !
Phụ tình ao ước chờ mong Trách ai đã phụ tình ao ước chờ mong !
Trong giọng Vặt có cả giọng ngâm thơ. Đấy là những bài thơ nói lên tình yêu của trai gái :
Biết chăng, chẳng biết hỡi tri âm?
Vấn vít con tơ vận ruột tầm.
Khắc khoải sầu tuôn, lòng tựa bề, Bôi hồi dạ nhớ tháng như năm.
Chăn loan bên đắp bên chờ đợi, Chiếu nguyệt nửa nằm, nửa biếng thăm.
Một bức tình thư đưa nhạn gửi, Thấu tình chăng hỡi bạn tri âm?
Giọng Bỉ .- Trai gái quan họ dạo giọng bằng
Trang sách 111CẦM GA VIỆT NAM giọng Sồng, gắn bó với nhau bằng giọng Vặt và để chia tay nhau họ dùng giọng Bỉ, hoặc gọi là giọng Vỉ.
Giọng Bỉ ngân dài, nói lên sự chua sót của phân ly, sự luyến tiếc của ngày mau tàn, nhất là khi gặp nhau ở những đảm hội phải chia tay từ giã nhau.
Bây giờ giáp mặt đinh ninh Xa xôi ai có thấu tình chăng ai ?
Hay là người đã nghe ai?
Thả chông đường nghĩa rắp gai lối tinh !
Nội dung câu hát giọng Bỉ thường là căn dặn nhau, bảo nhau nhớ lấy những lời hẹn ước, đừng vì khuất mặt xa lời mà quên nhau.
Tuy ba giọng hát là ba thời kỳ của buổi hát, gặp gỡ, gắn bó và giã từ, nhưng nhiều khi hát sang giọng Bỉ rồi, có những đảm quan họ lại trở lại hát giọng Vặt như cố níu lấy sự lưu luyến của trai gái đang tuổi yêu đương. Giọng Vặt một đôi câu rồi họ lại chuyển sang giọng Bỉ đề từ biệt và hẹn hò nhau.
NĂM GIỌNG TRÊN Ngoài ba giọng chính trên, quan họ còn có năm giọng gọi là năm giọng trên. Năm giọng nầy chỉ hát tới những khi hát giải. Năm giọng đó có những tên nghe thật kỳ khôi : Đường bạn, Lên núi, Xuống sông, Hừ la và Tinh tang.
Trang sách 112TOAN ÁNH 1.- Đường Bạn : Giọng gắn bó keo sơn với những lời hát rất tình tứ. 2.- Lên Núi: giọng hát khi hát lên, người nghe có cảm giác như thấy một đoàn người reo hò cùng nhau leo núi. Câu hát lối tử tự. Rất tiếc kẻ viết bài này lâu ngày không còn nhớ được câu nào. 3.- Xuống sông: cũng như giọng lên núi, khi hát lên người nghe có cảm giác như một đoàn người đang bước xuống kín nước ở dòng sông. 4.- Hừ La: Tên thật kỳ khôi với những bài hát giọng kéo dài đặc biệt. 5.- Tình Tang: Cũng như giọng Hừ La, lúc hát câu hát được đệm bằng những tiếng tình tang.
Năm giọng trên của quan họ chỉ người hát giỏi mới hát nổi, vừa tốn hơi tốn sức, lại phải diễn tá cho đúng điệu của mỗi giọng.
NGUỒN GỐC CỦA TỤC HÁT QUAN HỌ Như trèn đã nói, theo tương truyền thì tục hát Quan họ do Hiếu trung Hầu đặt ra đề mua vui lúc tuổi già. Vốn là một hoạn quan không có con cái, Hầu đã phó thác sự cúng giỗ của mình sạu khi nhắm mắt cho dân chúng tổng Nội Duệ, nhưng trong tuổi già sống không con trơ trọi, ngày tháng nặng nề, Hầu tim cái vui trong cái vui của đàn trẻ trong thôn xã, trong hàng tổng.
Dựa theo lối hát ví của vùng Kinh Bắc tức là
Trang sách 113CẦM CA VIỆT NAM Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay, Hầu đặt ra lối hát quan họ thay cho hát Vi, vì hát Ví bao giờ cũng chỉ có một giọng đều đều kẻm linh động. kém tình tiết, kém cả nồng nàn, trong lối diễn tả, Vốn đã được hầu hạ nhà vua trong cung cấm, Hầu căn cứ vào những điệu nhạc khi vui khi buồn, khi đầm ấm, khi dằn dỗi để đặt ra lối hát Quan họ với những giọng hát diễn tả đúng tình cảm từ lúc trai gái mới gặp nhau, qua thời kỳ gắn bó cho tới khi từ giã tượng trưng bởi ba giọng chính: Sổng, Vặt, Bỉ.
Lúc mới sơ khởi, Hầu có ban nhạc cho hòa theo các giọng hát nhưng về sau trong thôn quê, không phải lúc nào cũng sẵn nhạc, nên dân chúng gặp gỡ nhau là hát theo những giọng Hầu đã đặt ra. Thay vì nhạc đệm, họ hát giọng đôi đề tránh sự trơ trẽn của giọng đơn ca, để người ca giọng ấm có thể diu dắt người còn non giọng. Hát quan họ, lúc đầu chỉ có mấy xã thuộc tổng Nội Duệ như Lũng Giang, Lũng Sơn, Duệ Đông v.v.. nhưng dần dân, dân chúng vùng lân cận thấy hay đều cùng nhau tập hát. Cho tới thời tiên chiến, tục hát quan họ này lan suốt nhiều xã thuộc hai huyện Tiên Du và Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh, và còn lan tràn sang một số các xã tỉnh Bắc Giang ở bên kia sông Cầu như Mật Ninh, Nội Ninh v.v...
Trang sách 114TOAN ÁNH MUA QUAN HỌ.
Chính ra, trai gái quan họ có thể hát với nhau quanh năm. bất cử vào lúc nào, nhưng đời sống nông dân bận lam lũ làm ăn, nên quanh năm nếu có hát quan họ, chỉ có hát lẻ tẻ, mà hát lẻ tẻ thì lối hát vi thích hợp với đồng quê hơn. Bởi vậy. quan họ chỉ được hát trong những dịp lễ bái quan trọng hoặc trong những dịp khao cưới ở các tư gia.
Mùa Xuân là mùa hội hè lê bái, dân quê nhân vụ chiêm vừa cấy xong, vụ gặt chưa tới, làng làng đua nhau mở hội và nam nữ thanh niên họp nhau thành từng bọn rủ nhàu đi hát quan họ.
Mùa quan họ tới với mùa Xuân tưng bừng, tới với lòng hân hoan của những chàng trai cũng như của những cô thôn nữ nụ cười nhi nhảnh, yếm thăm thắt lưng điều.
Mùa quan họ là mùa hội Xuân. Có hội xuân là có hát quan họ tại các vùng đã kể Sau ba ngày Tết, từ ngày mồng bốn đã có lắng mở hội, như làng Hữu Thấp, huyện Võ Giang tỉnh Bắc Ninh. Trai quan họ từ các làng kéo nhau tới.
Thường họ tới hội vào lúc quá trưa, và họ hát cùng nhau cho tới tối. Lức ra về họ lại hẹn hò nhau tới các hột khác.
Suốt ba tháng Xuân, có hội ở làng nào đều có trai gái quan họ kéo nhau tới hát.
Trang sách 115CẦM CA VIỆT NAM Cuối Xuân hội bắt đầu thưa dần. Công việc nhà nông lại bắt đầu vất vả vì sửa soạn cho vụ gặt chiêm hoặc vì dỡ hoa màu phụ.
Rỗi rãi, họ hát chơi xuân, bắt đầu có công việc, họ bắt đầu làm việc trở lại và ghi nhớ những kỷ niệm ca hát của ngày xuân. Những cuộc gặp gỡ mùa xuân đã từng tạo nên những lứa đôi đầy hạnh phúc.
TẠI SAO LẠI GỌI HÁT QUAN HỌ:
Tại sao giọng hát nầy lại gọi là hát quan họ?
Về điểm nầy, trước đây đã nhiều người giải thích trong số đó có cá nhạc sĩ Phạm Duy. Mọi người đều cho rằng vì sự kính trọng bọn người cùng hát với mình nên dùng tiếng quan để xưng hô, còn họ tức là ý nói một bọn động. Quan họ là một bọn nhiều người được sự tôn trọng của những người khác. Hát Quan họ tức là lối hát của những người này.
Tôi đã được dịp hỏi người dân xã Lũng Giang, các cụ già nơi đây đã trả lời:
- Ta gọi nó là hát quan họ thì là hát quan họ. Chính chúng tôi ở nơi đây cũng không hiều tại sao lại có danh từ nầy. Theo các cụ chủng tôi truyền lại thì đầu tiên những người hát là thân nhân họ hàng quan Hầu được ngài dạy cho trước.
Quan họ là những người có họ hàng với Quan Hâu, và hát quan họ là lối hát của Quan Hầu tập
Trang sách 116TOAN ẢNH cho những người này đầu tiên.
Lời giải thích xét ra rất có lý, vì lúc đầu truyền giọng hát mới, Hiếu trung Hầu tất nhiên phải truyền cho con cháu trước rội sau mới do con cháu truyền cho người ngoài.
Trong khi chưa ai biết đích xác tại sao yại gọi là Hát quan họ, thiết tưởng nên chấp nhận lời giải thích của các cụ làng Lũng Giảng, nơi có đối Lim và có thể là quê tô của tục hát quan họ.
MỘT BỌN QUAN HỌ.
Trai gái quan họ, đi hội, bọ họp nhau thành từng bọn để thay phiên nhau hát, Trai cũng như gái, một bọn quan họ gồm ít nhất gắm người, do một người dẫn đầu, lo việc mời mọc bạn hát, hoặc quyết định những điều liên quan tới cả bọn. Người này các quan họ tôn là anh Hai hoặc chị Hai.
Sau đó là các anh chị Ba, Từ, Năm và Sáu.
Nếu bọn Quan họ có sáu người, ngoài anh Tư hoặc chị Tư còn có anh hoặc chị Bốn, Không có anh Cả hoặc chị Cả như hát Ví.
Một bọn quan họ bao giờ cũng gồm toàn những người cùng một làng, để còn đối đáp hát với trai gái làng khác. Trai gái cùng làng không cùng hát với nhau ở ngày hội.
Họ có thể hát tập hát chơi với nhau trong làng, nhưng đã đến hội, bao giờ họ cũng tìm các bọn quan họ thiên hạ để mời hát, như vậy vừa
Trang sách 117CẦM CA VIỆT NAM được dịp tỏ tài năng nêu danh tiếng cho làng mình, vừa được hát thẳng cảnh không nế nang gì.
Tại các hội Xuân, trai gái quan họ, trông thấy • những bọn quan họ ở làng nào là họ nhận ra ngay. Mỗi bọn đều có một đặc điểm riêng, khi đứng với nhau hoặc những khi hát với các bạn.
MỜI HÁT Ở HỘI Đi tới hội, các bọn trai gái quan họ sau khi lễ Phật hoặc lễ Thần, tùy theo hội chùa hay hội đình, cùng nhau đứng ở quanh nơi địa điểm hội, ở sân đình, ở trước chùa, ở những thửa ruộng khô quanh đình chùa. Họ chờ bọn khác mời hát hoặc họ đang tìm kiếm một bọn hát bạn để mời hát. Trong lúc đó họ có thể xem những trò vui khác ở hội như đánh đu, đánh cờ, chơi tổ tôm điếm v. v...
Khi một bọn quan họ thấy một quan họ khác, nếu là bạn quen biết vẫn hát thường trong các hội khác thì dễ dàng lắm. Họ chào nhau, rồi mặc nhiên như đã hẹn hò trước họ cùng nhau hát cầu vui sau khi đã mời nhau trầu nước.
Bọn trai bảo bọn gái :
- Liền chị hôm nay đã đến đây, chắc liền chị vui lòng cho liền em hầu tiếp mấy câu.
Thế là bọn gái nhận lời.
- Liền anh đã không chê chúng em hát kém,
Trang sách 118TOAN ÁNH xin liền anh cho chúng em theo.
Xưng hô với nhau, các bọn nam nữ quan họ thật là khiêm tốn. Họ tôn nhau là liền anh và liền chị, bao giờ cũng tự xưng mình là liền em.
Và họ cũng rất là nhún nhường lịch sự : khi họ nói xin liền anh cho chúng em theo là ý họ muốn bên nam hát trước. Bên nam lẽ tất nhiên cũng phái lịch sự khiêm tốn :
- Liền em chỉ biết những chợ gần, liền chị đã đi chợ xá, xin liền chị cho liền em theo.
Câu nói trên của bên Nam thật hết sức nhũn nhặn và tôn trọng bên nữ. Khi họ nói chỉ biết những chợ gần là ý họ muốn nói họ biết ít câu hát, chỉ hát được những câu dễ hát giọng thường, và khi họ nói liền chị đã đi chợ xa là ý họ muốn đề cao bọn nữ biết nhiều câu hát.
Rút cục thường thường bọn nữ hát trước, bọn nam hát sau.
Có những trường hợp có một bọn quan họ nam hoặc nữ tới hội nhưng không gặp những bạn hát quen, chỉ toàn những bọn lạ. Như vậy họ không hát chăng ? Có chứ, đã đi đến hội phải hát không được hát họ thấy ngứa cô làm sao, và họ, hịn rịn vô cùng nếu phải về không. Họ ngắm những bọn lạ, rồi họ mời, có khi nam mời nữ cũng có khi nữ mời nam.
Một bọn nam chờ ở hội đã lâu không gặp bạn
Trang sách 119CẦM CA VIỆT NAM quen giờ thấy một bọn nữ họ liền mời. Thấy nhau họ biết nhau ngay đó là một bọn quan họ. Họ biết qua nhân số năm hoặc sáu người, và đi hội nhiều, mắt họ nhìn quen, họ nhận ngay ra đó là một bọn quan họ.
Họ mang trầu tới mời. Đi hội, các bọn quan họ thường có sẵn bọc trầu đề mời hát. Miếng trầu là đầu câu hát! Có những bọn quan họ lịch sự, họ không mang trầu ở nhà đi, họ lấy ngay những cợi trầu các hàng nước bán trong ngày hội mời các bạn hát.
Bạn hát dùng bao nhiêu họ sẽ trả tiền nhà hàng.
Họ mang cơi trầu tới trước bọn mà họ đoán là bọn quan họ. Họ mời :
- Mời liền chị sơi trầu ! Nhất niên nhất lệ, hôm nay dân làng đây mở hội, gặp liền chị, xin liền chị cho liền em được hầu tiếp ca mấy câu mừng xuân.
Lẽ tất nhiên bọn con gái chối từ nói là không biết hát. Bọn trai sẽ năn nỉ :
- Vui xuân, liền chị biết chợ xa thì đi chợ xa, không biết chợ xa thì đi chợ gần.
Bọn gái lúc đầu từ chối nhưng về sau cũng nhận lời. Cũng có khi bọn gái từ chối hẳn vì họ đã có hẹn với một bọn trai khác. Họ sẽ trả lời thẳng thắn :
- Chúng em xin cảm ơn liền anh. Nhưng thú
Trang sách 120TOAN ÁNH thực hôm nay chúng em đã có hẹn, xin hẹn với liền anh đến hội khác.
Có thể các cô đưa ra đề nghị để gặp bọn trai ở hội nào ngày hôm sau hay một ngày gân đó.
Đối với những bọn liền chị đã có hẹn trước như vậy, lẽ tất nhiên các liền anh không thể cố mời được và đành nhận sự hẹn hò một ngày gặp gỡ mai đây.
HÁT Ở HỘI.
Bạn hát gặp nhau, cũng như hai bọn quan họ mới tiếp xúc lần đầu, sau khi chào mời và nhận trầu của nhau, họ bắt đầu hát, bên nào hát trước tùy theo sự thỏa thuận của đôi bên như trên đã trình bày.
Họ hát với nhau qua các giọng Sồng, Vặt và Bỉ.
Họ hát giọng đôi. Bọn gái thường lấy nón che gió để giọng đỡ văng, hát đỡ mệt. Bên nọ hát một câu, bên kia đáp lại.
Trong lúc hát, qua mỗi đoạn, họ lại dùng mấy tiếng gọi nhau như để nói hết tâm tình qua lời ca.
Họ nhắc anh Hai ơi, anh Ba ơi... Chị Hai ơi, chị Ba ơi... cho đến anh Sáu ơi, chị Sáu ơi, rồi họ lại gọi trở lại anh Hai, chị Hai nếu câu hát quá dài.
Ngồi rằng ngồi tựa vườn đào
Trang sách 121CẦM CA VIỆT NAM Thấy người thục nữ ra vào lòng những vẫn vương.
Chị Hai ơi!
Gió rằng gió lạnh đêm trưởng Nửa chăn để đó, nửa giường để đó chờ ai Chị Ba ơi!
So rằng so chữ sắc tài Có công gắn bó ai người phụ nghĩa quên công Chị Tư ơi !
Họ hát với nhau ở bờ ruộng trước cửa chùa, ở bên đường cạnh đình làng, họ hát với nhau ở trên đồi như ở hội Lim. "
Họ xúm nhau nhập thành một bọn, mải mê hát với nhau mặc cho thời gian trôi qua, mặc cho những ai đi xem có đứng quanh họ để thưởng thức lời ca câu hát của họ. Họ không biết tới ngoại cảnh, đôi bên họ chỉ biết hát với nhau. Mùa Xuân gió tuy lạnh nhưng lòng họ đang xuân !
Chỗ này một đám hát, chỗ kia một đám hát !
Bao nhiêu những câu tình tứ nồng nàn, bao nhiêu những lời hứa hẹn ái ân ! Nhiều cuộc trăm năm đã bắt đầu ở nơi đây qua những câu hát đằm thắm yêu đương.
Thường họ đến hội vào lúc quả trưa như trên đã nói và họ bắt đầu hát vào khoảng giờ Mùi.
Họ hát với nhau cho tới lúc bóng chiều đổ xuống mới chia tay. Có khi cùng về một đường, họ tiếp
Trang sách 122TOAN ÁNH tục cuộc hát trên đường về. Bọn họ khi đi theo đường đê, giọng hát văng vằng rất xa, nghe rất du dương. Những lúc chia tay này, bao nhiêu cầu hát hay đầy luyến ái họ đều đem ra hát với nhau, và lúc này họ không cần phải chọn câu đối cho xứng với câu xướng của bọn hát bạn mà họ chỉ cần hát để nói lên sự cảm mến nhau.
Giỏ Xuân miền Bắc lạnh, nhưng họ không thấy lạnh, những câu hát đã khiến cho lòng họ ấm áp.
Họ tiễn đưa nhau đến cổng làng mới chia tay và họ còn hẹn nhau gặp gỡ ở những ngày hội mấy hôm sau. Có những bọn hát họ hát với nhau hết xuân này sang xuân khác và nhiều lửa đôi tốt đẹp đã nên duyền nhờ những khúc hát hội xuân !
MỜI BẠN HÁT TỚI NHÀ HÁT TRẮNG ĐÊM Có nhiều bọn quan họ, tuy đã hát ở hội và trên đường về với một bọn quan họ bạn, đến lúc chia tay vẫn còn bịn rịn không muốn mỗi bọn về một nẻo. Họ đề nghị mời nhau về làng họ rồi hát suốt đêm.
Đọc đến đây, các bạn sẽ mỉm cười, sao họ say nhau quá vậy ? Thật họ quả có say nhau, vì phần nhiều trai gái quan họ đều là những người mới lớn chưa lập gia đình. Như vậy gặp nhau, gân nhau, hát tặng nhau toàn những lời ca đầy tình tứ, làm sao họ khỏi say nhau. Say nhau, họ không muốn
Trang sách 123CẦM CA VIỆT NAM bỏ dở cuộc hát, họ cần hát cho thật thỏa, thật đã, như vậy họ mời nhau về làng để hát mua vui một canh có sao !
Có khi bọn quan họ trai mời bọn quan họ gái, và có khi bọn quan họ gái mời bọn quan họ trai.
Thường khi, hai bọn mới gặp nhau đã say nhau lời hát, bọn gái vẫn mời bọn trai về làng. Tại sao vậy ? Xin thưa : bọn trai ngủ đêm ở một làng lạ không sao, còn bọn gái trước khi ngủ đêm tại xã nào cần phải được phụ huynh biết trước và cho phép.
Khi một bọn gái mời một bọn trai về làng, họ phải trình với phụ huynh và bọn hát bạn này thường được tiếp ở nhà chị Hai.
Tục lệ quan họ lạ lắm ! Bọn quan họ trai do bọn gái mời tới làng được phụ huynh bọn gái tiếp đãi rất long trọng. Cha mẹ các cô gái tỏ ra rất quý mến những chàng trai. Những chàng trai này được mời lên nhà trên, ngồi một bên, còn các cô gái ngồi mẻ bên kia, nghĩa là hai bọn ngồi hai gian bên giường thờ. Đôi bên lại tiếp tục hát, trong khi đó người làng các cô gái kéo nhau tới nghe hát và xem mặt liền anh.
Đôi bên sẽ hát với nhau trắng đêm !
Họ hát quên ăn chăng? Không, bọn quan họ trai được tiếp đãi lịch sự với cơm nước thịnh soạn.
Các cô gái đã góp tiền nhau để làm cơm mời liền
Trang sách 124TOAN ÁNH anh. Lẽ tất nhiên liên anh sơi cơm bên này thì liên chị cũng sơi cơm ở mé bên kịa, và hai mâm đều có vẻ như hai mâm cổ xuân.
Lần này liền chị mời liền anh, một bữa khác, liền anh sẽ xin phép phụ huynh liền chị để mời lại. Trong khi liền anh tới làng liền chị các trai làng không hề tỏ vẻ ghen tương mà còn tỏ rất nhiều thiện cảm với liền anh là khác.
Không nói chi trai làng, nếu cô gái quan họ có chồng, chồng họ cũng không ghen; và chỉnh họ cũng không nhận là vợ e liền anh mất cảm tình, họ chỉ bảo đó là cháy hay họ hàng vì đó thôi ! Trường hợp này rất ít vì các cô gái đã lập gia đình rồi thường giữ ý không đi hát hội như khi còn son trẻ nữa !
Đã có lần, có một chị Hai có chồng đứng đầu một bọn quan họ nữ. Bọn này mời bọn quan họ bạn tới làng, và chị Hai phải lo việc đăng cai, Chính chông chị đã thân hành làm cơm để mời liền anh.
Sau bữa cơm, hai bên liền anh và liên chị cùng nhau tiếp tục cuộc hát cho tới tang tảng sáng. Liền anh ra về, liền chị đưa tới tận công làng, và cũng có nhiều anh chị em của liền chị đưa chân theo.
Khi một bọn quan họ nam mời một bọn quan họ nữ tới hát đêm thi cũng vậy, cũng cơm nước và cũng có người làng tới xem mặt liền chị và cũng tiễn đưa lúc sáng ngày.
Trang sách 125CẦM CA VIỆT NAM Đừng ai có ý nghĩ gì xấu với họ! Họ tiếp nhau suốt đêm chỉ bằng câu hát, và không có truyện trên bộc, trong dâu !
HÁT GIẢI Từ trên tôi mới chỉ trình bày về những cuộc hát vui xuân, ở hội cũng như ở nhà. Hát quan họ có những cuộc thi đua lấy giải rất gay go.
Tại nhiều hội xuân tại vùng quan họ, ngoài các cuộc vui như đánh đu, đánh cờ... còn có treo giải hát quan họ. Thường có ba giải, và giải thưởng thường gồm trà, pháo, khăn điều, đôi khi có thêm tiền.
Giải quan họ được treo suốt ngày hội đề các bọn quan họ các nơi có thì giờ tới dự.
Hát quan họ giải thường hát ở hành lang đình.
Giái thưởng đặt ở trên một án thư, hai bên là hai chiếc tràng kỷ, dành cho hai bên dự giải, một bên Nam, một bên Nữ.
Trên án thư, về mé bên nữ có úp 10 chiếc chén và mẻ bên nam có 6 chiếc. Mỗi khi bên nào thua, bị lấy đi một chiếc chén. Như vậy, muốn thăng bên nam phải thắng bên nữ mười câu, còn bên nữ chỉ cần thắng bên nam sáu câu là được. Hát được một bọn chưa phải là được, có thể có những bọn khác vào tranh tài. Bọn thắng phải làm sao giữ giải trong suốt thời gian ấn định của hội làng có khi một hai ngày, có khi ba ngày.
Đôi bên hát giải dưới sự trọng tài của một
Trang sách 126TOAN ÁNH người cầm trịch. Người cầm trịch là một người hát giói biết nhiều giọng, có thể hát lại được những câu hát sai của bên thua.
Muốn vào dự giải, bọn dự thi phải hát qua đủ năm giọng trên cho người cầm trịch nghe. Không hát đủ năm giọng trên không được dự hát giải.
Hát giải quan họ cần phải hát đối nghĩn là bên hát một câu bên hát sau phải có một câu đối lại, phải đối cả ý lẫn giọng, sai ý hoặc sai giọng đều không được. Khi đối giọng phải đối đủ những mạch đệm câu như ý a, tình tang tính, hự răng ới hư.
Thí dụ :
Ngồi rằng ngồi tựa có mấy vườn ới ha hạ đào.
Những mạch đệm câu có mấy ới ha hạ, cần phải được nhắc lại trong câu hát đối.
Thí dụ trên là đối giọng. Dưới là đối ý :
Ngắm xem duyên số buồn tình Muốn lên thượng giới tại thiên đình hỏi số xem chơi Mướn tàu bay thẳng lên trời Sở tâu trời bảo có người hạ giới kết thân.
Vội vàng hạ máy xuống dần, Quả nhiên gặp bạn châu trầu là đây.
Nên chẳng định liệu một ngày !
Câu hát trên ý thiệt mới, và cũng mới có từ hồi Pháp thuộc. Để đối với câu này, giới quan họ gọi là câu Tàu Bay, có câu Tàu Ngầm sau đây :
Trang sách 127CẦM CA VIỆT NAM Ngắm xem duyên số buồn tình, Tàu ngàmvặn lái đăng trình thẳng tới Thủy cung Được vào bệ kiến vua Rồng, Nhà vua tra sổ phán rằng tốt số nhân duyên.
Vội vàng tàu lái về liền Quả nhiên gặp được bạn hiền nơi đây, Nên chẳng định liệu một ngày !
Khi hai bên dự giải đã hát xong năm câu hát giọng trên và bên nào đã ngồi vào phía bên nấy, người cầm trịch mới gieo âm dương để xem bên nào hát trước.
Có nhiều khi bên Nam nhường cho bên Nữ hát trước mà không cần bói âm dương.
Trong lúc hát thi, dân làng và khách xem hội đứng bu quanh đề thưởng thức tài nghệ của đôi bên. Có những trường hợp đôi bên đều hát giỏi, giăng co nhau đến hết hội không bên nào thua, và giải thưởng được chia đôi. Tuy nói là chia đôi nhưng trên thực tế, thường bên nam nhường giải cho bên nữ.
Để mừng bên thắng cuộc, dân làng đốt bánh phảo. Sau bánh pháo mừng, bọn quan họ thắng giải vào lễ thần tạ ơn trước khi lĩnh giải.
Giải thưởng tuy không đáng là bao, nhưng bọn được giải thực là hãnh diện.
KẾT BẠN Đặc biệt nhất trong làng quan họ là tục Kết Bạn.
Trang sách 128TOAN ÁNH Hai bọn quan họ thuộc hai làng khác nhau, một bọn nam và một bọn nữ, sau khi đã hát với nhau nhiều lần ở nhiều hội xuân và cũng đã mời nhau về để hát đêm nhiều canh, thường kết bạn với nhau.
Kết hạn, nghĩa là đôi bên giao kết chỉ hát với nhau ở hội và không hát với họn nào khác. Việc kết bạn phải được phụ huynh và hương chức hai làng chấp thuận.
Đôi bên muốn kết bạn với nhau phải trình với phụ huynh và hương chức biết để xin sự đồng ý, nhất là những bọn quan họ nữ, càng cần được sự chấp thuận của dân làng hơn.
Bọn quan họ nam được bọn nữ cho biết hương chức trong làng và phụ huynh của bọn này đã bằng lòng sự kết bạn của họ với bọn Nam, và họ mời bọn nam tới ngày hội làng họ, hoặc nếu ngày hội đã qua rồi thi một ngày sóc vọng, tới yết thần ở đinh làng. Bọn Nam đến đúng hẹn cùng nhau mua đồ lễ thường gồm hoa quả, trầu cau, trà rượn, đi đến làng bọn nữ. Bọn nữ đợi đón họ cùng với dân làng, đưa họ vào đình trinh diện với các hương chức. Gới thiệu xong bọn trai lễ yết thần. Có đốt pháo đễ mừng sự kết hạn của đôi bên. Sau đó đôi bên cùng hát thờ thân.
Kể từ ngây đó, bọn Nam được dân làng bọn nữ coi như những người thân của làng xã. Họ quý những chàng trai đó như những rễ làng. Mỗi khi
Trang sách 129CẦM CA VIỆT NAM làng có công việc gì vui mừng, bọn trai đều được bọn gái mời tới để hát thờ thần và sau đó hát mua vui một vài canh. Lẽ tất nhiên mỗi lần bọn trai tới đều có đồ lễ yết thần, và bọn trai được bọn gái khoản đãi rất thịnh soạn.
Bọn trai đã đến làng bọn gái rồi, một ngày sau bọn gái cũng nhân một ngày lễ thần ở làng bọn trai, tới lễ nơi đây, hát thờ thần và sau đó cùng bọn trai hát một canh để dân làng bọn trai thưởng thức tài nghệ của liền chị. Bọn gái cũng được dân làng bọn trai tiếp đãi quý trọng như nững cô dâu làng.
Đôi bên đã kết bạn rồi, khi làng bọn Nam có lễ, bọn Nam mời là bọn gái tới lễ và hát không cứ trong mùa xuân mà bất cử dịp nào trong năm.
Bọn nam đối với bọn nữ cũng vậy.
Và khi đi hội chỉ có hai bên hát với nhau.
Bọn trai hát với một bọn gái khác, bọn gái sẽ ghen, và bọn trai cũng sẽ ghen nếu bọn gái kết bạn với mình hát với một bọn trai khác.
Nếu tại một hội nào, vì chờ đợi lâu không thấy bọn kết bạn với mình tới, bọn nam hoặc bọn nữ có một bọn khác mời, lỡ đang hát giở, họ đành phải xin lỗi bọn kia để trở lại hát với bọn kết bạn.
Trai gái quan họ đều biết rõ lệ này, nên khi bọn đang hát với mình xin lỗi vì có bọn kết bạn đã tới, họ liền vui lòng ngừng hát để trả cho hai bọn
Trang sách 130TOAN ÁNH kết bạn hát với nhau.
Tục kết bạn quan họ gần giống như việc cưới xin giữa hai bọn hát, nhưng chỉ ở trên phương diện ca hát mà thôi, vì các cô cậu tuy có kết bạn quan họ nhưng vẫn toàn quyền muốn lập gia đình với ai cũng tùy.
Nếu một người trong bọn quan họ kết bạn lấy vợ hoặc lấy chồng, bọn kết bạn đều có đồ mừng, và trong dịp này đôi bên thường hát với nhau suốt đèm đề mừng cho cô dâu chủ rề.
Trong những đám tiệc khao vọng, các bạn quan họ cũng thường được mời tới hát đề chúc mừng gia chủ và để mua vui cho dân làng của bạn hát.
Những bọn kết bạn với nhau thường dành cho nhau rất nhiều kỷ niệm. Khi đã lập gia đình không còn đi hát hội nữa, nhắc đến những kỷ niệm cũ là những điều rất thích thú của trai gái đã từng đi hát quan họ. Các bà vợ và các ông chồng không hề bao giờ ghen với các bạn quan họ của chồng hoặc của vợ. Họ đã biết tục lệ, và kết bạn chỉ là kết bạn chứ kết bạn không là hôn nhân.
Đại đề những điểm chính về hát quan họ đã được trình bày. Trong đám cưới, trong đám khao, để mua vui cho quan khách chủ nhân có khi mời hai bọn quan họ tới hát đối đáp trong đám tiệc.
Trang sách 131CẦM CA VIỆT NAM Và có làng trong những dịp hội xuân có mời các bọn quan họ tới hát thờ.
HÁT TRỐNG QUÂN Hát trống quân cũng là một lối hát trao tình giữa trai gái. Thường trống quân hay được hát về dịp Trung thu và hát ngoài trời, dưới trăng.
Hát trống quân có bên nam và bên nữ. Hai bên ngồi đối diện nhau, trống quân lập nên ở giữa.
Trống quân lập rất dễ dàng. Một chiếc thùng chè hay thùng sắt tây không thì càng tốt, hai chiếc cọc, một dây thừng và một que chống thừng cho căng. Tất cả vật liệu để lập trống quân chỉ có thế, nhưng trong tháng trung thu từ đêm mùng bảy tới đêm mười sáu, trống quân lập nên tại một xóm nào ở làng quê là trai gái trong làng kéo nhau tới hát và nghe hát.
Hai chiếc cọc đóng giữ hai đầu thừng, có khi là một sợi mây; dây thừng bắt qua chiếc thùng nằm vào khoảng giữa hai đầu. Chiếc que chống chiếc thừng trên mặt thùng cho dây thật căng.
Dây càng căng, tiếng văng càng dài. Đánh trống quân là một chiếc dùi trống nhỏ bằng tre. Dùi tre đập vào thừng văng ra những tiếng thình thùng thình.
Tại các làng quê, vào dịp Trung thu, trai gái làng quê trước đây thường lập trống quân để hát mua vui với nhau. Có khi là con trai, có khi là
Trang sách 132TOAN ÁNH con gái. Hát đối đáp là cái thú của trai gái chưa vợ chưa chông. Một chàng trai đi đến một xóm có lập trống quân. Chàng vào hát nhưng chỉ muốn hát với những gái còn son rối. Ngồi xuống đám trống quân, câm chiếc dùi đánh trống, tiếng thình thùng thình bật ra, chàng bắt đầu ca :
Tháng tám anh đi chơi Xuân (1) Đồn đây có hội trống quân anh vào Thinh thùng thình Trước khi hảt anh có lời rao, Không chông thời vào, có chồng thời ra Thình thùng thình !
Có chồng thời tránh cho xa Không chồng ta sẽ lân la tới gần !
Thình thùng thình Tiếng rằng ca hát đối đáp thường dành cho trai gái thanh tân, đôi khi cũng có những người đã thành gia thất nhưng vẫn muốn hát để nhớ lại thuở còn con gái. Các người nầy cũng lập nên trống quân nhưng chính họ là người hát trước, và họ cũng không dấu gi tình trạng hộ tịch của họ, họ đã có chồng và có cả con :
Trống quán em lập nên đây Ao rửi làm chiếu, khăn quây làm mùng.
Thình thùng thinh. (1) Có lẽ xuân đày là tuổi xuân.
Trang sách 133CẦM CA VIỆT NAM Mua vui với ánh trăng trong Có con cũng hát, có chồng cũng chơi.
Thình thùng thình Con thì em mướn vú nuôi.
Chồng thi em để hát nơi xóm nhà Thình thùng thình Với câu hát trên, người hát đã nói rõ tình trạng gia đình của minh, bên Nam ai hứng thy hát, ai không chịu thì đi tìm đám trống quân khác mà hát với các cô thiếu nữ chưa chồng.
Trống quân nhiều khi lập nên, chỉ có một bên nam hoặc nữ. Họ chờ đợi người tới hát. Họ đánh trống và hát một mình để như mời người tới đối đáp.
Trống quân anh đánh nhịp ba Lúc vào nhịp bảy, lúc ra nhịp mười!
Thinh thùng thình.
Hoặc là họ hát những câu bông đùa để khuyến khích những người còn lảng vảng bên ngoài chưa dám ngồi xuống hát. Thường các cô thiếu nữ hay khiêu khích những chàng trai:
Trống quân có đĩa thịt bò, Những anh không vợ đi mò cả đêm !
Thinh thùng thình !
Hoặc :
Trống quân, trống quít, trống còi, Ta chẳng lấy nó, nó đòi lấy ta.
Trang sách 134TOAN ÁNH NHỮNG LỐI HÁT TRỐNG QUÂN Nếu hát quan họ khi hát có ba giọng chính để đối đáp với nhau thì trống quân chỉ có một giọng, nhưng câu hát lại nhiều, người hát có thể ứng khẩu đặt ra câu hát được.
Hát quan họ, vì ở nhà quê, trong những buổi hát hội thường hát giọng đôi, và câu hát phải hát theo giọng, nên phải có câu hát trước, không thể ứng khâu được; hai người hát, một người ứng khẩu, người kia biết sao mà theo.
Hát trống quân dễ ứng khẩu, câu hát do đó thay đổi tùy người đi người hát, và với sự ứng khẩu, câu hát thường nói lên rõ được tình tiết tâm trạng của người hát.
Hát trống quân có hai lối hát:
- Hát vận, là hát theo vân - Hát đố, là hát thành những câu đố bắt buộc đối phương phải trả lời.
HÁT VẬN Đây là lối hát thông thường mỗi khi có trống quân lập nên. Hát chỉ cần theo vần, người hát hoặc dùng những câu hát sẵn hoặc tự đặt ra những câu hát mới, thường theo thể lục bát hoặc lục bát biến thể.
Đã đi đến chốn thì chơi, Đã đi đến chốn tiếc lời làm chi !
Trang sách 135CẦM CA VIỆT NAM Đã gặp nhau ở đây thì, Hát năm ba khắc bỗ khi vắng nhời.
Đó là một câu thông thường trai gái thường hát lúc bắt đầu cuộc hát.
Có khi bên gái lập nên đảm trống quân, có những chàng trai hát giỏi tuy đã tới đám nhưng chưa chịu ngồi vào hát. Bên gái mời :
Đốn chàng là khách tài hoa, Mời chàng đối đáp một và trống canh.
Có lá mà lại có cành, Có em mà lại có mình mới vui!
Câu mời sao mà khéo léo. Chàng trai biết cô gái muốn mời mình, ngôi vào đám hát, và đề tạ lòng người đẹp, chàng cũng hát một câu rất là phong nhã :
Người thanh lời nói cũng thanh Thấy ai lịch sự lòng anh vui mừng !
Đêm trăng sáng chỉ có chừng Đôi ta đã gắp thi đừng xa nhau.
Những trai gái trống quân lúc hát thường đã biết nhau nhưng cũng nhiều khi gặp người lạ.
Trong trường hợp này họ dò xét tình ý nhau qua câu hát, hỏi thăm nhau đã thành gia thất chưa, đôi bên bằng lòng nhau liệu bác mẹ có lác thành cho chăng.
Thấy nàng anh cũng muốn thương Sợ nàng còn vướng tơ vương nẻo nào !
Trang sách 136TOAN ÁNH Xuân xanh mấy độ trăng cao, . Yêu nhau bác mẹ vun vào cho chăng ?
Có những câu hát trai gái thử tài nhau xem chàng có phải là con người học thức, xem nàng có phải là gái trâm anh biết đủ điều tử đức tam tòng.
Đây là gái thử trai:
Truyện Kiêu anh đọc đã lầu, Xin anh hãy kể một câu hết Kiêu.
Chàng trai chỉ việc đáp:
Trăm năm trong cõi người ta, Mua vui cũng được một và trống canh.
Hoặc bên gái thử bằng những câu sau :
Truyện Kiều anh đọc đã thông, Xin anh hãy kể một dòng chữ Nho.
Đáp :
Hồ công quyết kế thừa cơ, Lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công.
Trong câu trên toàn chữ Nho, không có một chữ Nôm nào.
Hay câu sau đây:
Truyện Kiều anh kể đã thông, Xin anh hãy kể một dòng chữ Nôm.
Đáp :
Này chồng, này mẹ, này cha, Này là em ruột, này là em dâu.
Trang sách 137CẦM CA VIỆT NAM Trong câu trên toàn chữ Nôm, không có một chữ Nho nào.
Đấy là những câu gái thử trai, những câu trai thử gái cũng nhiều :
Thấy em là gải trậm anh, Hỏi em hai chữ bố kinh thế nào ?
Đáp :
Bố kinh thờ mẹ thờ cha, Thờ chồng trọn đạo cùng là nuôi con.
Và có khi chàng trai đi sâu hơn :
Thấy em anh cũng quí lòng, Hỏi em tứ đức, tam tòng là chi ?
Đáp :
Theo cha rồi lại theo chồng, Khi chồng trăm tuổi, dốc lòng theo con.
Tam tòng đạo ấy vuồng tròn, Thì câu tứ đức ai còn nghĩ suy !
Công, dung, ngôn, hạnh nữ nhi Phận em là gải em thì phải theo.
Trong những đám hát như vậy, hai bên đều thuộc nhiều câu hát và hai bên đều có tài ứng khẩu để trả lời nhau.
Thường trai cũng như gái, trong những đám trống quân tháng tám, mỗi bên có đội ba người, luân phiên nhau hò hát đề mua vui. Tuy mỗi bên mấy người, nhưng cập trai gái nào có tình ý với nhau, họ chỉ đối đáp với nhau.
Trang sách 138TOAN ÁNH Có những đảm hát thi, mỗi bên chỉ một người hát cho đến mãn cuộc.
HÁT ĐỐ Hát vận là hát theo vần, dùng những câu có vần mà hát với nhau.
Trong những cuộc hát thi hoặc trong đám hát mà trai gải hai bên đều muốn cho người nghe hát cùng thấy rõ tài nghệ của mình, họ thường dùng những câu hát đố bắt đối phương phải trả lời.
Những câu đố có khắp trên mọi lãnh vực, về luân lý, về lịch sử, về vạn vật cũng như về những điều thông thường cần biết.
Dưới đây là mấy thí dụ.
Hỏi:
Cái gì nó bé nó cay ?
Cái gì nó bé nó hay cửa quyền ?
Đáp :
Hạt tiêu nó bé nó cay Đồng tiền nó bé nó hay cửa quyền.
Hỏi :
Đỗ ai biết đá mấy hòn, Núi cao mấy ngọn, trăng tròn mấy trăng ?
Đố ai biết lúa mấy cây Biết sông mấy khúc biết mây mấy từng?
Đây là một câu đố mẹo, vì đố những điều không ai có thể trả lời được. Đáp lại một câu đố
Trang sách 139CẦM CA VIỆT NAM mẹo, người ta cũng phải trả lời mẹo :
Đá kia chỉ có một hòn, Núi kia một ngọn, trăng tròn đêm nay.
Lúa kia chỉ có một cây.
Sông kia một khúc và mây chín từng.
Trong câu trả lời, người đáp đã thông thường hóa những điều mình trả lời. Đá nào biết bao nhiêu hòn, nhưng đá nào cũng là hòn đá, vậy chỉ dùng hai tiếng hòn đá bất cứ hòn đá nào. Ngọn núi, khúc sông và cây lúa cũng vậy. Ai biết mà đếm được, cho nên bất cứ ngọn núi nào cũng là ngọn núi, khúc sông nào cũng là khúc sông và cây lúa nào cũng là cây lúa.
Riêng có trắng tròn thì đêm nay dưới ánh trắng thu đôi bên ca hát với nhau trăng đang tròn vậy.
Mây được trả lời là chín từng vì ca dao có câu :
Nhất cao là chín từng mây.
Và câu đố dưới đây tương tự như những câu hỏi về vạn vật :
Hỏi :
Quả gì năm múi sáu khe, Quả gì !nứt nẻ như đe thợ rào?
Quả gì kẻ ước người ao, Quả gt lấp lánh như sao trên trời!
Quả gì ăn đủ năm mùi, Quả gì to lớn có người ngồi trong ?
Trang sách 140TOAN ÁNH Quả gì thích chữ trạm rồng, Quả gì cùi trắng nước trong hỡi chàng ?
Quả gì da nó vàng vàng, Quả gi lăn lóc giữa đàng cái đi ?
Quả gì da nó sử sì, Chàng mà đáp được, thiếp thì theo không.
Đáp :
Quả khế năm múi sáu khe, Quả na nứt nẻ như đe thợ rào.
Quả mận kẻ ước người ao, Quả mơ lấp lánh như sao trên trời.
Quả lê ăn đủ năm mùi, Quả động to lớn có người ngồi trong.
Quả chuông thích chữ trạm rồng, Quả dừa cùi trắng nước trong đó chàng !
Quả thị da nó vàng vàng, Bùa yêu lăn lóc giữa đàng cái đi.
Quả mít da nó sù si, Nay anh giảng được em thì theo anh.
Mãy câu đối đáp trên chỉ là một thiểu số trong hàng trăm câu hát đối đáp có sẵn.
Trai gái, khi hát thường chỉ dùng những câu hát vận mới nói lên được hết cảm tình yêu thương của nhau. Ít khi dùng đến hát đổ như trên đã trình bày. Cũng có khi trong làng, trai xóm này gặp gái xóm khác, đôi bên tức khí nhau mới dùng đến
Trang sách 141CẦM CA VIỆT NAM những câu hát đố, mục đích để dằn mặt nhau và đánh bại nhau trong câu hát.
NGUỒN GỐC TỤC HÁT TRỐNG QUÂN Hát trống quân là một lối hát thuần túy Việt Nam. Có người cho rằng lối hát nầy bắt nguồn từ đời nhà Trần. Thời đỏ khi quân Việt phải chống quân Nguyên, đức Trần hưng Đạo đặt ra lối hát trống quân đề quân lính mua vui với nhau.
Cũng có người lại cho rằng hát trống quân là một tục của người Tàu truyền sang Việt Nam và bảo răng tục hát này bắt đầu từ đời nhà Tống. Lúc bấy giờ nước Tàu bị quân Nhụng dịch quấy rối, quân sĩ phải đi đánh giặc nhiều, nhớ nhà nên ông Bao Công mới đặt ra tục hát trống quân để quân lính đóng bên Nạm, bên Nữ hát với nhau cho đỡ nhớ nhà.
Ông Văn Thôn trong Văn Hóa Nguyệt San số xuất bản về tháng 6, 7-1957, lại cho tục hát trống quân mới có từ đời vua Quang Trung. Ông đã viết :
Riêng về nước ta, vị anh hùng dân tộc Quang Trung cùng đánh dấu ngày rắm tháng Tám bằng một cử chỉ không nhuộm vẻ hoang đường, đài các nhưng vô cùng thiết thực mà nên thơ. Muốn cho binh sĩ theo ngài đi dánh Đông dẹp Bắc, quên nỗi nhớ nhung cổ quận, vua Quang Trung đã cho họ trong các giờ nhàn rồi, nhất là các đêm gió mát
Trang sách 142TOAN ÁNH trăng thanh, cùng nhau hát nhịp, để vừa hát đối, một bên nam, một bên nữ, vừa đánh nhịp vào một đường dây thép, căng trên một chiếc thùng rổng ruột. Nhân dân thấy hay lạ, đã bắt chước rồi áp dụng cuộc tiêu khiển vào ngày hội rằm tháng tám mà gọi đó là tục hát Trống Quân.
Y kiến của Ông Văn Thôn không biết đúng hay sai, nhưng có điều chắc chắn là hát Trống Quân là một lối hát rất phổ thông lại miền Bắc, nhưng lại rất ít thấy tại hai miền Trung và Nam.
Nếu đúng hát Trống Quân do vua Quang Trung đặt ra cho quân lính và được dân gian bắt chước, hát trống quân phải được phổ cập nhiều ở miền Trung, nhất là ở phía Nam mới đúng.
Dù tục hát Trống quân có từ đời nào, và do ai đặt ra thì tục này cũng đã ăn sân vào phong tục dân quê Việt Nam, và đã là một trong ba lối hát giao tình chỉnh của nam nữ thanh niên Bắc Việt trước đây.
HÁT CÒ LẢ Ngoài ba điệu dân ca chinh để trai gái hát trao tình với nhau, miền Bắc còn một điệu hát rất đáng kể và cũng rất phổ thông đó là điệu hát cỏ lả.
Điện hát này không dùng để hát hội, thường chỉ được hát trong lúc làm việc khi có một bọn nam nữ, hoặc hai bọn nam nữ cùng đối đáp. .
Trang sách 143CẦM CA VIỆT NAM Thí dụ :
Câu hát:
Con cò bay lả bay la Bay ra cửa Phủ bay về Đồng Đăng Điệp khúc :
Tinh tính tang, tang tính tinh Cô mình ơi, cô mình rằng, rằng có nhớ, nhớ hay quên.
Câu hát thường là một câu lục bát, do một người hát, còn điệp khúc do cả bọn cùng ca.
Điệp khúc, điệu không thay đổi, nhưng lời đôi khi thay đổi.
Thí dụ :
Mừng nay vận mở thái hòa, Bốn phương lạc nghiệp âu ca thái bình.
Điệp khúc:
Tình tính tang, tang tính tình Dân làng ơi, dân làng rằng, rằng có nhớ, nhớ hay quên.
Thường thì trai gái gọi tới nhau trong điệp khúc.
Tròng trành như nón không quai, Như thuyền không lái như ai không chồng.
Điệp khúc:
Tinh tính tang, tang tính tinh.
Cô mình ơi, cô mình rằng, rằng có nhớ, nhớ hay quên.
Hoặc :
Trang sách 144TOAN ANH Người ta chồng trước vợ sau, Anh kia không vợ như cau không buồng.
Điệp khúc :
Tình tính tang, tang tinh tinh Anh chàng ơi, anh chàng rằng, rằng có nhớ, nhớ hay quên.
Hát cò lả là một điệu hát rất vui, vui vi nhiều người hát và giúp đỡ người ta quên mệt trong lúc làm việc, nhất là công việc ngoài đồng.
Cái vui của trai gái làm vui cả những người đứng tuổi cùng làm việc, nhất là các bà già thường vun vào đề trai gái làng thương yêu nhau.
HÁT CÁC PHƯỜNG Đây là những lối hát đặc biệt của vùng Nghệ Tỉnh. Chính ra những lối hát nầy chỉ là biến thể của hát ví vùng Nghệ Tĩnh và được ca hát trong những khi làm việc thuộc các nghề thủ công và làm ruộng.
Như trên đã trình bày, câu hát trợ lực cho việc làm giải trí con người trong những lúc nghỉ ngơi và trong những khi hội hè đình đám; đây là cuộc chung vui của cả người hát lẫn người nghe.
Tại vùng Nghệ Tĩnh các nghề nghiệp được tổ chức thành phường, và những phường này trong khi làm việc trai gái thường ca hát với nhau, để việc làm tăng thêm năng xuất và cũng là dịp để trai gái trao tình với nhau, có khi kén bạn trăm năm qua câu hát. Những cuộc hát phường có tổ
Trang sách 145CẦM CA VIỆT NAM chức nhất là hát phường cấy và hát phường vải, Ngoài rạ cũng còn nhiều phường khác nữa như phường buôn, phường củi v. v... (1) HÁT PHƯỜNG CỦI Đúng ra phải gọi là hát chặt củi, vì câu hát được mọi người hát trong lúc rủ nhau đi chặt củi trong rừng.
Nghệ An, Hà Tĩnh nhiều rừng núi, dân chúng sau những vụ mùa, công việc đồng áng đã vợi, rủ nhau vào rừng chặt củi. Họ đi với nhau thành từng đoàn, như vậy đề vừa vui công việc vừa hỗ trợ lẫn nhau nếu bất thần có hoạn nạn như gặp thú dữ, bị cây cõi đè, bị té ngã hoặc bị bất cử tai nạn gì.
Có đông vui, là có hát. Họ hát để quên mệt và cũng là để trai gái nhắn nhủ nhau.
Đi chặt củi, ngay từ sáng tinh mơ thanh niên, thanh nữ đã cùng nhau mo cơm, đòn sóc và lạt hợp nhau ở ngã ba đường đề cùng đi thành từng hàng vào rừng. Họ phải leo núi, băng suối tới nơi có nhiều củi.
Núi Hồng Lĩnh thường được dân các hạt Can Lộc, Nghi Xuân, Đực Thọ, Thạch Hà kéo nhau vào chặt củi và họ gọi núi nầy là núi Ngàn Hống.
Đoàn người vào tới rừng, tản mát ra mỗi người một bụi để chặt củi. Công việc vất vả, họ (1) Những câu hát các Phường ở đây đều trích trong cuốn Hát ví Nghệ Tĩnh của Nguyễn chung Anh,
Trang sách 146TOAN ÁNH vui vẻ làm. Trưa họ nghỉ ăn cơm rồi lại chặt cho đến chiều.
Vừa chặt củi, thỉnh thoảng có người cất lên tiếng hát.
Không đi thi nhớ thì thương.
Ra đi lên động xuống truông nhọc nhằn.
Động là con đường lên dốc núi, còn truông là con đường hẻm giữa hai trái núi. Câu hát trên nói lên sự nhớ thương của họ đối với núi rừng và nói lên sự nhọc nhằn khi đi chặt củi.
Hát để tả sự nhọc nhằn, hát để ca tụng công việc, nhưng hát nhiều hơn là những khúc hát yêu đương.
Đợi chở anh với em ơi, Sau rồi lên ngược xuống suôi anh chở !
Tiếng hát vang lên trong khu rừng ở một bụi nào, hòa với tiếng dao chặt vào củi như làm nhịp cho câu hát. Một tiếng hát cất lên ở bụi nầy, lập tức ở bụi kia có tiếng êm ái đáp lại:
Lên rừng những lách cùng lau, Những săng cùng cỏ biết anh đâu mà chờ !
Và không lâu, câu hát chưa dứt ở một bụi thứ ba đã có một chàng trai lên tiếng :
Tiếng ai nói với bên non Muốn sang coi thử có dòn hay không ?
Có câu hỏi ắt có câu trả lời:
Một ngày hai bận trèo non Lấy gì mà đẹp mà dòn hỡi anh !
Trang sách 147CẦM CA VIỆT NAM Tiếng hát lên, tiếng đáp lại, khu rừng rậm bỗng rộn ràng sinh khí. Pha vào đấy là những tiếng cười và đôi khi là những câu nói tạo cho khung cảnh thêm vui vẻ.
Với những câu hát, thời gian đi quá mau và công việc cũng nhiều kết quả, củi đẫn nhanh hơn, chẳng mấy chốc người người đều được một gánh nặng.
Đoàn người gánh củi trên vai lại đi thành hàng để trở về làng. Ra khỏi rừng có người còn quay nhìn lại như luyến tiếc, và có khi một câu hát lại được cất lên.
Ra về chỉ một ngóng (nhin) theo Ngóng rừng rừng rậm, ngóng đèo đèo cao !
Tiếng hát vang, bước chân nhịp nhàng, phường củi thoăn thoắt bước, gánh củi kẽo kẹt trên vai chẳng mấy lúc đã về tới làng.
Một câu hát của người đi đầu báo tin cho làng xóm biết phường củi đã về :
Động cơn (cây) Mai thì hốc (dốc) Động trợ Đó thì dài Ra đến động Hai vai Thậm chừng chi là khỏe Chi thậm chứng là khỏe Câu hát của người đi đầu vừa dứt, mọi người đi sau đồng thanh tiếp vào hai tiếng Hay chừa (đã hay chừa).
Trang sách 148TOAN ÁNH Thật là vui, thậm là vui. Củi được nhiều, một ngày qua không phí một ngày.
HÁT PHƯỜNG CẤY Hát phường cấy có ở khắp vùng Nghệ Tĩnh, nhất là nơi nào nhiều ruộng.
Mùa cấy, nhà nông phải mượn thợ cấy để cấy lủa, và thợ cấy thường đi thành phường, trong phường thợ cấy thế nào cũng có đôi ba cô nhan sắc. Trai làng thấy có phường cấy, lại có các cô thợ cấy duyên • dáng xinh đẹp, là ngay buổi chiều hôm đó, cơm nước xong các cậu rủ nhau một bọn tợi nhà có phường cấy để xin phép chủ nhà hát đối đáp với gái phường. Lại những câu hát yêu đương tình tứ của vùng Nghệ Tĩnh mà dưới đây xin trích ra ít câu.
Thoạt tiên là những câu xã giao chào hỏi :
Nhân đêm thong thả mát trời, Nghe tin bướm nhắn, vội dời gót qua.
Đến đây mừng cảnh mừng hoa, Trước mừng hai cố, sau ra mừng phường, Hai cố đây tức là ông bà chủ nhà còn phường tất nhiên là phường thợ cấy.
Chào xong rồi đến mời, vì các cô trong phường bao giờ cũng làm cao, phải mời mọc các cô mới chịu hát.
Đến đây không hát cũng đàn, Lễ nào đâu có lẽ con người ngoan chối từ !
Trang sách 149CẦM CA VIỆT NAM Mời một lần không được thì mời lần nữa, hoặc tìm những câu hát khích lòng tự ái của các cô trong phường.
Ôm đờn mà gảy năm cung Biết ai đem nhị ra mà gảy chung với đàn.
Rút cuộc bên gái bắt lời, và đôi bên câu qua câu lại cho tới thật khuya các chàng trai mới trở ra về. Chàng hát, nàng hát, vui thật là vui !
Ở nhà con khách mách tương liên Con nhện sa trước mặt, đi ra tự nhiên gặp nàng!
Vừa ra vừa gắp anh đậy, Một là duyên kỳ ngộ, hai trời xây đất vần.
Trong khi hát, đôi bèn lựa câu hỏi thăm quê quán với nhau.
Đến đâu lạ bến, lạ rào (sông), Hỏi con chim hồng nhạn ở phương nào lại đây ?
Kẻo mai nhớ núi chim về, Ai nhỏ chim muốn hỏi biết thư đề ra sao ?
Đấy là lời chàng trai hỏi cô gái. Cô gái đáp lời và đồng thời cũng như hỏi thăm lại chàng trai về danh tính Em đây là con chim phượng, Chị em đó là con chim nga, Từ Bằng Sơn bay lại, bướm gắp hoa là tinh.
Hỏi anh quý tánh phương danh,
Trang sách 150TOAN ÁNH Mai ra đường gặp bạn, khỏi mang tiếng vô tình làm ngơ.
Chàng trai trong câu hát đáp sẽ cho biết tên họ của mình và có khi cho biết cả tuổi, và tỏ ý săn sóc tới các cô gái, chàng hỏi thăm anh chị em cha mẹ cô một cách văn hoa :
Hỏi em cây quế mấy ngành Cây sung mấy nụ, cây hành mấy hoa ?
Hỏi em phụ mẫu tại gia, Chị em sum họp mấy nhà mấy nơi?
Lời hỏi han đã khéo léo chưa, và thật là bóng bảy tài tình.
Và đây là lời cô gái đáp lại, và cô gái cũng hỏi thăm đến anh em cha mẹ của chàng trai như chàng trai đã hỏi nàng.
Thưa anh cây quế năm ngành Cây sung năm nụ, cây hành năm hoa Song thân thượng lại ở nhà Hai anh đầu chị cả, việc thất gia đành rồi Còn anh Lan quế mấy chồi Hai ông Bà thượng tại? Anh trả lời cho em...
Hỏi thăm về gia đình, rồi họ lại ướm dọ nhau xem đã có nơi có chốn nào chưa :
Trăng lên có chiếc sao chầu, Hỏi thăm đào liễu đã ăn trầu ai chưa?
Mận hỏi thi đào xin thưa :
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Trang sách 151CẦM CA VIỆT NAM Hai bên nam nữ hát với nhau cho tới khuya, dàn làng tới nghe hát cũng đông, nhưng càng về khuya người dự thính về dần. Đôi bên cũng phải cùng nhau tạm biệt. Họ hát từ giã nhau với những câu hát kể lể niềm thương nỗi nhớ.
Ra về răng được mà về ?
Bức thư ai gửi, lời thề ai trao?
Ra về răng đứt răng đành ?
Ra về bỏ mối tơ mành ai quây ?
Ra về dặn trúc dỏ mai, Dăn đảo với liễu chớ nghe ai pha dèm.
Ra về lòng lại dặn lòng Cam chua chở phụ, ngọt bồng chở ham.
Vi cam nên quít đèo bồng Vi anh cần mẫn nên lòng em mơ.
Bọn trai ra về, ra tới ngõ còn hát quái trở lại như nhớ tiếc và để hẹn hò:
Ra về bẻ lá cắm đây, Đến mai ta nhớ chốn này ta đi.
Bọn trai hát quái lại thì bọn gái ở trong nhà cùng hát vọng ra :
Trăng khuya soi bóng anh đi
Trang sách 152TOAN ÁNH Thấy chân anh bước rọt (ruột) em thi quặn đau.
Cuộc hát đã tốt đẹp, đôi bên đã có lời hứa hẹn, sau khi đã cùng nhau tỏ tài đối ứng. Cũng có những trường hợp, trai gái trong khi hát khích bác nhau, và như vậy là hát không kết.
Trường hợp hát không kết là đôi bên bắt bẻ, vặn hỏi, thách đổ nhau đi đến chỗ bí mà hỏng cuộc hát. Có khi còn dùng câu hát mà chửi nhau là khác nữa. Những cuộc hát như vậy cũng rất ít xảy ra (1) Hát phường cấy vùng Nghệ Tĩnh cũng tương tự như hát ví nhiều tỉnh miền Bắc, gặp khi ngày mùa, các nông gia có đón thợ cấy thợ gặt thì các trai làng thường rủ nhau xin phép nhà chủ được cùng các cô thợ cấy, thợ gặt hát ví một đêm.
HÁT PHƯỜNG VẢI Hát phường vải là lối hát của những cô thợ dệt vải. Dân chúng nhiều Xã thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có nghê dệt vải, và trong lúc đưa thoi dệt vải, họ có những câu hát, hát với nhau đề quên công việc. Hát với nhau nhưng nếu có những chàng trai muốn đến hát thử tài với họ, họ sẽ không từ chối.
Nghề dệt vải có thể nói là một nghề sung túc, và con cái trong gia đình thường được đi học, có khi con gái cũng được cắp sách đến nhà các ông (1) Nguyễn chung Anh.- Tài liệu đã đẫn.
Trang sách 153CẦM CA VIỆT NAM đồ ăn mày đạo thánh. Bởi vậy trong vùng có nhiều học trò họ cầm trịch trong những buồi hát, họ gái những câu hát để thử tài với nhắc cho các cô. các chàng trai.
Hát phường vải có nghi thức, không giản dị như các lối hát của các phường khác, tuy tựu trung vẫn chỉ là hát đối đáp giữa trai gái.
Đề bạn đọc có một ý niệm về lối hát phường vải, chủng tôi xin in ở phần tài liệu đọc thêm một bài viết về lối hát nầy.
HÁT PHƯỜNG BUÔN Nhiều nơi vùng quê, sau những vụ mùa màng, người dân quê mang nông phẩm của mình đi bán, hoặc nhân lúc việc đồng áng ránh rang mua nông phầm của dân làng mang đi bán ở các nơi khác.
Đây chỉ là những chuyến buôn bán tạm bợ, vì sự sinh sống chính là nông nghiệp.
Dân chúng vùng Nghệ Tĩnh cũng vậy. Đi bán nông phẩm như vậy họ họp nhau thành từng phường vì thường hàng mang bán ở chợ xa, họp thành phường đi cùng cho vui, đề có sự giúp đỡ nhau khi cần thiết. Những phường buôn này gồm những người cùng buôn bán một thứ hàng và theo hàng hóa người ta gọi tên phường, phường củ nâu, phường chè, phường gạo, phường chiếu v. v...
Phần nhiều là dân quê nghèo, những người sung túc họ thường nghỉ ngơi sau mùa màng đề bù lại
Trang sách 154TOAN ÁNH sự vất vả của công việc nhà nông, và nông phẩm của họ, họ bán ngay tại nhà cho những người các phường tới mua mang bán đi các chợ.
Họp thành phường như vậy, họ tồ chức những cuộc hát với nhau. Thường thường họ đến nơi bán hàng từ ngày hôm trước để hôm sau họp chợ sớm. Tối hôm đó, các chàng trai hoặc ở các phường khác, hoặc ở nơi có chợ lìm tới các phường có các cô thiếu nữ để xin hát một canh.
Cũng là đề giải trí, nhất là đề khoe tài, và đôi khi qua những cuộc hát phường đã có những đôi trai gái trở nên đôi bạn, nên các cô gái phường có trai phường khác hoặc trai làng chợ tìm đến yêu cầu hát, ít khi các cô từ chối.
Những câu hát của phường buôn cũng không qua những lời trao tình nồng thắm, những câu hỏi han nhau về gia cảnh, về lửa đôi, những câu ước hẹn chung tình.
Nghe tin em buôn bán tảo tần Khi đi xuôi, về ngược có nợ nần chi ai không ?
Anh quen chưa ráo mồ hôi, Chưa trưa buổi chợ đã chia đôi nẻo đường.
Em đang buôn bán cõi này, Khifđi xuôi về ngược, ghe(còn) có ngày gặp nhau.
Trang sách 155CẦM CA VIỆT NAM Ra về chân bấm, chân quỳ Bạn quen nhớ một, khách tương tri nhớ mười !
Ngoài những câu hát yêu đương, vì họ là phường buôn, nên thỉnh thoảng có thêm vào những câu hát liên quan tới nghề nghiệp, chê những sự lọc lừa mua rẻ bán đắt, đong đầy bán vơi :
Mẹ em cầm đấu đi lừa, Tham hơn ba hột, giã chưa đến trày (chày) Ai đã sống ở nông thôn, đã ăn gạo giã bằng cối ắt hiểu gạo phải giã đủ một số bao nhiêu chày mới trắng, gạo giã chưa đến chày là gạo giã dối và như vậy là do sự tham lam của người buôn gạo.
Chính vì sự tham lam buôn rẻ bán đắt, buôn đầy bán vơi nên người đời mới có câu mai mỉa :
Thực thà cũng thể lái buôn !
Và trong khi hát với phường buôn, đã có những người lên tiếng chê bai phường buôn :
Cha gang, mẹ sắt, con đồng, Tội gi mà lụy trong vòng nhà thau ?
Đói cơm mà hơn no rau Khó mà quân tử hơn giàu lái buôn.
Nhưng dù ai chê bai phường buôn thì mặc, phường buôn lại gặp phường buôn, và đã có nhiều đôi kết chỉ xe tơ cùng nhau nối duyên tần tấn cho đến đầu bạc răng long.
Hát với nhau, họ nhớ nhung nhau, và trong những ngày xa cách họ hằng nhắc nhỏ đến nhau .
Trang sách 156TOAN ÁNH Mấy lâu ni chợ đón không đi Đỏ lường không ngược, không biết anh mắc công chi ở nhà (1) Trên đây là mấy lối hát của mấy phường Nghệ Tĩnh. Còn nhiều phường khác với những lối hát riêng, mỗi phường có một vài nét đặc biệt và mỗi phường lại có những câu hát nói về nghề nghiệp của mình, còn ngoài ra phần nhiều là những câu hát trao tình của trai gái. • Các phường đó là :
- Phường gặt, câu hát và hoàn cảnh hát cũng tương tự như phường cấy.
- Phường nón, làm nón, làm áo tơi.
- Phường đan, đan những đồ dùng bằng mây, • tre.
- Phường chiếu, dệt chiếu.
- Phường vàng, làm vàng mã.
- Phường đường, nấu đường mía.
- Phường vá lưới, vá lưới đánh cá.
HÁT GIẶM Hát giặm cũng là một lối hát đặc biệt của vùng Nghệ Tĩnh như hát cáe phường. (1) Đò Lường là chuyến đò ngược lên chợ Đô Lương, tịnh Nghệ An.
Trang sách 157CẦM CA VIỆT NAM Hát giặm là hát thế nào ? Muốn hiểu hát giặm là thế nào, trước hết cần phải hiều giặm là gì :
Nguyễn đồng Chi trong hát Giặm Nghệ Tĩnh quyền một đã giải thích giặm là đem một vật gì nhét vào, chắp vào, đệm vào, điền vào hay phổ vào một cái gì còn khuyết, một cái gì còn có thể chứa được.
Trong lúc hát giăm đối đáp, người trả lời phải liên vận với câu cuối của người hát hỏi. Thí dụ :
Hỏi:
Tôi hỏi mợ mấy lời, Xin mợ tường cho vẻ tỏ.
Đáp :
Lời cậu vừa nói đó, Xui dạ thiếp âu sầu Nối liền vận như vậy là giặm, và cũng còn gọi là bắt xắp, do đó hát giặm còn được gọi là hát xắp hạy hát Luồn (1). Luồn là len lỏi, ở đây là theo vần của người trên mà bắt vần câu hát.
Hát giặm có ba lối :
- Hát ứng khẩu để đối đáp giữa trai gái, - Hát ứng khẩu giữa các hạn bè kể lên những câu chuyện mới xảy ra ở trong vùng hoặc ở nơi xa mới đồn đến. Cũng có khi có người biết hát đến chơi nhà bạn, hát chào mừng khen cái hay cái tốt (1) Nguyễn đồng Chi.- Hát giặm Nghệ Tĩnh I.
Trang sách 158TOAN ÁNH của bạn. Ông Lê văn Hảo đặt tên lối hát này là Hát Giặm thời sự (1).
- Hát giặm vè, dùng để kể đầu đuôi một cân chuyện hay một sự tích, văn thể gần giống như vè.
HÁT GIẶM ỨNG KHẨU Trong ba lối hát giặm, lối hát ứng khẩu giữa nam nữ trai gái là lý thú và thịnh hành hơn. Trong cuộc hát giặm này, trai gái có dịp tỏ tài cùng nhau.
Cũng như hát vi, khi đi hát giặm, người ta họp nhau thành đoàn do một người cầm đầu gọi là tay bẻ chuyện. Tay bẻ chuyện phải là người hát hay, bặt thiệp khéo léo để có thể noi theo câu hát của phe địch mà đối đáp cho sát nghĩa rồi nhân đó hỏi văn lại (2).
Cùng với người bẻ chuyện còn có một hai người cặp, người cặp hát lắp theo câu hát của người bẻ chuyện, làm sao cho giọng hát được đồng đều liền với nhau phát ra, có như vậy gọi là hát cặp và không phải là một việc dễ dàng. Người cặp phải là người hát khá và có thể trở nên người bẻ chuyện của một đoàn khác. Trong một đoàn cũng có người không biết hát, đi theo đoàn để tập hát.
Người bẻ chuyện phải giỏi giang để trong khi (1) Lê văn Hảo. - Vài nét về sinh hoạt của hát giặm và hát ví, dân ca Nghệ Tĩnh. Đại Học số 34, tháng 8_1963, (2) Nguyễn đồng Chi.- Sách đã dẫn.
Trang sách 159CẦM CA VIỆT NAM đối đáp có thể ứng khẩu hát lên hàng chục, hàng trăm câu hát trong mỗi canh hát.
Hát giặm có những thủ tục riêng.
Lúc khởi sự hát, bên nam bắt đầu đứng lên xướng trước một vài lời giáo đầu cà kê bông lông.Chờ khi bên nữ có người cất giọng là câu chuyện mới bắt vào đề (1).
Trong lúc hai bên hát, có thiên hạ đứng nghe bốn phía. Dưới đây là một câu hát giáo đầu :
Tui cũng ngủ yên rồi, Cậu cũng ngủ yên rồi, Nghe đứa hú sau hồi, Tui thức chước dậy ngồi, Than với mụ một lời :
Giừ tau thủ phận rồi Nhưng tính tau hay nhởi hay chơi Giừ hắn kéo hắn lôi Nhân trăng sáng rạng trời Theo bầu bạn đi chơi (2) Câu giáo đầu trên là theo lối cổ, nhưng có những câu giáo đầu rất ngộ nghĩnh khiến người nghe lấy làm thú vị. Sau đây là một câu ca tụng thổ sản hải sản của quê hương họ để dần bắt sang quang cảnh cuộc hát.
Ruốc tui ngon lắm bà ơi Ngon bằng năm ruốc họ (1) Nguyễn đồng Chi - .Sách đã dẫn.
Trang sách 160TOAN ÁNH Ngon bằng mười ruốc họ Nhân trời thanh trăng tỏ Sau câu hát giáo đầu là câu nhập đề. Phái nam hát câu nhập dề kèm theo những lời hát chào mừng.
Tui nhớm bước chân ra, Cậu nhớm bước chân ra, Cũng không phải say đắm nguyệt hoa, Nhân chuyện vô đây đà, Trước mừng Ông mừng Bà, Sau tui trộm phép thưa ra Từ kẻ lão người già Đến con nít đàn bà Cả bản hạt lân la Một tiếng chào cao hơn mâm cỗ Sau câu hát nhập đề, đôi bên trai gái hát mời trầu, mời cau, mời thuốc, hát hỏi lý lịch, rồi sau hết là đến những câu hát yêu đương. Yêu đương bao giờ cũng là chủ chốt của những cuộc hát giữa hai bên nam nữ bất cử lối hát đó là lối gì.
Đôi bên nam nữ hợp nhau, cuộc hát giặm kéo dài có thế hết đêm này qua đêm khác. Cũng có khi đôi bên chỉ hát một canh, và chấm dứt cuộc hát một cách đột ngột có khi đến tàn nhẫn. Trước những lời ân cần của bên trai, bên gái có thế có cô lên tiếng phá đám cuộc hát :
Em đã có chồng rồi Em đã có lứa rồi,
Trang sách 161CẦM CA VIỆT NAM Vung úp đã vừa rôi, Đũa ghép đã thành đôi, Bạn đừng có ỡm ở với tôi Tôi lấy chân khóa lại Tôi lấy bàn khóa lại.
Hát giặm có vài tục cho là sái nhưng người ta vẫn cử phạm, sái là không nói có, có nói không, như gái có chồng trai có vợ vẫn nói là chưa thành gia thất. Họ phải nói dối vậy đề còn có thể đi hát được ngõ hầu hưởng cái thú nam nữ gần kế, và đề có thể khoe tài, có khi khoe cả sắc đối với nữ giới.
Những khi hai tay bẻ chuyện tài ba gặp nhau, đố nhau những chuyện trên trời dưới biên, tìm được những điều hiểm hóc mà đố khiến đối phương không thế đáp được là một điều thích thú vô cùng.
Trong những trận tranh tài này, người thăng sẽ tiếng tăm lừng lẫy, được sự ngợi khen của cả vùng.
Những câu hát họ đặt ra sẽ được truyền tụng.
HÁT GIẶM THỜI SỰ Hát giặm thời sự không có trai gái đối đáp, chỉ là những cuộc hát giữa bạn bè để kể những chuyện đã xảy ra. Ở lối hát này, ý nghĩa và giọng hát cần hơn lời hát, và những câu hát thường hát xong là quên ngay, thảng hoặc có người nhớ thì cũng không nhớ được hết bài. Hát giặm thời sự còn dùng đề chúc mừng ca tụng người chủ nhà mình đến thăm. Dưới đây là một thí dụ :
Trang sách 162TOAN ÁNH Tràng cánh lưu liên, Anh em vội mừng tràng cảnh lưu liên, Được hai chữ vững bền, Đưọc bốn chữ bình yên (1).
HÁT GIẶM VỀ Câu hát trong lối hát nầy đặt thành từng chuyện kề đầu đuôi một việc, một sự tích. Lời văn và ý nghĩa trong câu hát được chủ trọng hơn giọng hát.
Câu hát có thể đọc lên như một câu về. Những câu hát giặm vè thường được đặt trước, phải có sự suy nghĩ của người đặt, không thể ứng khẩu như hai lối hát trên. Những câu hát giặm vè thường dài, có khi đến hàng trăm câu, và thường các tác giả được lưu danh. Cụ Phan bội Châu có sáng tác bài kể chuyện Năm Châu, dùng cho hát giặm về, dài 130 câu và bắt đầu bằng những câu sau :
Kể chuyện Năm Châu Em ngồi kể chuyện năm châu :
Á, Ức với Phi, Âu Bên Tây cầu châu Mỹ.
Lân xem trong lịch sử, Thay đổi mấy tang thương, Kẻ nhược có người cường, Giống trắng có giống vàng, Giống đen đỏ rõ ràng, (1) Lê văn Hảo.- Tài liệu đã dẫn.
Trang sách 163CẦM CA VIỆT NAM Cõi thế giới treo gương, Ai đồng tâm sọi lại Ai nhiệt thành soi lại Qua những câu hát trên, tà thấy những câu hát giặm được sáng tác theo thể ngũ ngôn hoặc ngũ ngôn biến thể với những câu 6, 7 chữ nhưng rất ít.
Mãy câu đầu bài hát thường hay láy lại, cốt nhắc lên ý toàn bài.
Những câu láy lại, hát lên ảnh hưởng đến nội dung lời ca.
Hát giặm rất khó khăn; rất tốn hơi, do đó vùng Nghệ Tĩnh đã có câu :
Dai nhất là thổi tù và, Thứ hai hát giăm, thứ ba thả diều.
HÒ HUẾ Hò Huế là điệu hò đặc biệt ta hằng được nghe các cô lái đò sông Hương hát lên.
Ở Huế, hò được phân biệt hò mái nhì, hỏ mái đưa và hỏ mái đây.
Mái chính là chiếc bơi chèo. Một con đò thường có hai bơi chèo, chiếc ở đằng trước gọi là mái nhất, chiếc đăng sau gọi là mái nhì.
Hò mái nhì là giọng hò khi kẻ trước người sau cùng chèo.
Trang sách 164TOAN ÁNH Hò mái đưa là giọng hò lúc thuyền buông tay chèo.
Hó mái đấy là giọng hò khi người chèo thuyền hai tay cầm hai chèo xây lưng về hướng tiến lên mà chèo, vừa chèo vừa hò. Chèo thuyên như vậy gọi là đẩy.
Ba lối hò, tên khác nhau, tùy theo động tác của người hò, nhưng lúc hò, các cô lái đò thường dùng những câu ca dao đã có sẵn, hoặc đôi khi hát lên những điệu hát của cố đô.
Thường câu hò chỉ nói nhiều về yêu đương như bất cử lối ca hát nào, nhưng đôi khi cũng bày tỏ những nỗi niềm ngoài phạm vi tình ái, như câu hò để nhớ tiếc ông Trần cao Vân đã giúp vua Duy Tân chống Pháp, nhưng việc không thành rồi bị xử tử :
Chiều chiều trước bến Văn Lâu Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai mong ?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non !
Và câu hò sau đây nói lên tình thế ngửa nghiêng của nước nhà vào đời Vua Thiệu Trị.
Bên chợ Đông Ba tiếng gà eo óc, Bên chùa Thọ Lộc, tiếng trống sang canh.
Giữa sông Hương, giợn sóng khuynh thành Đệm khuya một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng.
Trang sách 165CẦM CA VIỆT NAM Theo Thái văn Kiềm câu hò này đã nhắc lại một cuộc họp lịch sử vào năm 1847, nhân lễ tứ tuần của Vua Thiệu Trị khi đó có cuộc tập hợp của 773 bô lão, tổng cộng là 59. 017 tuổi (1) Quốc sự đang ngửa nghiêng, đảng Văn Thân gieo ra mấy câu hò thống thiết đề kêu gọi nghĩa sĩ bốn phương.
Những câu hò đều ý nghĩa bóng bảy nhưng đã thúc giục lòng yêu nước của mọi người.
Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại, Cầu Tràng Tiền đúc lại xi mon.
Ôi người lỡ hội chồng con, Về đây gá nghĩa vuộng tròn với ta.
Tiếng hát Ngư Ông giữa sống Nhật Lệ Tiếng kêu đàn nhạn trên ánh Hoành Sơn Một mình em ngồi giữa sông Hương Tiếng ca theo khúc đoạn trường ai nghe !
Đôi khi câu hò cũng là những bức tranh linh động tả cảnh Huế cùng những vùng lân cận :
Tỉnh Thừa Thiên dân hiền cảnh lịch, Non xanh nước biếc, điện ngọc đền rồng, Tháp bảy từng, Thành Miếu, Chùa Ông Chuông khua Diệu Để, trồng rung Tam tỏa Cầu Trường Tiền sáu nhịp bắc qua (1) Thái văn Kiểm. Cố đô Huế trang 5. Nha Văn Hóa bộ Quốc Gia Giảo Dục xuất bản 1960.
Trang sách 166TOAN ÁNH Tả Thanh Long, hữu Bạch Hỗ đợi khách ân ca thái bình, Dù sao, những câu hò tả cảnh, nhắc lại lịch sủ cũng chỉ là số ít, đa số câu hò đều là những câu hát yêu đương :
Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn, Chèo qua Ngọc Trản đến Vạn Kim Long.
Sương sa gió thối lạnh lùng Sóng xao, trắng lặng gợi lòng nhớ thương !
Câu Trường Tiền sáu vài mười thai nhịp, Anh qua không kịp tối lắm anh ơi!
Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời, Dẫu có xa nhau đi nữa cũng bởi Ông trời mà xa.
Ngoài những cầu ca dao thường được dùng làm câu hò, các thi nhân cũng sáng tác nhiều câu hát cho mỗi loại hò.
Thí dụ :
HÒ MÁI ĐẨY Biết An Phận An phận, thân vô nhục, Tri cơ tâm tự nhàn;
Đám phù vân chấp chóa bóng giàu sang, Chở trông mong cho khỏẻ bụng, Cít chàng ràng mãi mất công.
Thảo am Nguyễn khoa Ty
Trang sách 167CẦM CA VIỆT NAM HỒ MÁI NHÌ Biết ở đâu là cầu Ô Thước ?
Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.
Đềm khuya ngớt lạnh mù khơi Khúc sông quạnh vắng có người sầu riêng Ưng Bình Thúc Gia Tâm sự chát chua biết ai mua mà bán, Rao khắp chợ đời không thấy dạng người mua!
Bán buôn là chuyện bông đùa, Đành đem tâm sự chát chua ra về.
Bửu Lộc HÒ GIÃ GẠO Thực ra không phải chỉ riêng ở Huế có lối Ho Giã gạo, lối hò này khắp Bắc Trung Nam đều có.
Đây là những câu hò trai gái hò với nhau, hoặc hò một mình trong khi giã gạo để quên mệt.
Khi trai gái cùng đối đáp, họ dùng những câu hò để trao tình và cũng để thử tài nhau. Dưới đây là một thí dụ, các câu hò do Cụ Ưng Bình Thúc Giạ sáng tác :
Nữ :
Giữa chợ phiên có điều lạ lạ, Có dân quê giã gạo hỏ khoan;
Hay đâu có thiếp có chàng, Thuyền quyên quân tử hai đàng gắp nhau.
Trang sách 168TOAN ÁNH Nam :
Chợ phiên đây không có dây Bà nguyệt, Xe duyên, xe nợ chửa biết làm sao.
Thuyền quyên mới gặp anh hào, Một đôi câu nhân nghĩa hát chào nhau chơi.
Nữ:
Điệu hỏ khoan em nghẹ anh hát, Câu mái đẩy em xin hát anh nghe.
Mặc dầu ai có khen chè, Dở hay tay giữ dạ, chớ hề đơn sai, Nam :
Khen với chê là nghề khán giả, Dở với hay xin hạ bút trường quan.
Giái thưởng treo có bạc có vàng, Có anh đây là Tư Mã, lại có nàng là Văn Quân• Nữ :
Nay mô may, gặp người quân tử, Xin cho tiện nữ hỏi thử vài câu ;
Xôn xao kẻ trước người sau, Giữa chợ phiên qua lại ai sầu ai vui ?
Nam :
Bạn thuyền quyên hỏi chi câu nó ?
Trang hào kiệt nghe đà khó nghe Buồn là buồn cho qua chẳng có hiền thê, Vui là vui cho bậu cập kê đang kén chồng.
Trang sách 169CẦM CA VIỆT NAM Nữ :
Ai có chồng ai không có vợ, Chừ duyên, chừ nợ, xin chở nói đè chừng.
Tuổi em đây hãy còn xuân, Dao chơi giữa chốn ba quân em kiếm chồng.
Nam :
Mày liễu mặt hoa gọi là sắc gái, Văn hay võ giỏi mới gọi tài trai;
Chợ phiên này cô đã dạo chơi, Hỏi thăm cô đã chấm đặng người mô chưa?
Nữ :
Nói rằng chưa thời tôi chưa muốn nói, Thưa rằng có thời tôi nọ muốn thưa, Dầu cho năm lọc bảy lừa, Duyên Đằng không thuận nẻo, gió đưa biết răng chừ?
Và dưới đây là hai câu hò đối đáp để thử tài nhau :
Nữ :
Chợ Ngô Thành tiếng tiêu ai thổi ?
Chợ Hoài Âm ai lòn lỏi thiếu niên ?
Ngày nay ai đến chợ phiên, Nhớ xưa danh sĩ, danh hiền là ai ?
Nam :
Chợ Ngô Thành tiếng tiêu Ông Ngũ Tử, Chợ Hoài Âm là lịch sử chú Vương Tôn Hai tay Quốc sĩ tiếng đồn,
Trang sách 170TOAN ÁNH Chuyện xưa tích cũ, e cô gái khuê môn đã thuộc lòng.
CA HUẾ Ngoài các lối hò, Huế còn có những lối ca đặc biệt được mệnh danh là Ca Huế. Những bản ca này cũng thường được các cô lái đò sông Hương hát tới: gọi là ca Huế, nhưng ta có thể được thấy ở khắp miền Trung, nhất là các tỉnh ở giữa Trung Việt, và ngày nay ở cả miền Nam Việt nữa. Dưới đây là mấy lối ca Huế chính :
CỔ BẢN Nguyên là một bản nhạc cổ (1). Bản nhạc rày được phô thành rất nhiều bản ca khác nhau về ý và lời. Cổ bản còn được gọi là ca Bắc hoặc ca Lý.
Xuất xứ không rõ ở đâu nhưng người Huế hay củ cùng với các điện ca khác. Bài ca có sáu vần làm sáu khô. Đây là một thi dụ :
Duyên thắm, duyên càng đượm vi giống đa tình, Thêm nhiều ngày mặn nồng càng xinh.
Bực khuynh thành thực là tài danh, Song duyên kia đừng phụ, nào trách mình.
Chỉ non thề nguyện cùng trời xanh !
Lòng dặn lòng cho đành Nỗi kết minh, kết minh ! (1) Xin xem chương trên về cầm,
Trang sách 171CẦM CA VIỆT NAM Thư nhạn đưa tin tháng ngày Nguồn ân ái dám đâu vơi đầy Thương càng bận, làm bận lòng đây Vấn vương tịnh tự vi đây Tơ hồng khéo xe thực là may Trăng rọi thêm hoa, Lâu ngọc sáng lòa, Hương thương ngút nhà Khắp gần xa, Tiếng đàn hòa ca.
Ngâm vịnh mấy chén quỳnh, Say sưa cùng mình.
Sánh tay vai, Nhân ngãi lâu dài, Thực là vui, dám nào phai, Tâm đầu ý hợp như rứa mấy người !
Ngọc Vô Hà, Biện hòa mới hay !
Một ngày tương tri, tình si ấy là ai Muôn vàn không ngại mua ngay tiếng cười, Gọi mười người như người.
Anh hùng có đâu, có là đâu
Trang sách 172TOAN ANIL Thôi thôi đừng, đừng năn nỉ suy nghĩ thêm sầu;
Mặc ai dầu, Lại hầu thương yêu, mặn nồng bao nhiều !
Đường còn lâu, chút tình sâu !
Vui lòng ưng ý, danh ly chỉ cầu.
KIM TIỀN Kim tiền cũng nguyên là bản nhạc được phổ thành nhiều bản ca, rất phổ biến ở Huế, điệu nhịp mạnh và nhanh. Kim tiền ca chỉ có hai vân và hai khổ:
Bắt tay ngồi lại đây, Không mấy khi ta gặp bên này, Cho đó rõ niềm Tây, Lời đắng cay, Tuy xa đàng, không xa mặt, Chung tình lại càng vui Càng thêm vui...
Ai khéo xui mình găp, Một cặp đa tinh, Thiệt tại trời xui mình.
Hay là lối ba sanh, Hay đó là lỗi ba sanh, Xin cho bên dạ, giữ dạ, Dầu gắp người quen Xin cho bền dạ, giữ dạ.
Trang sách 173CẦM CA VIỆT NAM LƯU THỦY Đây cũng là một bản nhạc cổ được phổ thành nhiều bài ca. Mỗi bài ca có bốn khổ tạo nên bởi bốn vần :
Kể từ ngày gặp nhau, Trao lời hẹn cho vẹn vàng thau, Dây tơ mành xe chặt lấy nhau.
Xe không đặng đem tinh thương nhớ, Cảm (thương người ngẫm nghĩ ba thu.
Xa cách nhau đêm nằm vẫn thấy.
Thấy là thấy chiêm bao, Biết bao vấn vương bên mình, Minh giật mình đòi cơn.
Biết bao lại quan sơn một đường;
- Tình thương tơ vương mọi đường, Xin cho trọn cương thường.
HÀNH VÂN Cũng như Lưu Thủy, ca hành vân cũng đo một bản nhạc cô mà ra, và mỗi bản ca cũng có bốn vần tạo thành bốn khổ:
Một đôi lời Nhắn bạn tình ơi!
Trang sách 174TOAN ANH Thề non nước giao ước kết đòi, Trăm năm tạc dạ Dầu xa cách, song tình thương chở phụ thì thỏi.
Niềm trọn niềm xin đừng sao nhãng, Trước kia định nợ ba sanh.
Đẹp duyên lành, Trọn niềm phu phụ, bậc tài danh.
Dần tiên có tại non Bồng, Kết mối tơ hồng, Ây thời trồng !
Nghĩa sắt câm, Hòa hợp trăm năm, Bởi vì xa cách, nhắn nhe cùng bạn tri âm.
NAM AI Nam Ai là một bản nhạc buồn nhất được phổ lời ca, lời ca thường cũng buồn. Ca thể có ba vần tạo thành ba khổ:
Khuyên ai gắn bó báo đền công trình thầy mẹ, Ân nặng nhường sông, nghĩa chất non cao;
Ơn cúc dục cù lao Sinh thành lo sợ biết bao:
Lo cơm bữa nhường nao,
Trang sách 175CẦM CA VIỆT NAM Ắm bồng ra vào.
Nâng niu bú mớm đêm ngày xem tày vàng ngọc, Hay chạy hay đi, lúc nắng lúc mưa.
Từ xưa đến giờ Lúc hãy còn thơ Đến bây giờ Chịu nhuốc nhơ Biết bao nhiêu mà !
Trong năm trọn, ngày qua Da môi tóc bạc mây xa.
Khuyên trong cõi người ta Thảo ngay mới là.
NAM THƯƠNG Cũng là một bản nhạc buồn, một bản cộ nhạc được phổ lời ca. Phải chăng vì chịu ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành, nên bản nhạc nây cũng như nhiều bản nhạc khác đượm vẻ buồn. Ca thể cũng có ba vần như Nam Ai để tạo thành ba khổ :
Ôi ! Tan hợp xiết bao, tháng ngày đợi chờ non nước, Ngàn dặm chơi vơi !
Mấy lời nào dễ sai lời;
Ai ơi! Chớ đem dạ đối dời,
Trang sách 176TOAN ÁNH Ý ưng tinh thêm càng ưa ý Thiệt là đặng mấy người, Lại soi lời.
Tương tri cho đá vàng thêm lại yêu vì, Nhớ khi cuộc rượu câu thi, Thêm càng thương tiếc, phong lưu ai bì !
Năng vt tình, tinh đôi ta, duyên trao nợ, rằng ai.
Buộc lại người sinh, Lời hẹn ba sinh Vấn vương tơ tình NAM BÌNH Vốn là một bản cổ nhạc không buồn, không vui, ấm thanh nhẹ nhàng đi đều đều, được phổ ra lời ca và thường được ca nhi ưa hát. Ca thể có ba vần tạo thành ba khổ:
Thương nhau vì nợ tri âm, Mối tình thâm !
Buộc ràng đây đó, Vây cuộc ca ngâm,.
Dưới trần như đã riêng phần !
Đề riêng phần!
Mặc duyên may hay là nợ với nần.
Chi bằng ưa ý,
Trang sách 177CẦM CA VIỆT NAM Nợ hay duyền, hỏi người thanh khi, Ai là kẻ xoay vần ?
Tuối xuận xanh, chưa từng cái nợ phong trần, Vương vào cuộc ân ái, Càng cay đắng, đắng cay muôn phần.
Được như lời ước mong, Cho thỏa tình tư tưởng.
Tưởng rồi trông, Ngồi tựa bên sộng, Thỏa mùi bồng, Vấn vương lơ lòng.
Ơi người Việt ơi !
Gặp khi thời lai...
Ngọn đèn kiến thức Bừng rạng muồn nơi, Trí tài đua kịp theo người, Kịp theo thời sánh chung vai...
Cho xứng mặt giống nỏi Sống đời khang thái...
Bước quang vinh ta càng hăng hái, Thêm vũng thêm dài.
Hết chông gii... Tung cánh bằng bay lượn khắp trời.
Nhân dân chờ một tương lai...
Mừng nay đến, đến trong mọi người,
Trang sách 178TOAN ÁNH Vững một niềm an vui...
Đô thị cùng thôn dã đặng hòa lai, Rạng ngời ánh mai... cảnh càng tươi Ý dân là ý trời.
Ngoài các ca thể trên, ở Huế còn rất nhiều thể ca khác, phần nhiều là do những bản nhạc cổ những bản nhạc này, phần lớn đã được trình bày trong chương thứ nhất về Cầm. Dưới đây, soạn giả xin cố gắng, về mỗi ca thể chứng dẫn một bài đề bạn đọc cùng hiểu, nếu có thiếu sót hoặc sai lầm rất mong được sự thể tình.
TỨ ĐẠI CẢNH Thương trăng tròn, thương trăng khuyết, Thương tha thiết, trăm mối bên lòng.
Thương đóa hoa vừa nở, dập diu ong bướm ong, Thương đóa hoa tàn lạt phẩn phai hương Nào ai kẻ buồn trông ?
Thương mây bạc, gió đưa xiêu lạc, không biết về đâu !
Thương nước trối bèo dạt, bèo dạt trôi nơi nao !
Thương số ba đào, chìm nổi lao đao, Đời vất vả biết là bao?
Trang sách 179CẦM CA VIỆT NAM Thương chim nhạn đêm đông kiếm bạn, Bao quản tuyết sương !
Sương tuyết sương dày dạn, tiếng nhạn kêu thảm thương !
Thương kẻ si tinh, theo dõi người thương.
Trông mòn mỏi ngày xanh, Đành đành thương trông đỉnh Ngự chiều đông.
Thông reo não nùng Mưa gió không ngừng, Nào bạn tác ngày xuân, ai chịu lạnh cùng không ?
Ngùi ngùi thương, ca nhi giữa sông Hương Véo non gọi tinh năm canh, Dầu giãi sương gió sương ?
Cái thương sao cứ quanh bên mình, Thương chi trọn trăm nghin mối thướng, Thương đâu vẹn trăm nghìn mối tinh thương BÌNH BÁN Non nước, nguyên non nước, Xin ai sánh rai đừng ngại, Quyết lâu dài, sum vầy trúc mai, Mấy lời phụ người, Cùng nhuu trước sau cho vẹn,
Trang sách 180TOAN ÁNH Trăm năm chớ đem tinh, tinh lợt phai, Dẫu lạt vàng phai, đám nề sai, Có đâu dời đổi tĩnh ai !
Nhũn khuyên hạn ân tinh hãy còn lâu, Lại dục lỏng ta, nhớ người xa, Bóng trăng tà, gió lồng hơi ba.
Cầm ca, ngân nga tiệc quỳnh, Trằn trọc, xa mối vàng đủ dựa màn loan, Dận duyên, buồn riêng, Trạnh niềm tây, đắng hòa cay, Châu rơi tương tư cùng nặng, Khéo thay là, những lại qua, Đêm thanh vắng, tinh người ngọc, Thở than thêm phiền !
Buồn tủi phận, lận bận bèo mây, Trăng gió, trăng gió đưa tình, Vừa gặp mình, thiệt trời khéo dành !
TẦU MÃ Cành bèo sen, đà hiệp duyền, Trăng thề một bên, vầy bạn tiên, Lúc say tỉnh mảnh trăng tàn, Chuyện hiệp tan, màn loan, Bấy lâu đợi chờ, Chút duyên tình cở Lúc tinh cờ, bây giờ thấy đây !
Một lòng càng xinh, Có tình với mình ấy ai ?
Trang sách 181CẦM CA VIỆT NAM Ngậm ngùi lúc hương nguyền Rượu nghiêng tiệc quỳnh, Mấy nỗi đá vàng Đêm thâu người đầu, người đâu ?
Người đâu đã thấy nhau còn ngờ !
Người đâu lại thấy bây giờ !
Ngày xưa, mưa gió thêm nồng, Sọng đã vương vấn, vương vấn tơ mành.
Thê non, thê chở sai lời !
Điệu ca tẩu mã hát dồn dập như ngựa nhảy.
Điệu này nguyên trước đây là một điệu ca nhạc của Tàn cho nên cũng gọi là ca khách, và bản nhạc gọi là nhạc khách.
NAM XUÂN Nguyên là một hản nhạc Nam, bản nhạc vui nhất trong các bản Nam, được phổ lời ca. Dủ là bản nhac vui hơn các bản khác nhưng vẫn đượm nét buồn do đó những bản ca Nam Xuân khi hát lên nghe cũng man mác hiu buồn, một cái buồn thướt tha trầm trâm :
Nhắn nhe vườn hạnh, ngồi chờ chim xanh Khén đưa tình, Đưa tình đưa lại cho ta, lại cho ta, Trót đã nặng mà !
Đã gần xin bạn đừng xa, Sớm đào tối mận lân la, Trước còn trăng gió, còn trắng gió,
Trang sách 182TOAN ÁNH San ra đá vàng !
Loan ôm phụng, phụng ôm loan, Biết bao giờ cho hiệp mặt mơ màng.
Đã lo toan vây hiệp nhân doan, Mây hồng đưa gửi thư nhàn, gửi thơ nhàn, Đưa sang tinh tự thiếp chàng, Đôi đàng thương nhớ, Thiếp với chàng, đôi đàng thương nhỏ.
Thương nhau phải bằng ngàn !
Trót cưa mang, xin cho toàn.
Chở đem dạ phụ phàng !
Mảnh trăng thề vằng vặc soi chung, - Dầu thu hết, sang đông, đông xin chi!
Mỗi chỉ hồng, cậy cùng Ông Tơ, Xe giây Bà Nguyệt Cho duyện này hiệp mặt sum vày, Đài gương suốt đó đây phỉ nguyễn!
PHÚ LỤC Nguyên cũng là một hản đàn được phổ lời ca.
Phú lục thường bốn vần, bốn khổ:
Giữa bụi hồng:
Thấy, thấy nghe thấy, Thấy nghe thêm nực cười.
Khiến cho người đỏi phen, Ngồi không xuống, đứng không yên.
Lạ quen đua chen ngõ ngàng.
Trang sách 183CÂM CA VIỆT NAM Đời muôn mặt, đời lắm tuồng Say cùng tĩnh, đà chuyện thường:
Bao màu sác, bấy đau thương, Ngao ngán trăm đường.
Ôi đâu cồn đa đoan !
Cầu danh lợi như giấc mộng vàng, Càng suy nghĩ... lòng thêm càng, Trồng cây cỏ mà thẹn thuồng, Lo quyền quý, sánh thua hơn, Năm tháng quay cuồng, Đâu tâm hồn... đâu tâm can.
Ràng hay... rằng dở.., rằng khéo khôn...
Khôn khéo... dăng diu ai tường, Lỡ làng khắp muôn nẻo đường, Bụi Hương... chèn chân mãi càng vương.
Luống trông vời non nước, Khốn lo toan.
Bửu Lộc Ngoài các hản ca trên rất được phổ biến tại Huế còn nhiều bản khác, nhất là các bản Tàu với mười bản cố, mệnh danh Liễn Bộ Thập Chương, rất được giới ca nhạc xưa sử dụng :
Phẩm tuyết, Nguyên Tiêu, Hồ Quảng, Tày Mai,
Trang sách 184TOAN ÁNH Liên Hoàn, Xuân Phong, Long Hồ, Giao dụyên, Quả phụ, Lý Tử Vi, Cũng còn nhiều bản ca khác nữa, rất tiếc soạn giả không biết rõ hết để trình bày cùng bạn đọc.
HÒ MIỀN NAM Cũng như ở Miền Bắc và miền Trung, miền Nam cũng có những câu hò để trai gái hò cùng nhau, hoặc hò một mình trong khi làm những công việc nặng nhọc. Tuy câu hò không làm tiêu tan được sự mệt mỏi, nhưng cất tiếng hò, người ta cảm như công việc thấy nhẹ nhàng đi phần nào, và sức chịu đựng như tăng hơn lên.
Miền Nam cũng có nhiều lối hát hò khác nhau tùy theo công việc và tùy theo trường hợp của người hò.
Sau đây là mấy loại hò miền Nam, được phổ biến hoặc trên toàn cõi miền Nam, hoặc trên một vài địa phương:
HÒ CẤY Phồ biến khắp miền Nam. Lối hò nầy tương tự như lối hát ví ngoài Bắc khi trai gái làm đồng hò với nhau, tuy giọng hò có khác giọng ví.
Trang sách 185CẦM CA VIỆT NAM HÒ CHÈO THUYỀN Phổ biến khắp miền Nam. Trai gái trong lúc chèo thuyền hò vởi nhau, hoặc trong khi đi sông nước hò một mình. Miền Bắc và miền Trung có giọng hát đò đưa, miền Nam có hò chèo thuyền.
Hò Đồng Tháp, Hò Bến Tre, Hỏ Bạc Liêu, Hò Sa Đéc, Hò Đội Gò Công, Hò đối Mỹ Tho, Sáu loại hò nầy là những loại hò địa phương, mỗi nơi giọng hò hơi có khác nhau, nhưng tựu trung đây đều là những « Loại họ chèo thuyền phổ biến trên các sông lạch miền Nam là những đường giao thông, thông dụng nhất (1).
Ngoài các loại hò trên, có lễ tại miền Nam cũng còn những loại hò khác, nhưng khi hò lên giọng cũng không khác mấy các loại hò trên, và cũng được Nam Nữ hò đối cùng nhau trong lúc làm việc trên cạn hoặc dưới nước.
Cũng như bất cứ loại ca hát nào, những câu hò thường nói tới sự yêu đương của trái gái, mặc dầu cũng có những câu nhắc tới những vấn đề khác, (') Lê văn Hảo. - Vài nét về Hỏ, dân ca Miền Trung và miền Nam.- Đại Học số 35-36, tháng 10 và 12-1963.
Trang sách 186TOAN ÁNH như tỏ lòng mến phục kính yêu các vị anh hùng cửu quốc, như nhắc tới lòng oán hận của dân chúng đối với cường hào ác bá, như nêu lên những đức tính tốt của phụ nữ:
Chẳng thà em chịu đói chịu rách, Học theo cách Bà Mạnh, Bà Khương :
Không thèm như Chị Võ Hậu đời Đường, Làm cho bại hoại cương thường hư danh.
Những câu hò nhắc tới những vấn đề ngoài yêu đương tuy vậy không nhiều, chỉ những câu hò nội dung trữ tình là phong phú nhất.
Hò là một loại dân ca, mà đã là dân ca, phần lớn các câu ca dao được sử dụng. Những câu hò miễn Nam cũng như các câu hát khác miền Bắc và miền Trung đều thoát ở những câu ca dao ra, nhiều khi chính là những câu cạ dao.
Này đây, ta hãy nghe giọng hò của một chàng trai chở đò lúc đêm khuya, trước sự lẻ loi của mình :
Gió đưa con buồn ngủ lên bờ, Mùng ai có rộng cho tôi ngủ nhỏ một đêm !
Nghe câu hò sàm sỡ, không hiều cô lái đò miền Nam có trả lời chăng. Có thể cô dùng một câu ca dao để đáp lại :
Trời một vùng đêm dài không hạn, Mượn gió chiêu hỏi bạn ngàn sông:
Thân em là gái chưa chông Tơ duyên có chắc như dòng nước chăng ?
Trang sách 187CẦM CA VIỆT NAM Có khi cảm vì câu hò có duyên của cô gái, chàng trai đem dạ mến thương:
Sông sâu sóng bủa láng cò, Thường em vì bởi câu hộ có duyên.
Làm thơ chẳng biết cậy ai đem, Cậy con chim nhạn nó đem cho mình.
Trong những câu hò thường có những câu nam nữ thách đố thử tài nhau :
Nước dưới sông lững đứng, Mây đưa gió vật vở.
Tơ duyên đã buộc sở sờ, Qua đây bậu đấy còn chờ đợi ai?
Thấy em hay chữ, Anh hỏi thử đôi lời:
Tây giăng dây thép giữa trời làm chi ?
Đấy là một câu Nam hỏi Nữ. Nam nữ bình dân thường hỏi đố nhau những câu rất tầm thường.
Nam hỏi thì nữ đáp, nhưng vừa đáp nữ vừa hỏi lại :
Tây giăng dây thép giữa trời, Chờ anh có việc trao lời em hay.
Tiếng anh ăn học chữ Tây, Cho em hỏi thử mặt trời xây phía nào ?
Nữ hỏi thì Nam cũng đáp, đáp để tỏ ra mình không kém cỏi :
Mặt trời sáng mọc phương Đông, Chiều tàn bóng xế xây trong non Đoài.
Trang sách 188TOAN ÁNH Cũng có khi câu thách đố cần một sự hiều biết sách vở cao hơn mới trả lời được. Thường những câu nầy, cũng như những câu hát Ví Phường Vải ở Nghệ Tĩnh là do những người có học thức đặt trước hoặc trong những cuộc hát đối đáp, những người nầy đã gà nghĩ hộ một bên nào:
Hỏi anh đọc sách Thánh hiền, Ai người đi tới non tiên đúc vàng ?
Tiếng ạnh ăn học nhà trường, Trả lời em thử trong vườn mẩy cây ?
Trả lời :
Em nghe anh trả lời đây, Trong vườn chỉ có hai cây nghĩa là:
Một cây xanh tốt rườm rà, Một cây xanh tốt nữa là thung huyền.
Sách xưa chép chữ còn nguyên Người cày núi Lỗ non Tiên đúc vàng.
Trời xui anh đặng gặp nàng, Bà Nguyệt cho sợi xích thàng hôm nay !
Muốn đố gì thi đố, bao giờ rút cuộc cũng là những lời hát trao tình yêu đương. Những cuộc hò đối đáp hai bên kéo dài cho đến khi xong công việc; cũng có trường hợp tuy rất hiếm, cuộc hát không được đến đầu đến đũa, vì trong câu hát đôi bên có sự xích mích. Trong trường hợp này, nhiều khi đôi bên hát những câu thật tàn nhẫn, có khi như chửi nhau :
Trang sách 189CẦM CA VIỆT NAM Vườn có chủ, giữ gìn cây có chạ, Hoa có rào ngăn đón bướm ong vô.
Hỡi anh chớ khá bơ thờ, Đừng có quen đường cũ bước trở gãy chân !
Sự xích mích rất ít xảy ra, vì đã ưng đối đáp với nhau, họ chỉ tìm những câu nhẹ nhàng êm ái để trao đổi với nhau, tuy đôi khi người con gái tỏ kiêu kỳ, nhưng kiêu kỳ đề chinh phục chàng trai :
Chết tôi, tôi chịu, Minh đừng bận bịu, Bở bạn chung tinh !
Nhạn bay cao khó bắn, Cá ở ao quỳnh khó cậu.
Cô gải có ý nói mình không phải là kẻ dễ dàng, không phải bạ đâu vương đấy.
Cá ở ao quỳnh cá cũng ở lâu, Mồi ngon thả xuống lâu lâu cũng chìm.
Nhạn bay cao nhạn mỏi nhạn tìm, Dương cung theo mãi cũng hìm nhạn sa.
Sao mình không lo bảy lo ba, Lo cau trỗ muộn lo già hết duyên.
Tóm lại dù một cuộc hò có bắt đầu bằng những câu hộ thế nào đi chăng nữa, thường cũng kết thúc bằng những câu yêu đương đằm thắm. .Trai gái hằng ngày gặp gỡ nhau, sự yêu đương càng nảy nở, và những câu hò càng thêm tình tử, dù họ hát lại những câu ca dao cũ hay sáng tác ra
Trang sách 190TOAN ÁNH những câu hò mới trong dịp đối đáp với nhau.
Quang cảnh những buồi hò thật là vui, nhất là những buổi hò đã tụ họp trai gái vì công việc.
Sự gặp gỡ giữa trai gái là một sự thường trực diễn ra hàng ngày hàng đêm, trên đồng, dưới sông, chung quanh cối xay, cối giã, giữa đêm trăng, trong đêm tối, giữa một gái một trai, giữa một đám người có thể gồm cả nam phụ lão ấu, trong hoàn cảnh thiên nhiện, giữa nhịp sống thông thường của dân tộc. Sinh hoạt trong nông thôn, công tác nơi đồng áng đã không phân rẽ trai gái, mà trái lại, luôn luôn đoàn tụ trong một tinh thần tương trợ tương thân, trên một thửa đất màu mỡ lành mạnh làm chứng cho cuộc gặp gỡ duyên vị nồng nàn (1).
Cùng làm việc, cùng gặp gỡ, câu hò đã nói thay lời nói yêu đương, và sự yêu đương luôn luôn được giới hạn trong vòng lễ giáo, được sự chấp thuận và giúp đỡ của người lớn. Chính vì vậy mà trải bao nhiêu cuộc biến chuyền của đất nước, những lối hò vẫn tồn tại, và sẽ còn tồn tại mãi mãi và những câu hò sẽ ngày một thêm phong phú về nhạc điệu cũng như về nội dung, nhất là về nội dung.
Đêm khuya thanh vắng cũng như ban ngày giữa đồng ruộng, chúng ta còn được nghe những tiếng hò ơ, băt đầu một câu hò. Hai tiếng hỏ ơ có thể (1) Thuân Phong - Duyên Hội Ngộ, Bách Khoa số 7, ngày 15-4-1956
Trang sách 191CẦM CA VIỆT NAM kéo dài như vô tận trước khi bước vào câu hò chính thức.
Những tiếng hò ơ tiêu biều của câu hò miền Nam cũng là những tiếng để nói lên cái tinh thần đoàn kết bất diệt của dân Việt Nam. Người Việt đã đoàn kết để chung vui, đã đoàn kết để khuyến khích nhau trong công việc, đã đoàn kết để khích lệ nhau trên đường chính nghĩa, và sự đoàn kết càng keo sơn bền chặt trước những quốc biến, ấy. cũng là nhờ ý nghĩa những câu hò, và ảnh hưởng của những cuộc hò đối đáp, Nam, Bắc cũng như Trung• HÁT VỀ Chính nghĩa vè là một bài văn kể một chuyện đặc biệt xảy ra và ngụ ý khen chê (1). Bài văn nầy thường làm thành thể thơ bốn chữ, năm chữ, lục bát hay song thất lục bát hoặc các thể thơ trên với biến thể.
Bài vè được đặt ra thường được hát lại và truyền khẩu người nầy qua người khác.
Thông thường những bài vè bắt đầu bằng mấy chữ vẻ vè ve.
Vé vè ve Mày vè lá lốt, Cô kia thời tốt, Cậu nọ thời xinh, (1) Đào văn Tập.- Tự điển Việt Nam phở thông.
Trang sách 192TOAN ÁNH Đôi bên rập rinh Muốn lấy nhau chăng !
Những bài vè theo thể lục bát, song thất lục bát v.v... có khi không có mấy chữ vẻ vè ve, nhất là những câu vè miền Bắc :
Làng ta có sự nực cười, Có Ông Nhiêu Bút là người rượu say:
Mỗi ngày một lít như bay, Rượu say ông mới làm bây giở trò.
Bà Nhiều sao chẳng biết lo;
Mượn lũ thợ cấy, ông mỏ một cô.
Nhưng mà hư hỏng cơ đồ, Bà Nhiêu bắt được liền vồ cả hai.
Hát những câu vè người ta thường lấy giọng đọc lên, không có đệm trên, đệm giữa hoặc đệm dưới như các lối hát khác.
ở miền Nam có những câu về về các loại cây, loại cá, các thứ bánh, về dạy trẻ v.v... ngoài lối về kể chuyện. Và các câu vè thường bắt đầu bằng sáu chữ:
Nghe vẻ nghe ve Thí dụ :
Nghe vẻ nghe ve Nghe vè con Cúc Trâu ăn mấy chút
Trang sách 193CẦM CA VIỆT NAM Bắt mẹ lôi đền (1) Dưới đây xin trích mãy đoạn ở mấy câu vè miền Nam :
VỀ TRÁI CÂY Nghe vẻ, nghe ve, Nghe vè trái cây, Dây ở trên mây, Là trái đậu rồng.
Có vợ có chồng, Là trải đu đủ.
Chặt ra nhiều mủ, Là trái mít ướt.
Hình lựa gà xước, Vốn thật trái thơm.
VỀ CÁC LOẠI CÁ Nghe vẻ, nghe ve, Nghe vè loại cá.
No lòng phỉ dạ, Là con cá cơm.
Không ướp mà thơm, Là con cá ngát.
Liệng bay thoăn thoắt Là con cả chim. (1) Tiền Giang.- Về Miền Nam, Nxb Phạm văn Tươi, Sàigon 1956.
Trang sách 194TOAN ÁNH Hụt cẳng chết chìm, Là con cá đuối.
VỀ CÁC LOẠI BÁNH Bài vè nầy đặc biệt không bắt đầu như những bài vè trên, lối hát bắt đầu hơi khác :
Bà con cô bác, Lằng lặng mà nghe.
Tôi nói cái vè, Vè các thứ bánh Mấy tay phong tinh huê nguyệt, Thi sẵn có bánh Trung thu.
Mấy gã phật tu, Bông sen thơm ngát.
Ai mà hảo ngọt, Thi có bánh cam.
Những kẻ nhát gan Này là bánh tét, VỀ DẠY TRẺ Nghe vẻ, nghe ve, Nghe vẻ dạy trẻ.
Có công cha mẹ, Có chữ thánh hiền, Gần mực thì đen,
Trang sách 195CẦM CA VIỆT NAM Gần đen thì rạng.
Khuyến ráng học hành, Làm lành lánh dữ, Nấu sử sôi kinh, Cho minh thế sự, Cho tử xem coi, Học đỏi việc tốt. m Tất cả mãy bài vè trên đều rất dài, mỗi bài bảy tám chục câu hoặc hơn nữa, bài vè nào nói riêng về thứ đó.
Những bài nây cũng như những bài vè khác thường được trẻ em người lớn nghêu ngao hát những lúc buồn rỗi một mình.
Hát vè đề tiêu thì giờ, hoặc trong khi làm việc người ta hát lên để quên mệt nhọc, cũng như giữ dịp cho việc làm. Hơn nữa những câu vè kể chuyện xấu tốt thường được nhắc tới để răn người phạm lỗi, để khuyến khích việc hay.
Hát vè không có nhạc, nhưng thực ra, giá có ai đem phổ nhạc những bài vè, có thể những bài vè sẽ là những bán nhạc đáng người đời lưu ý.
Ngoài các bài vè thuật chuyện hoặc đặt về các loại cây, cá v.v... có những bài vè được tác giả gửi tình ý bên trong, như trong khi vận động phong trào Cần Vương, lối hát vè được dùng làm lợi khi tuyên truyền. Ý nghĩa trong các bài vè nầy rất giản dị, dễ hiểu.
Trang sách 196TOAN ÁNH Chàng ơi chàng ngồi lại Thiếp bàn giải đôi lời:
Báy tám chục năm trời Đem thân làm nó lệ Cúi đầu làm nô lệ, Nỗi đắng cay xiết kể Nói ra những thảm sầu Chữ nhân sĩ sự thù, Sao mà anh chịu được Sao mà chàng chịu được? (1) HÁT TÔN GIÁO Hát tôn giáo là những điệu hát lời ca được hát trong những dịp tế tự.
Ở đây tôi không nói tới những bản ca nhạc đã được dùng trong hết mọi lễ nghi, đã thuộc vào nghi thức của tế tự tôi chỉ nói tới những loại ca tôn giáo thuộc giới bình dận, mà tiêu biểu nhất như. trên đã nói là điệu chầu văn.
Các giọng hát tôn giáo có nhiều và sự khác biệt lại rất ít giữa các giọng này. Dưới đây là mấy giọng chính.
HÁT CHẦU VĂN Đây là lối hát của các người cung văn tại các (1) Thạc Nhân.- Tài liệu đã dẫn.
Trang sách 197CẦM CA VIỆT NAM đền điện khi có các Cộ đồng, Bà đồng, Ông đồng lên đồng.
Các ông đồng, cô đồng và bà đồng lên đồng, còn gọi là hầu bóng nghĩa là ngồi trước bàn thờ đề hồn các ông Hoàng bà Chúa, hoặc các Cô, các Cậu nhập vào. Muốn cho đồng chóng lên, nghĩa là đề giới vộ hình sớm nhập vào thân xác hữu hình của người ngồi đồng, các cung văn vừa đàn vừa hát những câu xứng tụng công đức, tài nghệ và nhan sắc của những hồn nhập đồng.
Đối với mỗi vị, ông Hoàng, bà Chúa, Thượng ngàn hoặc Thủy Cung-v. v...
đều có những khúc hát chầu văn riêng.
Đàn cung văn là chiếc đàn nguyệt và gầy lên một điệu phứng phưng phưng phứng phừng phưng.
Những câu hát chầu văn được hát bằng một giọng riêng, hết sức tâng bốc đối với các giá đồng nghĩa với các ông Hoàng, bà Chúa, các Cô, các Cậu nhập đồng.
Cô rằng cô đẹp nhất đời Dáng đi điệu múa miệng cười có duyên !
Tiếng đàn vang lên, tiếng cung văn hát, lại thêm các con hương đệ tử vây quanh người ngồi đồng suýt soa khấn vái. Những người ngồi đồng được gọi là ghế đệm của các ông Hoàng, bà Chúa, các Cộ, các Cậu.
Trang sách 198TOAN ÁNH HÁT SAI BẢO, LỆNH TRUYỀN Đây cũng là một lối hát tôn giáo, nhưng không phải là của các cung văn, mà là của các Thầy Tự, tức là những người thờ các vị thần đạo Lão, người dân quê gọi nôm na là các ông thầy Cúng. Tục cho rằng các Thày Tự rất cao tay có thể khu trừ được ma quỷ và khi cúng khấn có thể ra lệnh sai bảo hoặc truyền khiến các vị thần đề tróc ma trừ tà.
Nếu giọng chầu văn của những người cung văn như tâng bốc giới vô hình thì giọng hát sai truyền rất là hách dịch. Cùng với tiếng hát này có tiếng cảnh tiếng tiu.
Thầy sai Đại Thánh Tề Thiên Huyền công dùng phép dẹp yên loài tà.
Thường câu nào cũng bắt đầu bằng hai tiếng Thầy sai.
NHỮNG CẦU HÁT THỜ Đây là những câu hát dùng để hát trong những buổi lễ thần, thường là hát theo những điệu múa.
Cũng có khi ca nhi đơn ca theo một điệu đàn, lối hát đơn ca theo đàn nầy gọi là hát giải, mà dưới đây là một bài mẫu. Bài này dân hai làng Phú Đa và Trinh Nữ, thuộc phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương, thường dùng hát mừng lẫn nhau khi có đám rước giao hảo, làng nọ tởi làng kia (1) : (1) Xin xem trong Làng Xóm Việt Nam, Nam chi Tùng Thư Saigon, 1968, trang 367-375.
Trang sách 199CẦM CA VIỆT NAM Xinh thay mấy thiên thai cảnh lạ, Dưới trần gian một áng non bồng, Sườn non mây kéo ngất trên không, Cửa động gà kêu vang dưới nguyệt.
Bích sa động lý càn khôn biệt Hồng thụ tri biên nhật nguyệt trường (1) Nước lao sao điểm rót khúc sinh hoàng, Mây lơ lửng mỉa mai con điều tước.
Hoa hớn hở sắc vàng chen sắc biếc, Nức hai bên như đón rước người.
Lạ lùng thay cảnh thiên thại !
Thực ra câu hát trên chỉ là một câu hát nói, nhưng hát nói trong trường hợp hát thờ thân được gọi là hát giải.
Trong những buổi hát thờ, trước khi hát giải, ca nhi phải hát dâng hương. Ca nhi thắp hương dâng lên bàn thờ và hát :
Một nén hương thơm thấu chín lần, Kính trời, kính đất, kinh linh thần.
Chữ rằng nhất niệm thông tam giới, Mừng vua muốn tuổi trị muôn dân.
Một nén hương thơm thấu cửu thiên, Mây lồng năm thức, nguyệt lồng in, (1) Sắc biến trong động ngăn cách với đất trời; cây cổ thụ bên cạnh chứng tỏ sự trường tồn với tháng năm.
Trang sách 200TOAN ÁNH Kinh thành những bén duyên hương lửa Rỡ rỡ vinh hoa ức vạn niên.
Dâng hương xong, đôi khi ca nhi ngâm bài Nhạc nhang :
Thông minh chính trực vị chi thần, Biến hóa vô cùng đức đại lân.
Mừng vua có sắc phong choi chói Đệ nhất Vua, đây thượng đẳng thần.
Ca nhi có thể là những ả đào tới xin hát hoặc có khi là gái làng được dân làng cử ra, trong trường hợp này, họ phải tập trước.
Nếu là ca nhi chuyên nghiệp được mời tới để hát thờ thần, cuộc hát kéo dài suốt đêm, và như vậy, có ca thì có nhạc. Đã có nhạc, bao giờ ca nhi cũng phải hát thêm bài Thét nhạc.
Đời nhà Lé, mỗi khi trong cung tế lễ, trước hết quan Thái Thường cho nhạc công bày các đồ nhạc khí cùng hòa lên với tiếng hát của ca công để cho tiếng nhạc và tiếng hát ăn với nhau nên gọi là khúc thiết nhạc, nghĩa là bày những đồ nhạc khí.
Đời sau đọc chệch thành Thét nhạc. (1) Dưới đây là bài hát Thét nhạc:
Tiếng Dương tranh, Đàn ai một tiếng Dương tranh, Chưng thuở ngọc ô đàn não nùng chiều ai oán. (1) Đỗ bằng Đoàn, Đỗ trọng Huề.- Việt Nam Ca Trù biên khảo, 1962, trang 93.
Trang sách 201CẦM CA VIỆT NAM Nhạc Thiều tâu, Xa đưa tiếng nhạc Thiều tâu, Vẳng nghe chuông gióng lâu lâu lại dừng.
Dương, hơi dương đầm ấm...
Năm thức mây che, Thức mây che rở rõ ngất trời.
Nguyệt dãi thềm lan, Thanh, bóng trăng thanh nguyệt dãi thềm lan.
Tiếc thay mặt ngọc thương ai, Vậy là đêm là đêm đông trường.
Rạng vẻ mày rồng, Thiên, Nam thiên rang vẻ mày rồng, rực rỡ nghìn thu.
Nghìn thu ngạt ngào.
Lãng Uyền xa bay, Luống thâu đêm, đêm nghe phảng phất mối sầu tuôn.
Tuôn khôn nhịn ngần ngơ nỗi buồn.
Thu, lá thủ ngô đồng rụng.
Một lá thư bay, hơi sương lọt mày, Sương lọt mày, ngồi nghe tiếng đàn.
Sông, sông hồ nước biếc, chín khúc cuốn quanh, Đáy nước long lanh, dạo ngồi chơi, ngồi. chơi thủy đinh Nguyệt tà tà xê xế, ảnh dãi chênh chệnh,
Trang sách 202TOAN ÁNH Trên không hoa cỏ lặng canh dài.
Đỉnh Thần sơn, đỉnh Thần sơn mặt ngọc mày ngài, Thấy khách hồn mai.
Dãi tường lầu, Nguyệt dãi lường lầu đồng vọng bóng trăng thâu, Nặng tiếng, tiếng đỉnh đang, Tiếng đỉnh đang, xui lòng thiếu nữ.
Nhớ thương ai gửi bước đường trường, Bước đường trưởng, chầy ai đã nện, nện tương tư sâu.
Vò vò phòng hương, Luõng chực phòng hương, Gửi cổ nhân tinh thư một bức, gợi nỗi ái ân, Tư, tương tư sầu.
Theo lệ hát thì tại các cửa đình, mấy lối hát dâng hương, thét nhạc ca nhi đều phải đứng mà hát và kép đăn cũng phải đứng mà đàn. Hát nhạc xong mới được ngồi đề bắt đầu hát giải.
Hai giải có những bài về phong cảnh như bài hai xã Phú Đa và Trinh Nữ thường dùng đã nêu trên lại còn những bài về sử, về truyện, những bài này đều là những bài hát nói.
Trong những buồi hát thờ, nhiều khi dân làng yêu cầu ca nhi hát khúc Đại thạch.
Trang sách 203CẦM CA VIỆT NAM Đời vua Lê thần Tôn, gặp ngày lễ Vạn Thọ múa hát khúc Đại thực các quan đều dẫn người nhà vào trong cung xem. Vua thấy đông đúc mới truyền tiểu giám lấy những hòn đá to cho bọn nữ nhạc đứng lên trên hòn đủ mà múa hát, chủ ý để cho mọi người cùng trồng thấy. Từ đấy khúc Đại thực gọi là Đại thạch (1).
Bài hát Đại thạch là một bài thơ lục bát có biến thể ở mấy câu cuối :
Chúa từ nghe hết vân vi, Thoát thôi lại nói tỷ tê nỗi lòng.
Ngọn cờ đỉnh núi xa trông :
Nọ sao cung quế, hẹn cùng trúc mai.
Trách thay ô thước nỡ hoài, Có chi sao bỗng lạc loài cho nên.
Chốn nàu là chốn cung tiên, Ước gì lại được phỉ nguyền nhớ mong.
Boong boong chuông gióng đêm đông, Cảm lòng người những luống công đợi chờ.
Hỏi thăm ai kẻ thân sơ, Bóng trăng dãi tỏ có ưa chăng là, Đêm đêm tưởng bóng ngân hà, Trông sao Bắc đẩu đđ ba năm tròn.
Non mòn nghĩa ấy chẳng mòn, Tào khê nước chảy lòng còn như in (1) Đỗ bằng Đoàn, Đỗ trọng Huề.- Sách đã dẫn.
Trang sách 204TOAN ÁNH Tinh thư phong gửi cá chim, Chim tìm non thẳm, cá tìm vực sâu.
Duyên ưa có thấu tinh nhau, Ngày nào Ô thước bắc cầu sông Ngân.
Mảng vui chơi bóng ánh xoay vần Lòng cùng mong ướm hỏi lân la, lân la gió mát chiều ai khoan nhạc vũ, Lũ thiếp gặp ngày vui.
Hội Long vân Thánh thượng khánh thọ, Tấu nhạc quỳ dâng, tôi chúc mừng. (1) Ngoài những câu hát theo nhịp đàn nhịp phách, trong những buổi tế lễ còn có những nam nữ vũ sinh vừa múa vừa hát thờ thần. Những vũ nữ này có thể là những ca nhi chuyên nghiệp hoặc là các trinh nữ trong làng cắt cử, như tục lệ làng Trúc Cương phủ Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa.
Vũ thì có nhiều bài, dưới đây chỉ đề cập tới đôi ba bài chúng tôi biết, hoặc có tài liệu.
Hát bỏ bộ, Hát bỏ bộ là vừa hát vừa làm theo điệu bộ hợp với câu hát. Bài hát bỏ bộ gồm hai phần, phần mở đầu và phần chính. Thường bốn cô chia làm hai bên hát múa với nhau. Số người có thể tăng hơn nhưng phải là số chẳn.
Phần mở đầu : (.) Theo sách Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ bằng Đoàn và Đỗ trọng Huề đã dẫn.
Trang sách 205CẦM CA VIỆT NAM Năm canh ngồi đợi bóng trăng (Các vũ nữ ngồi xuống) Năm canh ngồi đợi giải cơn buồn, Ngậm ngùi nhỏ thương (Các cô đều đứng lên) Tay nâng bàn rượu túi thơ (Tay làm hiệu giơ bàn rượu túi thơ).
Một minh đủng đỉnh giải lo giải phiền (Các cô đủng đỉnh đi) Ngồi buồn xe chỉ chỉ xe (Các cô ngồi xuống lấy hai tay xe như xe sợ chỉ) Xỏ kim, kim xỏ (Tay phải như cầm sợi chỉ, tay trái như cầm kim đề xỏ vào nhau) Ngồi hè vá may (Tay phải cầm kim như khâu vào vải) Dương cung ta bắn con cỏ (Các cô đứng dậy, giơ tay lên như bắn cung) Còn le nó lặn, con le nó lội, con cò nó bay (Hai tay các cô xòe ra, nhắc lên nhắc xuống như con le lội và chập chờn như con cò bay).
Sau phần mở đầu, các cô hát tới phần chính của bài hát Bỏ bộ. Phần chính này thường gồm 5 .đoạn, dưới đây xin chép một đoạn làm mẫu.
Tình tang tính (Các cô đều múa) Em ra kẻ chợ em coi (Vừa đi vừa nhìn) Thấy quan tập trận, Ô kìa chòi bắn cung. (Tay chỉ lên)
Trang sách 206TOAN ÁNH Gióng con ngựa hồng, (Đi như cưỡi ngựa) Mao tiền mao hậu (Quay phía trước lại quay phía sau) Vô thần quan áo nậu vắt vai (Hai tay chống hai bên cạnh sườn) Cờ vác vai (Hai tay để lên vai) Súng anh tọng nạp (Tay làm hiện nạp đạn vàn súng) Gươm tuốt trần (Tuốt gươm ra) Tay cắp mộc mang (Tay cắp vào nách) Trường khu đuổi đánh đã vang (Đi nhanh, tay làm ra điệu đánh) Trên đây chỉ là một đoạn phần chính, còn bốn đoạn nữa cũng tương tự, và khi mủa hát các ca vũ nữ phải cùng múa đều nhau. Những ca nhi chuyện nghiệp họ đã thuộc điệu múa và đã hát với nhan nhiều ở cửa đình nên khi múa hát điệu bộ của họ không những ăn với câu hát mà còn ăn cả với điện đàn, điệu sáo.
Tại những làng, việc múa hát do các trinh nữ đảm nhiệm như ở xã Trúc Lương, nơi có đền thờ ông Lê phụng Hiểu (1), các cô được dân làng cắt cử hát múa thờ thần phải luyện tập trước có khi hàng tháng. Thường tại các xã, việc múa hát do trinh nữ, số các cô được cắt cử thường gấp đôi ba hoặc hơn nữa, số các ca nữ tại mỗi buổi hát thờ. (1) Xin xem, Nếp cũ: Hội Hè đình đám của soạn giả
Trang sách 207CẦM CA VIỆT NAM Ca múa bài bông.- Múa bài bông là một lối múa dàn hàng theo điệu nhạc. Bài là bày hàng, bông là hoa, múa bài bông là những bông hoa đẹp dàn bày múa hát.
Các làng, thường những làng lớn, chỉ có mủa bài bông trong những dịp vào đám. Múa bài bông, ít nhất phải có 8 vũ nữ, trong những buỗi đại lễ con số tăng gấp ba bốn lần. Làng xã phải kén các trinh nữ đồng tuổi và suýt soát bằng nhau. Lúc múa các cô ăn mặc áo màu sặc sỡ có giát kim kính, thêu kim tuyến, thắt dây lưng nhiễu xanh đỏ để múi rộng, đầu đội mũ kim phượng, tay cầm quạt.
Hai bên vai các cô đeo đèn lồng thắp nến. Các cô múa dưới sự chỉ huy của một bậc đàn anh trong làng, vị này cũng được dân làng chỉ định trước để cùng luyện tập với các cô.
Tất cả các cô dự múa bài bông họp thành một hoa đội, đứng ở ngoài sân đình.
Phường bát âm đi trước, các cô theo phường bát âm đi hàng một vào trước hương án, trong khi vị đàn anh chỉ huy đánh trống cái giữ nhịp. Đứng đầu tất cả các cô có một cô trưởng ban, cô này gỗ phách theo điệu nhạc. Bước của các cô nhanh chậm theo nhịp đàn phách.
Tới trước hương án, các cô chia làm hai hàng quỳ trước bàn thờ, hai tay nâng quạt lên khỏi đầu cô trưởng ban đóng vai Tiên đồng ra khai mạc buổi ca vũ, Cò hát, giọng giống như hát bội :
Trang sách 208TOAN ÁNH Tiêu dao lồng lộng Thiên đinh, Tật tốc giảng dương trần bộ bộ Khẩm thừa Phật tổ Giáng hạ trần.
Lược nghĩa :
Nhởn nhơ chơi dạo Thiên đình Mau mau kíp xuống dương trần xuống mau Lệnh vâng đức Phật nhiệm mầu Cỗi trần giáng hạ ai đâu dám từ.
Rồi hát tiếp một câu nói lối :
Như tôi nay. Tiên ông trao chức Ngó biêu tự Tiên đồng Truyền ca nhi nam bắc tây đồng Đều múa hát dâng hương Thượng đế Tất cá các trinh nữ đều đứng lên và bắt đầu vừa múa vừa hát.
Múa lẩy nhạc làm chuẩn đích, tiến thoái nhanh chậm đêu đo nhạc điều khiên, lúc quay chỉ quay một nửa người,không bao giờ quay lưng vào hương án.(1) Ngoài mấy điệu ca vũ trên, trong những buỗi tế lễ xưa còn nhiều bài ca điệu vũ khúc, thay đổi tùy theo từng buổi tế, từng địa phương hoặc từng vị thần dân chúng phụng thờ.
CÁC GIỌNG HÁT TÔN GIÁO KHÁC Cứ kể trong việc thờ cúng thần linh, ngoài mấy (1) Đỗ bằng Đoàn, Đỗ trọng Huề.- Tài liệu đã dẫn.
Trang sách 209CẦM CA VIỆT NAM giọng Chầu văn Sai bảo lệnh truyền và Hát thờ trình bày ở trên còn nhiều giọng khác trong các buổi cúng bái. Củng cô hồn có những bài văn, bài hát riêng.
Cúng mụ, cúng thần cũng có những bài văn bài hát, những bài văn bài hát này thường các thây cúng chỉ ê a đọc lên mà không hát như Chầu văn và Sai khiến chư thần.
Có thể kể là những bài hát tôn giáo, những bài hát trong những dịp cúng lễ có múa như múa đèn, bài văn cúng cháo, các bài văn tế v.v...
NHỮNG GIỌNG HÁT VỀ NGHỀ NGHIỆP Đây chính là những giọng hát hành nghề, trong số đó có thể kể được cả các lối hát Chầu văn và Sai bảo lệnh truyền đã trình bầy.
Mấy lối hát hành nghề đáng kể là hát Xâm, hát Tuồng, hát Chèo, hát Cải lương v.v...
HÁT XẨM.
Hát xảm còn gọi là xâm chợ là lối hát kiếm ăn của những người thường thường bị mục tật. Họ đi một đối ba người tới các nơi đông dân cư. Họ ngồi hát bên bờ đường, trước cửa chợ, trước cửa đình.
Họ ngồi chung quanh một chiếc chậu thau. Thường là một cặp vợ chồng, chồng mù vợ sáng, vợ dắt chồng đi kiếm ăn hằng nghề hát. Đi theo hoặc là đứa con, hoặc là một người khác có khi cũng bị mục tật.
Người chồng gảy chiếc đàn bầu mà ta gọi văn
Trang sách 210TOAN ANH vé là cây độc huyền cầm. Đây là một nhạc khí độc đáo hơn bất cứ một nhạc khi nào của quốc gia nào.
Đây là một cây đàn hoàn toàn Việt Nam, và chế hóa một cách hết sức giản dị. Đàn chỉ có một dây, căng thẳng trên trống đàn, một đầu dây buộc chặt vào trống đàn, còn một đầu buộc cây trụ bằng tre.
Cây trụ này dùng để nhấn âm thanh mỗi khi gảy.
Đàn không ngựa không phim, và trên mặt trống đàn chỉ có sợi dây đàn. Đàn chỉ có bốn cung, nhưng mỗi cung có thể tạo ra rất nhiều âm thanh, và tiếng đàn nghe thiết tha buồn ảo não.
Người xâm gảy đàn bàu để đệm cho lời ca của mình. Có khi chính người này, có khi người vợ hoặc người đi theo hát. Có khi họ đồng ca.
Những câu hát của họ rất thay đổi, có khi tả cảnh có khi tả tình. Đây là một câu hát mà đám hát xấm nào cũng thường hát tới :
Sáng trăng suông vằng vặc cái đêm hôm rằm, Nửa đêm về sáng, trăng bằng cái ngọn cây tre, Anh có yêu em cho vẹn một bề, Để em thơ thần ngồi kè bóng trăng, Sự tình này ai có thấu cho chăng ?
Để em chỉ nguyện bóng trăng chịu sầu, Tương tự một nhịp đôi ba cầu, Bắc Nam đôi ba ngả, chịu sầu đôi ba nơi.
Con chim khôn chết mệt về mồi !
Có khi đám hát xâm ngoài chiếc đàn bàu, lại
Trang sách 211CẦM CA VIỆT NAM có thêm cây nhị, khi nhị, khi đàn bàu, đệm cho lời ca, và cũng có khi hòa tấu cả hai thứ nhạc khi Việt Nam này.
Những người nghe hát xẩm thưởng thức lời ca, giọng hát cũng như tiếng đàn tiếng nhị, quăng tiền vào chậu thau đề thưởng tiền cho bọn xâm.
HÁT TUỒNG Hát tuồng do những ban hát trình diễn để lấy thù lao, do vậy ở đây chúng tôi xếp vào loại chuyên nghệ, những đào kép hát lấy tiền thù lao làm kế sinh nhai, tuy rằng vẫn có những tài tử lấy hát tuồng làm một thứ giải trí tao nhã, và thường trong những tích hát chỉ thủ những vai mình ưng ý.
Hát tuồng còn gọi là hát bộ hoặc hát bội là lối hát diễn lại những sự tích cổ trích trong các truyện, với mục đích rút ra một kết cấu với một ý nghĩa luân lý. Trong khi diễn lại tích cũ, các đào kép vừa hát vừa múa, đi lại trèn sân khấu. Lối hát này do người Trung Hoa truyền sang nước ta từ đời nhà Tống, vào khoảng dưới triều Lý nước ta (1).
Cũng có sách cho rằng lối hát này mới truyền sang nước ta lừ đời nhà Trần, do một tài tử là Lý nguyên Cát.
Hát tuồng, xưa là một lối hát rất được giới (1) Đoàn Nồng.- Sự tích và nghệ thuật hát bộ.
Trang sách 212TOAN ÁNH phong lưu tri thức ham chuộng, và giới bình dân cùng ưa thích. Theo Đoàn Nồng, xưa vua Tự Đức cũng soạn tuồng và hát với các danh nho, vua Thành Thái thích xem hát và cũng tự mình sắm vai trong tích hát ; cho đến vua Khải Định cùng ưa hát, ban xiêm giáp rực rỡ cho con hát và bắt phải luyện tập hẳn hỏi (2).
Vì do Trung Hoa truyền sang, nên các tích hát thường soạn theo sử Trung Hoa, mãi về sau, từ dưới Pháp thuộc mới có những vở tuồng soạn theo sách sử Việt Nam như Tây Nam Đắc Bàng, Gia Long Khai Quốc, Đông Á song Phụng v.v... Các cách hóa trang, bố cảnh, các điệu múa đều chịu ảnh hưởng theo lối diễn tuồng Trung Hoa, cho đến cả những câu nói lối, hát khách cũng vậy. Về sau có thêm nhiều điệu hát Việt như những câu hát Nam hoặc những câu nói lối bằng văn xuôi.
Hát tuồng có những điêm đặc biệt hoàn toàn Á Đông mà trong những điềm nầy, căn bản là sự tượng trưng. Có thể nói hát tuồng là một nghệ thuật, và tất cả các nghệ thuật Á đông không bao giờ có ý tả chân mà chỉ dùng tượng trưng để diễn đạt.
Trong hát tuồng, sự tượng trưng đi từ bố cảnh, hóa trang xiêm áo đến điệu bộ và câu hát.
Về bối cảnh vài cái ghế và một cải bàn là cung (2) Trần văn Khê.- Hát tuồng, Bách Khoa số 60, xh ngày 15-6-1959.
Trang sách 213CẦM CA VIỆT NAM điện ; một cành lá buộc vào ghế biến cung điện thành rừng xanh ; hai ghế chồng lên nhau là núi non hiểm trở ; một cây chèo là con thuyền ; một roi ngựa là con ngựa ; miếng vải có vẽ bánh xe đó là chiếc xe của nhà vua hoặc của Hoàng Hậu Công Chúa v.v...
Về hóa trang thì người trung mặt đỏ, râu năm chom, nịnh mặt mốc, mặt xám hay mặt đen và râu ria. Tướng Phiên thì mặt rằn rện râu quai nón, Yêu thi mắt lục lạc, tóc màu nậu bắp (1).
Về xiêm áo thì nịnh đội mũ vuông, tướng Phiên cố lòng Trĩ, lông Công, còn kép núi thì khăn đen.
Về điệu bộ, mỗi cử chỉ của đào kép là có ý muốn biểu lộ một cảm giác, một mối cảm tình hoặc một nền luân lý trật tự của người xưa. Khi một đào kép giơ một cánh tay làm bộ lau nước mắt không phải là có ý muốn tả chân cái buồn cho chư khán giả mà chính là muốn cho khán giả tự do tưởng tượng lấy bao nhiêu nỗi đoạn trường đau đớn. Mỗi điệu bộ tượng trưng một việc; trung, nịnh điệu bộ khác nhau. •Xây mặt vén râu làm bộ uống rồi đổ cặn rượu về phía sau lưng là đang uống rượu. Đưa cảnh tạy mặt ngang mày rồi kéo nhẹ từ trái qua phải là khóc, Ngồi xuống ôm bụng, lúc đứng lên có ôm thêm « Ông Làng » (Ông Tổ Hát Bội) là nở nhụy khai hoa. Thấy (1) Trần văn Khô.- Tài liệu đã dẫn.
Trang sách 214TOAN ÁNH cảnh quạt, nghe tiếng cười cũng biết ni trung ai nịnh.
Về câu hát, tướng đang bị thua mà hát cảu khách tức là sắp chết. Nghe nhịp « cắc rụp các» biết là thầy rùa tướng núi sắp ra (1).
Sự tượng trưng trong hát tuồng thật là nhiều ý nghĩa, và người dân Việt Nam, sống trong lề lối Á Đông, qua mỗi màn mỗi cảnh của tuồng, qua xiêm áo cử chỉ của mỗi đảo hát đều thấu hiểu, và do đó mới thấy thích thú.
Thích thú về điệu bộ, về xiêm áo, về bố cảnh khán giả lại còn thích thú về ca thể của tuồng. Ca thể nầy tồng hợp rất nhiều lối hát : nói, dặm,sa mạc, trống quân, quan họ v. v...
Thường mỗi khi diễn tuồng, đều có câu giáo đầu. Sau câu giáo đầu mới vào tuồng chính. Đào kép hát tuông, đóng vai gì lúc bước ra sân khấu, phải xưng danh vị của minh :
Tề trào Nguyên Lão, Mỗ hiệu Đinh Công, Son sắt một lòng, Tuyết da sáu giáp, Lộc nước ơn nhà đều khắp.
Một trai một gái cũng đặng hiền...
Mỗi lối hát được ca lên trong những trường hợp riêng (1) Trân văn Khê.- Tài liệu đã dẫn.
Trang sách 215CẦM CA VIỆT NAM Nói lối tuồng đề xưng danh :
Quyền Đô Đốc xà tang Ngã tánh Chu Công Cản Nói lối bóp dùng khi hai tướng địch mới gặp nhau hoặc khi cha mắng con đề nói lên sự phẫn nộ :
Ới hợi! Chở khoe khoang thần võ, Không phủ phục thiên sai !
Nói lối ai được dùng đề tả sự buồn rầu.
Hát khách thường do các tay đóng tướng hát trước khi ra trận hay đi tuần thú, vai đóng quan hát trước khi đi nhận chức, hoặc vai người thư nhàn đi ngoạn cảnh.
Hát khách phú hay là hát khách phú lục là loại hát đối đáp của những người xa cách gặp nhau, hoặc hai tướng địch hỏi lai lịch của nhau trước khi giao tranh.
Hát khách tầu mã là lối hát của những vai đuổi giặc hoặc có việc chi cấp bách.
Hát khách tử do người đóng vai sắp chết : tướng sắp tử trận hoặc người sắp tự tử Than và oán được hát để tả nỗi buồn.
Ngoài các điệu hát trên còn các điệu nam xuân hát lúc sắp lên đường dạo cảnh, nam thương hát lúc buồn, nam bằng hát lúc vui, nam dựng hát lúc nửa vui nửa buồn Tại miền Nam có hai lối hát buồn :
Trang sách 216TOAN ÁNH Nam đi : Hát lúc buồn nhưng không phải cảnh biến, Nam chạy : Hát lúc gặp hoạn nạn ; bị hồ, bị cướp đuổi.
Hát tuồng còn được gọi là tuồng cổ hiện nay vẫn được nhiều người ưa chuộng, và trong những dịp đình đám ở Nam Việt bao giờ cũng có vài buổi hát bội. Các vị quan viên, chức sắc, trong những buổi hát thường cầm chầu đánh trống đề khen chê các diễn viên.
HÁT CHÈO Theo Dương quảng Hàm, hát chèo dùng đề diễu các việc vui cười, những tật hư thỏi xấu của người đời, trong lời văn có nhiều giọng khôi hài, nhưng lại có tính cách khuyên răn người đời, thiên về luân lý. Có thể nói rằng, hát chèo dùng cái cười đề dạy đời.
Trong Vũ Trung tùy bút, Phạm đinh Hồ cho biết lối hát chèo xuất hiện từ đời nhà Trần. Đời ấy khi có quốc táng, dân chúng xúm chung quanh quan tài đề xem, người đông quá đến chật cả điện đình, dẹp rất khó khăn. Người dẹp dám mới bắt chước lối văn ca đời xưa, đặt ra lối hát song ngâm, sai quân lính đi hát riễu ở quanh đường đề dân chúng xúm lại xem cho chỗ điện đình rảnh lối mà lo việc tống táng. Đời sau người ta bắt chước và
Trang sách 217CẦM CA VIỆT NAM mỗi năm vào Tết Trung Nguyên, các tang gia mời người đến hát để giúp lễ, và những người nầy được gọi là phường chèo. Đến đời Vua Lê Cảnh Hưng, lối hát vẫn được biến thể và được xen lẫn nhiều giọng hát của tuồng mà thành hát chèo ngày nay và đã trở thành lối hát tuồng bình dân, hát tuồng nhưng lại khác hát tuồng, có thời rất thịnh hành tại miền quê Bắc Việt. Tôi còn nhớ khi tôi còn nhỏ, đi xem bất cử đám hội làng nào buồi tối chúng tôi đều được xem hát chèo, và hai tiếng xem chèo đã trở nên đồng nghĩa với đi xem hội quê vào. mỗi buổi tối.
Trong khoảng trước thế chiến thứ hai, ở Hà Nội có rạp Sán Nhiên Đài chuyên hát chèo, và ban chèo cổ Nguyễn đình Nghị đã từng là một ban chèo cổ nồi tiếng ở Thăng Long.
Những tích chèo một phần dựa theo truyện cồ Trung Hoa như hát tuồng, nhưng phần khác được soạn theo các tích cổ Việt Nam, nhật là các loại truyện bình dân.
Chèo Chu Mãi Thần dựa tích cô Trung Hoa, các chèo Lưu Bình, Dương Lễ, Quan Ảm Thị Kính, Thúy Kiều Kim Trọng v.v... soạn theo các truyện bình dân Việt Nam :
Chèo có những điệu hát riêng, khác với hát tuồng và phân làm nhiều loại được hát tùy theo từng đoạn của vở chèo: vui tươi, buồn thảm, ý
Trang sách 218TOAN ÁNH nhị, đanh đá hoặc bông lơn.
Hát chèo có những đoạn đối thoại như ta nói chuyện. Ngoài ra còn có ba cách nói gọi là : nói lối, nói sử và nói lửng.
Nói lối.- Cách nói của các tay đóng học trò thi đỗ hoặc khách nhàn du. Thường là bốn câu thơ thất ngôn, hoặc có khi chỉ có 3 câu, nhất là trong các vở chèo cồ.
Nói sử.- Đây chính là ngâm thơ, nhưng nhịp điệu thay đổi:
Sử Chúc dùng vào lúc giáo đầu, ca ngợi đất nước.
Sử Xuân tinh chất vui tươi.
Sử sầu dùng để diễn tả sự buồn thảm lo âu.
Sữ văn dùng để than. Thường là thơ lục bát.
Nói Lửng,- Cách nói của những đào kép thủ vai lắng lơ như Tủ Bà trong truyện Kiều, Thị Mầu trong truyện Quan Âm Thị Kinh.
Chèo cũng như tuồng chịu ảnh hưởng rất nhiều của thời cuộc. Ngày nay, thuần túy chèo rất ít được trình diễn tại các rạp, chỉ thỉnh thoảng xen vào một cảnh nhỏ. Những người lưu tâm tới văn hóa, trước những sự thay đổi của ca hát không khỏi bùi ngùi khi thấy lối hát chèo đang dần đi vào con đường đào thải.
Trang sách 219CẦM CA VIỆT NẠM HÁT CẢI LƯƠNG Đây là một lối hát mới có từ thời Pháp thuộc, phối hợp cổ kim, sử dụng đủ các bản hát cổ kim, các loại tuồng chèo các loại ca bình bán, nam bình, nam ai, hò ca, vè, và cả vọng cô nữa. Cùng với các bản ca, các nhạc sĩ, đệm nhạc bằng đủ loại nhạc cũ, nhạc mới.
Do sự pha trộn nây, cải lương có vẻ dồi dào phong phú về ca và nhạc, và thích hợp với đủ mọi loại khán giả nhất là dân chúng vùng quê miền Nam.
Ở Bắc Việt cho đến hồi tiền Genève, lối hát cải lương không mấy phổ cập trong thôn dã, không như ngày nay tại miền Nam, mọi người dân đều ưa cải lương đặt cải lương vào một địa vị quan trọng của nghệ thuật.
Tại khắp các rạp hát miền Nam hiện thời đều có trình diễn cải lương, ở Đô thị cũng như ở vùng quê. Và các vở cải lương được soạn ra rất nhiều, phỏng theo dã sử, phỏng theo những tiểu thuyết tình cảm và có khi phỏng theo cả truyện kiếm hiệp truyện thần thoại. Cũng đôi khi có những vở cải lương xã hội nội dung có phần nào đến gần thực tế.
Cải lương đã thắng cả hát tuồng lẫn hát chèo, không hiều đây có phải là một sự phân hoa của văn hóa chăng ?
CA VỌNG CỔ.
Vọng cổ là một bài ca xuất xứ tại miền Nam
Trang sách 220TOAN ÁNH và rất được phổ biến trong đại chúng. Vọng cổ giọng buồn, não nùng, tha thiết, dễ cảm, dễ xót xa, Có lễ chưa bài ca nào được đại chủng miền Nam ưa thích bằng những bài vọng cổ. Thường một bản ca vọng cổ có 6 câu, nhưng trên thực lế một câu hai câu, ba câu... đều có thể được cả.
Trước sáu câu có một khúc nói lối. Dưới đây là thí dụ :
Nói lõi. Em gọi tên người bằng niềm vui vô vọng, rồi buông rơi hai tiếng ấy giữa không gian, nhặt đâu dây vài cánh hoa tàn, em xếp lại đề tủi buồn cho số kiếp. Kia mấy cánh hoa rụng xuống giữa cô liêu, nó đã tàn úa, không còn giảm luyến lưu tinh bướm trắng.
Bài ca : Chị em ơi, khó cho một cuộc đời vô vọng của những đóa hoa rới rụng dưới chân đôi, nó đã tàn phai nhan sắc tứ lâu rồi, nó đã xa la sự sống của những ngày ủ mộng đời xuân sang. Cát bụi sẽ phủ lên minh nó đề rồi mưa nắng thời gian không còn biết nó là hoa gì, được mấy tuổi ước mơ mà chôn vùi nguồn mở ước.
Chị em ơi, em muốn nói đời hoa ấy là em, là Thu Lan đã hơn ba năm nay hầu hạ dưới chân người, nó từng thức thâu đêm để nghe gió lạnh thở dài, nghe lá rụng, nghe tâm tình thôn thức và để , buồn vui theo ánh mắt của người yêu, nhưng em không có quyền thổ lộ, vì em đã lỡ yều. Hương tinh
Trang sách 221CẦM CA VIỆT NAM của thuở ban đầu nhạt phai, thì đâu thế nào em lại nói tiếng yêu ai.
- Chị em ơi ! Em là kẻ tàn tật, linh hồn trong trắng mà mảnh hồng nhan không che kín được vết. thương. Nếu em có yêu thì yêu người đồng chung cảnh ngộ, người trong sạch, linh hồn trong trắng mà tàn phế xá: thân, người ấy đang cùng lượng tri tâm hồn điên loạn cũng như em. Người ấy, người có quyền điều khiển đám tàn quân, có quyền oán vua hận chúa và người ấy là người đã từng phen hạ lệnh cho em dâng cơm, hầu nước, đốt lửa, giặng màn (1).
Về văn chương những câu hát vọng cổ thường đại đề như câu trên, chỉ than van, chỉ thương nhớ, nhưng với điệu ca, vọng cổ đã có ma lực mãnh liệt để quyến rũ giới bình dân miền Nam và cả giới trí thức nữa.
Trong các rạp hát, khi ca sĩ hạ đến đoạn mùi là tất cả khán giả vỗ tay, và trong lúc ca sĩ hát, nhiều khán giả đánh nhịp chân, gỡ nhịp tay theo giọng ca.
Về nguồn gốc giọng ca vọng cồ, có nhiều người đưa ra nhiều luận điệu khác nhau.
Nguyễn Tử Quang trong Thử tim xuất xứ bài vọng, cổ đăng trong Bách Khoa số 63, xuất bản ngày 15-8-1969, đã viết : (1) Thạc Nhân.- Tài liệu đã dẫn.
Trang sách 222TOAN ÁNH « Vào khoảng năm 1920, tại Chùa Làng Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu có một nhà sư, tên họ thật là gì, người làng không biết được mà chỉ biết Pháp danh là Nguyệt Chiếu. Vì ở xa lại nên người ta không rõ được tông tích nhà sư.
"Nhưng thấy nhàn ho sư học uyên thâm với tư tưởng ẩn dật, người ta đoán chừng là một văn nhân chống Pháp trong thời Cần Vương, nay thất thời nên tạm lánh mình vào cửa Phật.
« Tuy đã đi tu nhưng vẫn mang nặng tình non nước, lòng còn hoài bão chí khí lớn lao với một cuộc đổi thay, nên nhà sư mới đem tâm sự mình ký gởi trên bài từ, đề là dạ cổ hoài lang, nghĩa là Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng. Đại ý của nó cũng tựa như tác phẩm Chinh phụ ngâm của Bà Đoàn thị Điểm.
« Bài thơ nầy lại được vào tay Ông Sáu Lầu, một nhạc sĩ có danh tiếng lúc bấy giờ. Lời thơ tuy tầm thường nhưng có lẽ lúc bấy giờ, giữa đòi bên thông cảm được mối tình thương nhà nhớ nước nên Ông Sáu Lầu mới lấy bài thơ ấy phổ ra nhạc.
« Đó là bài Dạ cổ hoài lang nhịp đơn, âm điệu mường tượng hai bài Hành vân và Xuân Nữ. Bài ấy lời lễ như thế nây: * Từ phu tướng, Báu kiếm sắc phong lên đàng, Vào ra luống trông tin chàng.
Trang sách 223CẦM CA VIỆT NAM Thêm đau gan vàng, "Trồng tin chàng, Gan vàng thêm đau !' Chàng dầu say ong bướm, Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
Đêm ngóng trông tin bạn, Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.
Vọng phu, vọng luống trông tin chàng.
Năm canh mơ màng, Chàng hữi, chàng có hay.
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.
Bao thuở đó đây sum vây, Duyên sắc cầm tinh thương.
Nguyện cho chàng Đặng chữ bình an Trở lại gia đàng Cho én nhạn hiệp đôi»
Lúc đầu vọng cổ chỉ có thế, chỉ là bài Dạ cổ hoài lang. Bài nầy được đưa lên sân khấu bởi gánh hát thầy Năm Tú ở Mỹ tho đầu tiên, rồi lần lượt các gánh khác cùng sử dụng, nhất là trong các tuồng cái lương.
Rồi bài hát chịu sự biến đổi, từ Dạ cổ hoài lang, đổi sang Vọng cổ hoài lang, đề về sau tên gọi được đơn giản hóa hơn với hai tiếng Vọng cổ.
Những bài vọng cổ được soạn ra, dài hơn, lâm ly hơn, bi sầu não nuột hơn !
Điệu Vọng cổ buồn, phải chăng nó báo trước
Trang sách 224TOAN ÁNH cáif buồn của dân tộc Việt Nam ngày nay ! Anh em đánh giết nhau, rồi bom rơi đạn nổ, bàn tay ngoại tộc đã dinh vào, Bắc cũng như Nam, máu người Việt càng đồ nhiều vì khi giới dị bang ! Những người có trách nhiệm vì quyền lợi riêng tư của mình không nhìn thấy tiền đồ của dân tộc. Người ngoại quốc, chúng có thương chi mình là người khác giống ! Thử hỏi trong chúng ta ngày nay mấy gia đình là không tang tóc ?
Bản ca vọng cổ vẫn được hoan nghênh, cái điệu ca vong quốc nấy còn được nhiều người thích thú, có lẽ đất nước chúng ta còn chịu nhiều đan đớn, và nỗi u huồn của dân tộc còn dài dằng đặc không biết đến bao giờ ?
Trong các nhạc sĩ miền Nam có nhiều người tài ba đã soạn ra nhiều câu vọng cổ thật là não nuột. Dưới đây chúng tôi xin trích ra một hài của Ông Trinh thiện Tứ, một nhạc sĩ quán ở Bạc Liêu rút trong cuốn CA NHẠC CỔ ĐIỀN, ĐIỆU BẠC LIÊU, để bạn đọc cùng thưởng thức. Bài nầy gồm câu nói lối và sáu câu vọng cổ.
Vua thoái vị đi tu Nói lõi : Câu : Phú quí tợ môn tuyền tuyết ; chữ công danh như thảo thượng sương. Cõi trần ai là cốt khổ tong thương, tránh sao khỏi con đường sanh, bịnh, tử. Thà kiến tánh để trở về ngôi vị cũ ; lo tu tâm giải thoát nẻo sa đà. Mặc
Trang sách 225CẦM CA VIỆT NAM dầu ngày mai trẫm kế nghiệp Tiên Vương...
VỌNG CÔ Lên ngôi nhất thống sơn hà, Đại quốc vi vương sống trên nhung lụa ngọc ngà, Trẫm đội vầng nhật nguyệt, đạp máy âm dương, câm đầu văn võ bá quan;
Giữ gin xã tắc, thể thiên trị quốc an bang ;
Nhưng bao nhiêu chí cả hiên ngang, cũng là tạm thời mộng ảo. 2) Có câu ca dao: Vi chưng kiếp trước khéo tu, ngày nay con cháu vống dù nghênh ngang.
Gieo căn là hưởng quả nên trời trả công phu bằng ấn ngọc ngai vàng, Nhưng có lẽ đâu trần duyẻn tạm niệm, danh lợi tóm thâu khi kế nghiệp cho tiên hoàng.
Biết đâu màn vô minh kia là tội trọng vật khinh, nó che nguồn đạo đức.
Thôi kể từ đây thế sự giai hưu, trấm xin nhường ngôi thoái vị.
Thiên tùng nhân ý, mãng bào long cổn cởi ra, trẫm mặc vào chiếc áo cà sa. 3) Công dạnh như bào ảnh, phú quý tợ phù vân. Xét ra tứ đại giủ tan ;
Trang sách 226TOAN ÁNH Trên thế gian xác phảm là tượng trưng cho tí khổ : sanh, lão, hệnh, tử của con người.
Dầu ai có trục lợi tham danh, cũng chỉ suốt đời lạm hưởng bởi sách có câu :
« Sơn trung tị hữu thiên niên thọ, thế thượng nan phùng bả tuế nhơn»
Nghĩa là : ngàn năm cây vẫn sống, nhưng thế gian trăm tuổi ít ai con Thiên vũng khôi khôi, sơ nhi bất lận ; cao phi viền lẩu giả nan toàn. 4) Đứng giữa thanh thiên, trìm phát tâm lịp nguyện siêu thoát ngươn hồn, Xả thân cầu đạo, tế chúng độ nhơn đặng mót bòn công phu công quả Vì ngươn hồn là khối chơn linh hất diệt, là bửu pháp vô vi Vậy trẫm còn mến tiếc nữa chi ? Cõi đời sanh ký tử qui, cái xác thân phảm hý.
Cứt lo mặc sướng ăn sung, nằm cao va ngủ kỹ, sanh ra lục dục thất tình ;
Tham vọng hư thân, đã không tích đức lại thêm như bợn phong trần. 5) Nhứt điểm vô minh chi hỏa năng thiêu âm đức chi lâm
Trang sách 227CẦM CA VIỆT NAM • Có thể đốt rừng đạo hạnh vì chưng dóm lửa mê huyền.
Nhớ câu : « Phật pháp thậm thâm vô biệt niệm ; đắc kiến Như Lai khi giác ngộ đạo Thiền, Khuyên ai đừng mê vật chất bản thân, lo tu tâm đặng gieo trồng hậu quả.
Tu tâm vi Phật tại tâm, vậy phải dọn sạch lòng mới mong gần nơi Phật tọa.
Bởi đời đây là đời giả, cố nhiên đạo cả mới vững bền. 6) Muốn qua bỉ ngạn, tim cảnh kỳ viên, ta nên phản tục qui nguyên, sang thuyền bát nhã.
Đỏ chuộng cảnh tỉnh, gióng trống giác mê, trẫm gỗ mõ tẩy trần và tụng kinh sám hối, Đặng đem hạnh phúc giả phàm đổi lấy nguồn đạo đức chơn như.
Xóa nợ trần ai, tìm chốn Phật Đài, ngày đêm đốt nén trầm hương, đặng xông sách cõi lòng, Không màng khổ hạnh, bao nài khảo đảo xác thân, giỏi cho tuyết sương chang thử thách bả tòng.
Vi tâm kiến Nư Lai, khỏi đọa luân hồi lục thú.
Nam mò Phật A di Đủ ...Tự giác, giác tha.
Trang sách 228TOAN ÁNH • CÁC LỐI CA HÁT TRÍ THỨC Nếu các lối ca bình dân được phố biến trong đám quảng đại quần chủng thì những lối ca hát trỉ thức chỉ được giới trí thức ưa chuộng. Những lõi ca hát trí thức cầu kỳ hơn cần phải có một trình độ văn hóa đề hiều biết lời ca, cũng như cần phải có khả năng tài chính để thù lao cho ca nhi.
Trong các lối ca hát trí thức có hai lối rất thịnh hành trước đây là Ngâm Thơ và Ca Trù.
NGÂM THƠ Các tay văn tự thường làm thơ rồi ngâm cho nhau nghe, giọng thơ ngân nga như muốn diễn tả hết tình ý chứa ựng trong lời thơ.
Các cụ nhà nho có thú xướng, họa : một cụ làm một bài thơ, cụ khác họa nguyên vận rồi cùng ngâm đề cùng thưởng thức.
Nhiều người không làm được thơ, nhưng rất ưa ngâm thơ. Họ thường ngám những đoạn trong các truyện Kiều, Tống Chân Cúc Hoa, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai v.v...
Ngoài ra các nhà văn tự lại ưa làm thơ tập Kiều, nghĩa là lấy những câu trong Kiều để ngâm vịnh cho những đề khác.
Ngâm thơ thường không có nhạc. Ngày nay các tác giả mới cũng ngâm nga thơ của mình, và có đệm nhạc.
Trang sách 229CẦM CA VIỆT NAM Làm thơ xong, hoặc các tác giả cùng bè bạn tự ngâm để thưởng thức với nhau, hoặc giao cho ca nhi ngâm.
Trong những buổi tối đi mua vui ở xóm cô đâu, nhiều nhà văn, nhà thợ thường soạn sẵn những bài thơ hoặc những bài tập Kiều để cô đầu ngâm.
Đây là cái thú thanh cao của người biết chữ.
CA TRỪ Các cụ xưa rất ưa ca trù. Ca trù chính là hát ả đào, nghĩa là lối hát của cô đầu khi tiếp đãi quan viên.
Sở dĩ gọi là ca trù vì ngày xưa khi có tế lễ thường mời ca nhi tới hát và khi hát có lệ hát thẻ.
Thẻ gọi là trù làm bằng mảnh tre ghi chữ đánh dấu, dùng đề thưởng ả đào thay cho tiền mặt (1).
Trong buổi hát thờ, mỗi khi ca nhi hát hay, lại được thưởng một chiếc thẻ, khi buổi hát tan, đoàn ca hát cử theo số thẻ lĩnh tiền thưởng. Do đó, hát Ả đào gọi là Ca Trủ, nghĩa là hát thẻ.
Hát ả đào còn gọi là hát cô đầu, hát nhả tơ hay hát nhà trò.
Khi ả đào hát có kép dùng đàn để đệm cho câu hát và có quan viên đảnh trống cẩm chầu. (1) Đỗ bằng Đoàn, Đỗ trọng Huề.- Việt Nam Ca Trù biên khảo.
Trang sách 230TOAN ÁNH Chính á đào trong lúc hát lại gõ phách để giữ nhịp câu hát.
Hát ả đào có ba lối chính :
- Hát chơi là hát khi tổ chức tại nhà quan viên hay tại nhà á đào đề quan viên mua vui. Trong những buổi hát chơi nầy, cò đầu thường ca những bài phóng khoáng và tình tứ.
- Hát cửa đình là hát để thờ thần. Trong những buổi hát nầy, ca nhi thường hát những bài về sử, về kinh truyện, về sự tích danh nhân, ngoài những khúc do đào hát còn những khúc do kép hát và những vũ - Hát thi là lối hát để khảo sát tài năng của đào kép.
Với ba lối hát, ca trù có lất cả trên 40 thể, nhưng những thể thường được hát nhiều là :
- Bắc phản - Mưỡu - Hát nói - Gửi thư.
Về âm luật ca trù có 5 cung chính (cung ở đây là giọng hát và hợi đàn): 1) Cung Nam, giọng bằng phẳng mà xuống thấp. (1) Đỗ bằng Đoàn, Đỗ trọng Huề. - Việt Nam ca trù biên khảo.
Trang sách 231CẦM CA VIỆT NAM 2) Cung Bắc, giọng rắn rỏi mà lên cao giọng đọc dính vào nhau mà 3) Cung Huỳnh, mali. 4) Cung Pha, hợi ai oán, giọng đọc chệch lo lớ đi. 5) Cung Nao, hơi chênh chênh, đương ở cung nọ chuyền sang cung kia. Cung nao chen lấn ở giữa, âm nhạc Tây Phượng gọi là nửa cung.
Về sau có thêm một cung nữa gọi là cung Phú.
Cung Phú hơi như vẻ đọc Phú, cuối câu có hơi ngân bậc cao (1).
BẮC PHẢN Hát Bắc Phản mở đầu cho cuộc hát. Sau khi đào kép dạo phách là hát Bắc Phản. Giọng hát thanh tao từ hơi Nam chuyền sang hơi Bắc, do đó có danh từ Bắc Phản.
Câu hát là những câu lục bát, giọng hát bằng phẳng đều đều.
Dưới đây là một câu hát Bắc Phản cổ :
Nỗi xa cách nhớ thường Trệu người chi mấy trăng gia Xe dây cho hăn một nhà với nao.
Bấy lâu duyèn những ước ao, Giấc hòa mộng tưởng, chiêm bao mơ màng.
Sơn lâm mãy cõi tưởng vàng 1) Đỗ bằng Đoàn, Đỗ trọng Huề.- Sách đã dẫn.
Trang sách 232TOAN ÁNH Cây bao nhiều lá thương chàng bấy nhiệu.
HÁT MUỠU Sau Bắc Phản thường là Hát Mưỡn. Điệu phách khoan thai. Câu hát là một hoặc hai câu lục bát tùy theo từng trường hợp. Hát Mưỡu tuy câu hát cũng là lục bát như Bắc Phản, nhưng giọng Nam, giọng Bắc phân minh, lời hát réo rắt khác với sự bằng phẳng của Bắc phản. Mưỡn mở đầu cho bài hát nói. Mưỡn một câu lục bát là mưỡu đơn, hai câu lục bát là mưỡu kép. Mưỡn tóm tắt ý tưởng trong bài hát nói :
Đêm thu Thăng Long Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương, Nhịp cầu An Thái, mặt gương Tây Hồ.
Trên đây là một câu Mưỡu kép cổ, không rõ ai là tác giả. Dưới đây là một câu mưỡu kép của Tản Đà :
Hỏi gió Cát đâu ai bốc tung trời ?
Sóng sông ai vỗ ? Cây đồi ai rung ?
Phải rằng di gió hay không ?
Phong tình đem thói lạ lùng trêu ai ?
HÁT NÓI Sau hát Mưỡu là Hát Nói, nhưng trước bài hát
Trang sách 233CẦM CA VIỆT NAM Nói có năm khổ đàn. Với Hát Nói tác giả gói ghém ý mình muốn nói vào câu hát.
Hát nói đủ khổ có 11 câu.
Hát nói dôi khổ có trên 11 câu.
Hát nói gối hạc là bài có nhiều cậu, vừa dôi phách lại vừa cách đặt khúc khuỷu tựnn no mư Hu là bài hát nói có câu lục bát trước khổ kết.
Bài Hỏi Gió của Tản Đà là một bài đủ khổ :
Khoái tai phong dã !
Giống vô tình cây đá cũng mê tơi.
Gặp gió đây hỏi một đôi lời, Ta hỏi gió quen ai mà phảng phất ?
Thử thị Đà Giang phi Xích Bích Dã vô Gia Cát dữ Chu Lang.
Ai cầu phong ? Mà gió tự đâu sang ?
Hay mải khách văn chương tim kết bạn ?
Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán, Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong.
Nên chăng gió cũng chiều-lòng.
Một bài hát Gối hạc và Dôi khổ.
Nhàn nhật tầm phương Xuân bất lão nhân hà lão, Lúc thanh nhàn đũng đính dạo tim hoa.
Nào Lan, Đào, Mai, Lý, Cúc, Trà, So hương sắc, mỗi hoa tươi một vẻ;
Trang sách 234TOAN ÁNH Chẳng trách bướm ong ham đáo để, Nhẽ nào quân tử lại vô tâm ?
Đã chơi hoa ngắm nghía ôm cầm Vậy thưởng thức có tinh thần thời mời thích.
Xuân khử xuân hồi thi mãn bích, Hoa hàm hoa tiếu tửu khinh tôn.
Rượu pha hương say lít càn khôn, Hoa đượm tuyết lại càng tôn vẻ quý Vườn ngự uyên chị Hằng lưu ý Khách tầm phương thường để trí vãng lai Còn xuân họa nguyệt còn dài.
CHIÊU DƯƠNG (Sơn Nhân nhàn bút) Một bài hát Mưỡu hậu :
Nợ phong lưu Cỏi trần thế nhân sinh là khách cả, Nợ phong lưu kẻ trả có người vay.
Trong trần ai, ai biết ai hay, Làm ra đứng phi thường cho rõ mặt.
Quân tử dụng tâm vô đố tật, Trượng phu xử thế hữu kinh quyền.
Bất vưu nhân bất oán thiên, Ba vạn sáu nghìn ngày thích chỉ.
Năm ba chén trà nhân rượu trí.
Một vài câu thơ thánh phú thần Nhởn nhơ trong cõi hồng trần
Trang sách 235CẦM CA VIỆT NAM Gặp ngày chung đỉnh đai cân cũng vừa Thảnh thơi bầu rượu túi thơ. (NGUYỄN CÔNG TRỨ) HÁT GỬI THƯ Đây là giọng hát để người hát diễn đạt tình ý dưới hình thức một bức thư. Bài hát thường là những bài văn song thất lục bát, đôi khi có biến thể thêm một vài chữ cho rõ nghĩa.
Những bài thư Gửi Người Tinh Nhân không quen biết của Tản Đà thường được dùng đề hát Gửi Thư.
Thư đưa người tình nhân không quen biết Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi, Viết bức thư nầy gửi đến ai.
Non nước xa khơi tình bỡ ngỡ, Ai tri âm đó nhận mà coi.
Ngàn mây biếc long lanh đáy nước, Bóng tà dương ngả gác non đoài.
Tranh kia ai vẽ cho trời ?
Ngoài sơn thủy lại một người đứng trơ.
Hồn kiếp trước ngẩn ngơ chưa tỉnh, Mối duyên tình vơ vẫn càng thêm, Tuyệt mù tăm cá hơi chim, Nào người nhỏ hỏi thăm tìm là đâu ?
Kể từ độ lọt đầu se tóc,
Trang sách 236TOAN ÁNH Cũng cùng mang tiếng khóc mà ra.
Cõi sầu ta lại với ta, Lọ quen biết mới gọi là tương tri.
Cơn gió thảm có khi cùng khóc, Bóng trăng thanh lắm lúc cùng chơi;
Gượng vui cùng một nét cười, Nguyệt hoa cùng trải cuộc đời như nhau.
Bê trần hải chẳng sầu mà sóng, Câu hành tinh đã rộng thêm tròn;
Tài tình một gánh con con, Đông, Tây, Nam, Bắc ai còn gặp ai.
Nỗi bèo nước đã thôi thời thế, Tinh cỏ sương khôn dễ mà khuây.
Phòng văn trở lại gót giầy, Chén tương tư rót cho đầy lệ vơi.
Tấc son giãi mấy lời huê bút, Tờ giấy bay theo ngọn gió đông.
Lòng kia hỡi có tin lòng, Nước non khơi cách ngàn trùng chưa xa.
Tản Đà Nêu trên là mấy lối hát ca trù thường được các ca nhi hát tới và được quan viên ưa thưởng thức. Ngoài ra còn trên bốn chục lối hát khác nữa, đáng kê là Kể truyện, Hãm, Tì bà, Xẩm Cô Đầu ...
HÁT TRẺ EM Từ trên, chúng tôi đã trình bày phần lớn các lối ca hát Việt Nam, từ những lối ca bình dân
Trang sách 237CẦM CA VIỆT NAM đến những lối được hạng trí thức ca hát hoặc ưa thưởng thức. Đấy mới là những lối ca hát của người lớn, nhưng các trẻ em trong những trò chơi chúng nó cũng những lối hát riêng. Dưới đây là một số những câu hát đi theo với trò chơi.
CHI CHI CHÀNH CHÀNH Đây là lối chợi đi tim. Một em chìa bàn tay ra các em khác đề ngón tay trỏ trên bàn tay của em nầy, rồi em nầy cũng lấy ngón tay trỏ của mình đặt lên bàn tay vừa đi vừa hát:
Chi chi chành chành Cải đanh thôi lửa Con ngựa chết chương Ba vương Thượng Đế Sau tiếng ập, em nắm tay lại, em nào có ngón tay bị nắm trong bàn tay của em kia, sẽ nhắm mắt lại đề các em khác đi ẫn, rồi em đi tim.
THẢ ĐỈA BA BA Trò chơi nầy cần một em làm đía, còn các em khác là những người lội qua sông. Các em thường cùng nhau chơi ở sân đình, sân chùa, hoặc lúc đi chăn trâu thì chơi ở trên một thửa ruộng đã dỡ mầu rồi. Hai bên bờ ruộng, hai bên mé sân được coi là bờ sông. Em làm đỉa đứng ở giữa sân hoặc giữa ruộng, còn các em kia chạy qua
Trang sách 238TOAN ÁNH chạy lại. Đỉa phải đuổi bắt người lội sông. Em nào bị đĩa bắt phải làm đỉa thay cho em cũ được trở thành người lội sông trong trò chơi.
Lúc đầu tiên cần phải có một em làm đỉa.
Tất cả các em đứng vây quanh thành vòng tròn, một em hát bài thả đỉa ha ba mỗi tiếng chỉ vào một em, em nào trúng tiếng sau cùng em đỏ làm đỉa Bài hát như sau :
Thả đĩa ba ba Chở bắt đàn bà.
Phải tội đàn ông.
Cơm trắng như bông, Gạo thuyền như nước, Đổ mắm đỏ muối, Đổ tưới hạt tiêu.
Đổ niêu phân gà, Đồ phải nhà nào, Nhà ấy phải chịu.
Em nào trúng tiếng chịu em ấy phải làm đĩa.
Đại khái, chúng tôi kề ra vài trò chơi với các • câu hát liên hệ của trẻ em đề bạn đọc có một ý niệm về lối hát này. Thực ra các trẻ em nhiều trò chơi lắm, và với các trò chơi thường đều có các câu hát, chúng tôi rất tiếc không kể được hết ra đây. (1) (1) Xin xem cuốn Trẻ con hát., trẻ con chơi của Nguyễn văn Vĩnh,
Trang sách 239CẦM CA VIỆT NAM HÁT TÂN NHẠC Đây là thời kỳ tiền chiến của ca hát Việt Nam.
Tại các thành thị, người ta hầu như sao lãng hết những điệu hát cổ truyền. Chiếu bóng, âm nhạc Tây phương, phong trào thể thao và hướng đạo đã ảnh hưởng rất lớn tới nền ca hát Việt Nam với những câu hát vui tươi, với những bài hát sáng tác bởi các nhạc sĩ phái mới.
Kề từ những cuộc vui chơi của trẻ em nhắc lại những tích cô cũng có những câu hát theo điệu mới, như câu hát sau đây nhắc lại sự tích Vua Đinh tiên Hoàng.
Anh hùng xưa nhớ thời là thời niên thiếu.
Dấy binh lấy lau làm cờ, Quên mình là mình giúp nước, Hết sức giữ gìn cho nước, Dấn thân trước nơi ngùy nàn...
Những cuộc lửa trại hướng đạo được tổ chức thay thế những trò chơi tập thể của trẻ em vùng quê, và trong những cuộc lửa trại nầy những câu hát Pháp được chuyền sang tiếng Việt Nam. Như bài hát con Voi dưới đây:
Trông kia con voi Nó đứng rung rinh Nghiêng mình trong đám.
Nhện chăng vò tơ.
Anh chàng voi ta, Thích chí mê tơi,
Trang sách 240TOAN ÁNH Bèn mời anh khác, Đằng xa vào chơi.
Trên lãnh vực ca hát của người lớn, người thành thị miền Bắc hồi đó, - chúng tôi muốn nói vào khoảng từ năm 1932 trở lại - như muốn say mê những điệu hát lai Tây. Có thể vì âm nhạc mới lạ, nhưng cùng lại vì những lời ca nồng cháy của những mối tình đầy xác thịt. Những bài hát Au Tây nầy khác hẳn những bài hát Việt Nam cũng ca ngợi tình ái, nhưng ở đây là mối tinh êm đềm kín đáo mà thắm thiết.
Chính vì quả say mê cái mới Tây phương mà lớp người mới ở Thành thị thường ca hát những bài tiếng Pháp.
Và nhiều bài hát Pháp được chuyển sang Việt ngữ, trai gái thị thành thích thú những bài hát này, chúng để cao cá nhân. Dưới đây là một trong những bài hát của lũ người mất gốc hồi đó, bản tiếng việt của bài CRÉOLA :
Phút mơ màng, Ngồi bên em tựa bên thiên đường, Và ngàn hương sắc huy hoàng chim hót ca lừng vang Chảo xuân đi, nàng tiên, trời tươi thắm, một mẫu tươi sáng.
Ta cố quên ngày tháng, sung sướng đi nàng tiên !
Trang sách 241CẦM CA VIỆT NAM Kia hồ xưa xa xăm man mác êm đềm, Ô người tiên, mắt em mơ màng, Cười cùng anh chó nện ưu phiện.
Ca hát đi nàng tiên, Vang ca khúc tinh duyền.
Bài hát trên có thể tượng trưng cho tất cả những bài hát ngoại quốc được chuyển sang lời Việt hồi đó. Những bài hát nầy chỉ ca tụng một cách vụng về tình ái lộ liễu của trai gái.
Nhưng dù con người thành thị có ưa những bài hát này đi mấy, chúng cũng chỉ có một thời.
Chỉ ít lâu sau, một phong trào mới về ca hát xuất hiện nhờ ảnh hưởng của phong trào hướng đạo. Nam nữ thanh niên đua nhau hát những bài hát Mên, Lào, cả giọng hát Thượng mặc dâu họ không hiều gì về ý nghĩa của bài hát. Chúng tòi có thể kể lại đây những bài Hời màn Prồ, Nùng Păng Cà lô ti v. v...
Sau đó, vào khoảng 1941-1942, những bài hát Trung Hoa cũng được đồng bào thành thị miền Bắc hát tới và được chuyền sang Việt ngữ. Một bài danh tiếng của thời đó là bài Hà nhật quận tái lai, nghĩa là Khi nào chàng trở lại được hầu hết các thanh niên nam nữ thuộc lòng, và một số người ở đồng quê cũng hát. Có lễ nó có tính chất phương Đông nên dễ phồ biến chăng ?
Trang sách 242TOAN ÁNH Hà nhật quân tái lai ?
Đi có để hình bóng, Cùng mối thương anh để bên lòng.
Em nhắn nhủ thời gian, Mang đến trả tinh quân.
Như đóa hoa thơm như sương, Mau cứu hoa khỏi héo tàn...
Vương vấn âu sâu làm chi, Nếu sau ngày biệt ly Còn mong sẽ có một trùng lai tư nhi Giữ duyên khỏi phai, Dù bước phong trần lôi kéo đời.
Em cũng như tinh quản Yêu lo mội kỳ tái xuân.
Bài hát trên là lời than của một xuân nữ, cầu khẩn cho người yêu trở lại và mong mỏi ngày tái ngộ.
Ngoài bài trên, còn bài Nhớ Rừng cũng chuyển từ Hoa ngữ sang rất được thanh niên nam nữ học sinh ưa thích.
THỜI KỲ SÁNG TÁC Chịu ảnh hưởng của nền âm nhạc Tây phương, không lẽ người Việt Nam cứ chuyển mãi những bài ngoại quốc sang Việt ngữ, do đó, cùng với sự chuyền dịch trên, các nhạc sĩ Việt Nam cũng sáng tác được nhiều bản nhạc đã lột được tinh thân của
Trang sách 243CẦM CA VIỆT NAM nhạc sĩ và đã trở nên rất có giá trị, nó hợp với tâm hồn người Việt Nam hơn. Có những bài như bài Bện sườn núi của Phạm đăng Hinh, bài Việt Nam Bất Diệt của Hoàng gia Linh, bài Khỏe Vi Nước của Hùng Lân v. v... rất được phố biến.
Vào năm 1942, những bản nhạc do nhạc sĩ Thầm Oánh sáng tác cũng rất được hoan nghênh, và được đám quần chúng say mè, trong đó đáng kể là các bài Hồ xưa và Tâm hộn anh tìm em.
Ngoài ra, một hướng đạo sinh, Ông Phạm văn Xung có soạn được bài Đi đi ta cùng đi cũng được giới bạn trẻ luôn luôn hát tới.
Đề tượng trưng cho các bài hát được sáng tác trong thời kỳ tiền chiến nây, chúng tôi xin ghi lại đây bài Tâm hồn anh tìm em đã từng làm cho giới thanh niên thích thú.
Tâm hồn anh tim em, Theo lần sang vườn Thúy, Dưới trăng mờ sao huyền, Lòng anh giá băng.
Dưới bóng trăng mở, Tim hình người mơ, Gió lay trong trời thanh, Anh mến xin hương trầm tóc xanh.
Ánh trăng hằng sáng, Như mắt nhung mơ màng, Và tóc em là làn liễu xanh: rờn.
Trang sách 244TOAN ÁNH Tâm hôn anh tìm em, Theo lân sang vườn vắng, Nhớ nhung căng tràn tim, Trong bóng điệu trăng mờ sao huyền, Một mình bên sông mở với em.
Bản hát trên thật là êm ái, lời lẽ thật là thanh nhã, hợp với tâm hồn bạn trẻ và cũng không đi ngược lại hướng đạo đức của phương Đông như những bài quả nông cháy dịch ở các bài lây Phương sang tiếng Việt.
Tưởng cũng nên nói thêm là nếu tất cả lối ca hát cổ truyền Việt Nam có thể ca không nhạc ngoại trừ Hát chèo, Hát xâm, Ca trù và Hát tôn giáo, thì những lối hát Cải lương và hát Tân nhạc đều có nhạc đệm.
KẾT LUẬN Chúng tôi đã sơ lược trình bay các lối ca hát tại Việt Nam qua các giai đoạn từ cổ truyền tới tân nhạc. Đã đành rằng sơ sài quá và còn nhiều thiếu sót, nhưng khuôn khổ tập sách này và sự hiểu biết nông cạn bắt buộc chúng tôi phải thu hẹp nhiều điều chúng tôi muốn nói rộng hơn.
Ở đây chúng tòi cũng không đá động tới những lối ca hát mới ngày nay ở miền Bắc kể từ
Trang sách 245CẦM CA: VIỆT NAM năm 1945, nhất là từ năm 1954, sau hiệp định Genève. Những lối ca hát mới này chịu ảnh hưởng rất nhiều của nền ca nhạc Trung Hoa đỏ và được chính quyền miền Bắc khuyến khích.
Trang sách 246Tài liệu đọc tbêm TỤC HÁT TRỐNG QUÂN GIỮA GIAI XUÂN CẦU, GÁI KHÚC LỘNG Nếu bạn đi ô tô theo con đường thuộc địa số 5, tức đường Hà Nội - Hải Phòng, bạn sẽ qua một phố con con cách Hà Nội chừng ngoài hai mươi cây số, đó là chợ Đường cái.
Xuống xe, đi lần vào làng Nhạc Lộc độ nứa cây, bạn sẽ thấy một con sông con có cầu bắc qua mà bên kia ân hiện một làng khá đẹp, tên là Xuân Cầu thuộc tinh Bắc Ninh.
Xuân Cầu vẫn có tiếng là một làng văn vật.
Với bộ óc mộc mạc, dân Xuân Cầu vẫn giữ được nê nếp cũ trong xóm, ngoài làng.
Quanh năm chăm chỉ làm ăn, giai làng chỉ có dịp chơi bời ngao du trong cảnh thu đẹp đẽ.
Những đêm gió thu êm, trăng thu sáng, với một tấm lòng hả hê sau trận phấn đấu với công việc nặng nhọc, giai làng thường thường tim vui trong thú hát trống quân.
Trang sách 247CẦM CA VIỆT NAM Hát trống quân một lối chơi rất thanh nhã mà họ vẫn giữ từ trước đến nay. Hằng năm, cứ đến tháng tám, họ rủ nhau tụ năm tụ bảy đề ca hát.
Có một điều lạ là khòng bao giờ họ hát với gái làng, vi gái làng hát không hay và rất kém về môn chơi đó, nên họ phải tim những bạn « đồng thanh, đồng điệu ».
Khúc Lộng. một làng hẻo lánh cách Xuân Cầu độ ba cây số, sản xuất rất nhiều « chim họa mi » vừa hát hay, ại vi khéo.
Cứ mùa hát tới, giai Xuân Cầu, gái Khúc Lộng lại cùng nhau ca xướng dưới những tơ trăng mươn : mướt mịn màng, mặc dầu đã nhiều lần làm cho giai các nơi khác đem tâm ghen tị.
Cứ tối đến, lúc trăng thu đã lên, gió mát đã thôi, họ đã xong công việc nhà, thì đôi bên gặp nhau trong « thơ mộng » : chia làm hai đám, lên giọng ca hát véo von... Họ chào nhau một cách rất thân mật, rồi tha hồ tình tự trong phạm vi câu hát :
Lạ lùng anh mới tới đây Thấy hoa thì hải, biết cây ai trồng !
Và cứ như thế, bên nọ giả lời bên kia rất thú vị...
Đó là mấy câu hát chơi trước khi vào cuộc cũng như thanh niền ta chơi mấy quả « ken cờ » trước khi vào bàn ping-pong.
Đùa cợt một lúc, bấy giờ họ mởi bắt đầu hát đứng đắn.
Trang sách 248TOAN ÁNH Cần thận lắm, họ xưng danh với nhau trong câu :
Anh là con giai thôn Tam, Làng anh nhất xđ chia làm ba thôn Văn minh đã nức tiếng đồn v.D...
Bên gái :
Em là con gái thôn quê, Làng em, Khúc Lộng, huyện thi Văn Giang...
Và còn dài nữa... Họ kể tất cả các việc trong làng họ. Họ tả cảnh rất đúng bằng những câu văn mộc mạc nhưng lưu loát.
Thế rồi đến tình tự. Họ tự tình giữa công chúng, không một e thẹn, bằng câu hát mà người ngồi nghe tưởng tượng như họ lấy nhau đến nơi rồi. Mà thật thế, họ tự nhiên lắm, họ khuyên bảo nhau như là một cặp vợ chồng thật.
Ví dụ lúc mới tự tình :
Đường xa thì thật là xa, Mượn mình làm mối cho ta một người.
Một người mười tám, đôi mươi Một người vừa đẹp, vừa tươi như mình...
Lúc mối tình đã kết chặt :
Yêu nhau tam tứ núi cũng trẻo Thất bát sông cũng lội, cửu thập đèo cũng qua.
Yêu nhau chẳng quản gần xa, Một ngày chẳng đến thì ba bốn ngày.
Ái tình đã đầm thắm như vậy, thì lòng nhớ thương lai láng bội phần:
Trang sách 249CẦM GA VIỆT NAM Nhớ ai em cũng khóc thầm Năm thân áo vải ướt đầm như mưa !
Nhỏ ai ra ngân, vào ngơ, Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai ?
Và họ đã quyết khi ái tình lên cực điểm :
Lòng em đã quyết thì hành, Đã cấy thì gặt với anh một mùa.
Chắc như nhời ấy chớ sai Tháng giêng đẵn gỗ, tháng hai làm nhà, Tháng ba ăn cưới đôi ta...
Rồi khi đến chỗ họ lấy nhau thì :
Có con, lo liệu cho con ;
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng...
Họ rất chung tình :
Tay mang khăn gói qua sông, Mẹ kêu, lạy mẹ, thương chồng phải theo...
Cứ thế, họ trao đổi với nhau bằng một giọng rất thân mật. Có lúc tưởng tượng như chàng đi học xa xôi, bên nữ hát rằng:
Hét gạo thì thiếp gánh đi, Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao ?
Hỏi thăm đến ngõ thì vào Tay cất gánh gạo, miệng chào « bông soa »...
Giờ nầy sang giờ khác bằng những câu hát ứng khẩu, bắt vần rất khéo, họ ngồi đối diện nháu có khi tới sáng, không một chút nhọc mệt.
Trang sách 250TOAN ÁNH Hát như thế phần nhiều là họ hát chơi. Nhưng cũng một đôi khi có người ưa nghe, gọi vào trong sân nhà mình, treo giải đề khích lệ họ hát. Trong trường hợp ấy, đôi bên nam nữ tranh nhau trổ tài, hát hết đêm này qua đêm khác cho đến chừng nào một bên không đối đáp được, thì phái thắng sẽ giật giải, bấy giờ mới là « chung kết ».
Giọng trầm bồng còn dư âm ... Trăng đã lặn và bình minh đã ló. Họ đứng dậy cáo từ nhau với mến tiếc nhớ thương. Lúc ấy, nếu bạn hỏi xem họ có mệt không, thì họ sẽ vui vẻ trả lời :
« Không, chúng tôi chẳng những không thấy mệt mà lại còn khoan khoái là khác nữa ...»
Hát ánh Trăng : một dịp giúp cho văn chương bình dân được phát triển !
Ca đêm vàng : một cuộc bày tỏ tâm tư, trao đồi tình ý của nam nữ ở sau lũy tre xanh !
ANH NGẪU Tri Tân số 19 - Thứ Sáu, 17 Octobre 1941 HÁT PHƯỜNG VẢI Quand vous serez bien vieille, au soir, à la chandelle Assise auprès du feu, dévidant et filant Direz, chantant mes vers, en vous émerveillant :
"Ronsard me célébrait du temps que j'étais belle Ronsard - à Hélène
Trang sách 251CẦM CA VIỆT NAM Trước hết, chúng tôi xin nói qua về nghề kẻo sợi dệt vải ở Nghệ Tĩnh.
Ngày xưa, chưa có vải tàu (1), các khung cửi phải dùng vải ta. Vải ta là vải kéo bằng tay. Kéo bằng tay thời nhất định phải thô kệch, không được trơn trắng mịn màng như vải Tàu, so với popeline suisse và nylfrance bây giờ thì thật là một trời một vực. Nhưng đối với dân « cá gỗ» thích ăn chắc mặc bền, vải đó đã là thứ vải che thân hoàn hảo rồi.
Thường thì người ta không mặc đô trắng, vì dễ bẩn và mau rách. Phải nhuộm nâu mới được.
Có hai thứ vảignâu : nu non và nu bẩm. Nu non là chỉ dùng củ non không thôi. Các cô các bà thường thêm vỏ già cho màu thêm tươi thắm. Còn nu bẩm là thứ vải nhuộm nâu rồi, còn đem trấn bún. Phải là thứ bùn lấy dưới ao sâu, đen lanh lánh và hăng sằng sặc. Phải chăng trong bùn đen ấy có chất moóc đăng (mordant) moóc điếc gì mà (1) Vải Tàu do nhà máy sợi Nam Định sản xuất với bông mua của Trung Quốc. Chính nhà máy sợi Nam Định đã giết chết nghề kéo vải. Nhưng đến năm 1937, lúc Trung Nhật chiến tranh bắt đầu thi nhà máy thiếu bông, nên vải sợi trở nên kan hiếm. Cải xa kéo vải lại xuất hiện ở vùng Hoan Châu suốt cả thời kỳ đại chiến cho đến mãi bây giờ. Nhưng sau này, thì tục hát phường vải không còn nữa. Có thể nói là nó đã chấm dứt từ năm 1930, năm Sô Viết Nghệ An.
Trang sách 252TOAN ÁNH khi nhuộm bún xong thì vái cứng lên một cách lạ lùng và dầy gấp bôi. Thứ đó dùng may áo dài bền lắm, khéo mặc dùng suốt đời nên các cụ thường ge áo thân. Nó không ấm bane Không đẹp đờ xuy của Tây, nhưng tiện lợi hơn nhĩ thi đã mặc ch và nhục rồi, thì mặt vải gãy như hình tổ ong.
Trong Hàn Nho phong: vị phú, Cụ Nguyễn công Trứ ca tụng thứ vải đó Áo vải thận nặng trịch lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu.
Khăn lau giặt đỏ lỏm, trải làm chiếu, vận làm quần, một bộ ăn chơi quả thú.
Đàn bà có thể dùng vải nâu bầm để may " thọ nhất bức ». Thứ váy đó không đẹp bằng váy lụa nhưng tiện lợi, kín đáo hơn và nhất là đị ngoài đồng áng không bị cỏ may bám vào. Vì thế nên có câu đỗ sau đây để so sánh hai thứ váy:
Xấu xa như tui, đâm năm bảy cấy Đẹp tốt như chị, đâm mấy thi đâm.
Muốn có vải ta việc trước hết là phảt trồng bông. Tháng giêng trồng, tháng sáu lấy quả. Quả bộng chín vàng, nở xòe như đóa hoa hồng bạch.
-Bông lấy về phải đem cán hết hột rồi bựt tung ra từng sợi và se thành củi để kéo. Người ta bựt bông bằng cung và kéo sợi bằng xa. Không biết cái xa của Thánh Cam Địa thế nào, chứ cái xa
Trang sách 253CẦM CA VIỆT NAM của dân Nghệ Tĩnh thì giản dị lắm. Một người thợ. mộc lành nghề chỉ làm trong một ngày là xong một cái. Nhà nào cũng có xa. Xa mẹ, xa con, xa chị, xa em, xa bà, xa cháu, có nhà đến năm bầy cái.
Người đàn bà nào cũng biết kéo vải cả. Con gái từ bảy tạm tuổi đã biết rồi. Năm sáu tuổi đã biết giằn. Giằn nghĩa là cuốn chỉ thành từng lọn đề sau nầy đánh thành sót mà dệt. Trước khi đánh sót người ta phải ngâm hồ để sợi chỉ được bền và trắng hơn. Vì quê ở Quỳnh Lưu, nữ sĩ Hồ xuân Hương không lạ gì công việc đó nên bà đã khuyên chị em bạn gái rằng: «Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ» ngâm không kỹ là không tốt !
Xem thế thì từ lúc trồng bông cho đến lúc cỏ vải nâu mặc, người dân quê Nghệ Tĩnh đã phải làm biết bao nhiêu việc : lặt bông, cán bông, bựt bông, xe cúi, kéo sợi, giằn hồ, sót, đánh ống, mắc vái, dệt nhuộm rồi cuối cùng mới may áo quần. Có thể nói kéo sợi là công việc quanh năm của đàn bà con gái. Vì công việc kéo dài thế nên mởi sinh ra tục hát phường vải mà chúng tôi xin đề cập đến sau đây:
Kéo vải là một công việc rất dễ dàng, nên thường làm về ban đêm. Những người kẻo thạo rồi thì không cần đèn nữa. Những đêm trăng sáng người ta đem ra sân. Để cho vui vẻ họ rủ nhau đến nhà nào có sân rộng và sáng. Có khi vài ba chục
Trang sách 254TOAN ÁNH xa quay đều theo tiếng hát nhịp nhàng của các có, các bà làm thành một âm điệu dịn dàng dễ chịu hơn tiếng các xưởng dệt ở Đô thành nhiều lắm.
Trong khi đó ở nhà bên cạnh hoặc sân bên kia các chàng thanh niên trong làng cũng nhóm họp để hút thuốc lào, uống « nác chè (sen» và nghe hát rồi hát đáp lại. Thành ra hai bên đới đáp nhau như lối hát quan họ ngoài Bắc Và. Phần nhiều là những câu tình tử gỏi gắm nỗi lòng, những lời thăm do ý kiến trao đổi một cách kin đáo, đôi khi nhờ đó có thể nên vợ nên chòng. Có khi là lời trách móc thiết là những cầu nặng bè nghich thường đã lày chay nhau một cách cay đẳng.
Không phải người nào đng cỏ thể sáng tắc được thứ văn chương hợp tinh (hg hoảnh ấy. Những câu thông thường là những câu vồ giá trị. Phải là những tác phảm i-nê-đi mới được. Thế cho nện chúng tôi có thể nói rằng phường vải là người văn chương bình dân đòi dào nhất của xứ Nghệ. Nói là bình dân, nhưng không phải chỉ các chị cu, o hét, anh xã, ả hoe đi hát, mà cả những cậu ấm có chiêu nữa.
Nếu cậu ấm Văn nhà ta mà sinh trưởng ở đất Hồng Lam thi cậu cũng đã nối danh rồi. Các bậc khoa bảng cũng không từ chối lối chơi tao nhã ấy. Các cụ không hát thi đến đó để gà cho nam nữ thanh niên. Danh từ chuyền môn gọi là
Trang sách 255CẦM CA VIỆT NAM thông sự, giống như đánh cờ tưởng thì phải cỏ đại thí vậy, có nơi gọi là ngoại tỷ. Có một thời Cụ Phan bội Châu đã nổi danh về khoa đó. Tiếc rằng các tác phẩm của Cụ cũng như của những nhà nho khác chưa được ai ghi chép, và bây giờ một nhóm người xa quê hương như chúng ta đây khó lòng mà nhớ hết. Chúng tôi còn nhớ dăm ba câu, xin chép lại sau đây đề các bạn thưởng thức.
Đây là một đôi trai gái mới gặp nhau lần đầu.
Họ lìm hiều nhau, thử thách nhau bằng câu cạ tiếng hát. Họ hỏi vặn nhau như Hạng Thác hỏi Không Tử. Người con gái có quyền chất vấn trước:
Đồn rằng chàng thông thạo sử kinh Em đố chàng biết được con, cá kinh mấy xương ?
Hỏi thế thì đến ai cũng bi. Bí nhưng không lễ lại chịu thua, chịu tịch mà về, bên con trai liền vặn lại để tìm lối thoát, một lối thoạt không vẻ vang gì nhưng hơi trơ trễn :
Em về đếm má mấy nương Anh đây đếm được mấy xương con cá kinh.
Bây giờ người con trai lại muốn tỏ tình:
Thấy người thục nữ mỹ miều Anh đây muốn hỏi người yêu tên gì ?
Cô kia trả lời một cách câu kỳ:
Đem ra hai cô ích xi, Lựa ra bốn Chức ấy thì tên em.
Trang sách 256TOAN ÁNH Tuy vậy, anh chàng thông minh kia hiểu liền.
Trong bộ ích xì (tức bài cào) có bốn con J hay V, mà ở Nghệ An gọi là Chức hay Bời. Mỗi bộ bốn con, hai bộ tám con, nên anh chàng biết ngay tên cô kia là ả Tám Bồi và đáp:
Phải chăng là ả Tám Bồi ?
Chừng mô về thăm mẹ, cho tôi theo cùng.
Nhưng cô ả không bằng lòng lối trao duyên số sàng ấy:
Nghe lời anh nói, em đoán chắc anh khùng, Đôi bên chưa biết tên, biết mặt đã đùng đùng xin theo.
Bị mắng là khùng, anh chàng chọc tức cho bỗ ghét:
Muốn biết em thì có khó chi mô, Anh kiếm cơi trù, be rượu, sang phô với mẹ thầy.
Hỏi vợ mà chỉ mất một cơi trù và một be rượu thì thật quá dễ dàng, người con gái bị rẻ rúng quả chừng. Bị trêu ghẹo và bị khinh bỉ, cô ta chửi lại ngay :
Thầy mẹ em còn chọn đá để gửi vàng Không dư con gái, để gả cho chàng ngu si.
Thế là anh chàng thất bại ra về..
Một chàng khác cũng bị tẩy chay một cách quyết liệt nhưng ở đây lời lẽ bóng bầy hơn. Ý chừng anh chàng này ve vẫn cô kia đã lâu mà
Trang sách 257CẦM CA VIỆT NAM không được sơ múi gì nhân lúc đêm khuya anh cất tiếng hát một cách chán nản : • Trắng lên đến đó rồi tề !
Hát dăm ba chuyện mà về kẻo khuya.
Và đây là câu tống biệt của nàng:
Anh về đi ngủ kẻo khuya Xấu chuồm, cả nỏ vô đia cho mô !
Sau đây là lối dùng câu hát đề trêu chọc nhạu.
Một thanh niên ở Đức Thọ sang Nam Kim chơi.
Anh cùng đi với một số bạn bè và gà chơ họ hát.
Vì anh chột mắt nên bị các cô chế nhạo:
Anh đi Hà Nội năng chừ, Con mắt anh bít bạc, cần xa cừ một bên !
Quá tức tối vì lối châm biếm độc địa của đối phương anh ta chửi lại và lẽ tất nhiên, chửi xong thì chạy ngay:
Anh đây bên Hạ mới sang Thằng cha cả họ, cả làng Nam Kim Bây giờ đến chuyện chàng thư sinh đất Đông Thành Huyện Đông Thành, sau nầy gọi là Yên Thành, có tiếng là hay chữ. Chàng thư sinh kia (có phải là bạn N.T.D. không nhỉ ?) sang một huyện khác chơi. Đi đâu, anh cũng tự phụ là học giỏi nến có hơm bị một cô chất vấn :
Đất Đông Thành đồn rằng chàng: « Hay trự »
Vậy thiếp hỏi chàng : « Thầy Mạnh Tử con aỉ » ?
Trang sách 258TOAN ÁNH Hỏi thế thì thật khó. Sách Nho thường nói rằng Thầy Mạnh Kha là con Bà Mạnh Mẫu, người đã có công dạy con thành một bậc Á Thánh, còn ông Cha thì mất sởm, không công trạng gì nên không mấy ai để ý đến tên. Thế mà bây giờ có người hỏi mới nguy chứ ! Không biết xoay sở thế nào, anh chàng bèn dùng chính sách độc tài để đàn áp cho xong chuyện :
Em là phận gái thuyền quyên Sao không chặm lo bếp lúc, bàn chuyện thánh hiên mần chỉ ?
Tuy trả lời được, nhưng biết là mình đuối lý, mà bên kia thì chắc chắn có người bày, chàng bèn đâm khùng, tiếp thêm một câu rồi bỏ chạy:
Thây Mạnh là do Cụ Mạnh sanh ra Tổ mẹ đứa hát, tổ cha đứa bày !
Đứa bày tức là các vị thông sự. Thông sự thường là những người lớn tuổi hơn, tài hoa hơn, nhưng giọng hát kém, chỉ ngồi hày vẽ cho đàn em. Thông sự đàn ông cũng có, mà thông sự đàn bà cũng có. Họ là những người ngồi trong bóng tối đề chiến tranh tâm lý với nhau qua giọng hát của các em út.
Thông sự có khi là bậc khoa bảng, tủ tài, cử nhân hoặc tiến sĩ nữa. Họ thường chơi chữ với nhau như câu đối vậy. Chính Cụ Phan bội Châu hay làm thông sự cho các thanh niên ở Nam Đàn, Có lần
Trang sách 259CẦM CA VIỆT NAM đám học trò Cụ đi hát bị các cô tây chay một cách kịch liệt.
Biếu anh một mẻ ngô rang, Đút mô cho mọc, đốt nhang ăn thề. :Ngô rang mà bảo đút cho mọc, thì trời cũng chịu. Ngày xưa, Ngô phù Sai bị mưu lúa luộc của Việt Vương Câu Tiến thì bây giờ chàng trai xứ Nghệ lại bị mẻ ngô rang của cô con gái (thọ nhất bức). Nhưng cụ Phan gỡ rối cho chàng một cách vừa tài tình vừa độc ác:
Chỗ mô mà nắng không khô?
Mà mưa không ướt, đút vô mọc liên !
Lẽ tất nhiên là lúc hát xong, thầy trò cuốn gói dông tuốt, không cần ân nghĩa, không thèm nhang khói ăn thể gì nữa.
Một lần khác, bên gái hát :
Vua Nghiêu có chín người con Đan Chu là một, hỏi còn những ai?
Sử Tàu nói rằng Vua Nghiêu có năm bảy người con trai gì đó và chỉ có hai người con gái thôi.
Vua Nghiêu không truyền ngôi cho con mà lại truyền cho Ông Thuấn, vì ông là người hiếu thảo nhất trong thiên hạ, Vua lại gả luôn hai Công chúa Nga Hoàng và Nữ Anh cho. Đại khái sử Tàu nói như vậy. Người ta thường chỉ nhớ tên hai Công chúa thôi, vì sử cũng nói rằng lúc Vua Thuấn mất, hai Bà ngồi khóc chồng bên bờ sông Tương, nước
Trang sách 260TOAN ÁNH mắt biến thành Ngọc và rơi xuống đất mọc thành những cây Trúc đẹp như Ngà. Người nào tò mò thì có thể nhớ thêm tên Đan Chu là vị Hoàng Tử có đức hạnh và lớn tuổi nhất còn các vị khác thì không ai đề ý làm gì. Vì thế dầu có đậu Đại Khoa cũng không thể biết được một chuyện quá chi tiết trong lịch sử rườm rà của Trung Quốc. Cụ Phan bèn gà răng:
Em là phận gái nữ nhi Đan Chu cũng đủ, hỏi chi chín người!
Thật là tài tình ! Con gái thì chỉ nên biết một người con trai thôi, biết làm chi đến chín người cho hỏng chuyện. Định lấy một lần chín chồng hay sao mà hỏi vớ vẫn thế?
Đó là những chuyện Cụ Phan làm thông sự cho bọn con trai. Nhiều hôm Cụ lại làm cho bọn con gái. Sau đây là những câu đã làm cho đối phương phải bi và xưa nay cũng chưa ai đáp được.
Xe cò ai đó rứa hề ?
Phải người Sáo, Vạc thì về với Loan Xe cò là cái xe đạp, và cũng là tên một con chim sáo, vạc cũng là tên con chim và cũng là tên hai cái chợ lớn ở Nam Đàn, còn Loan là con • chim loan và cũng là tên người con gái đang hát.
Tên người tên đất, tên chim lẫn lộn nhau, bạn nào tài giỏi thử đối coi !
Quế, Hoè, Tùng, Bá, Liễu, Mai
Trang sách 261CẦM CA VIỆT NAM Sum sum lục mộc anh tài đỗ chỉ ?
Mấy chữ Hán Quế, Hoè, Tùng, Bá, Liễu, Mai đều thuộc bộ mộc. Còn chữ sum viết bằng ba chữ mộc chồng nhau. Sum sum cũng là sáu mộc. Như vậy câu trên có sáu chữ mộc, câu dưới cũng sáu chữ mộc, ai làm sao đối nồi ?
Cha con thày thuốc về làng Hồi hương phụ tử, xin chàng đối đi !
Đây là câu đối sửa đổi lại theo thể lục bát đề có thể hát được. Chính câu đó là : Cha con thầy thuốc về quê gánh một gánh hồi hương phụ tử.
Hồi hương là về làng tức là quê hương, phụ tử là cha con, Hôi hương và Phụ tử lại là hai tên vị thuốc Bắc. Bốn chữ ấy chằng chịch nhau. Xưa nay đã được bày nhiều, và tác giả chính không phải là Cụ Phan. Cụ chỉ có công sửa lại theo điệu hát thôi..
Trên đây là những câu hát trêu chọc đùa giỡn xỏ chua, xỏ ngọt đề thử tài nhau. Nhưng phần nhiều hát phường vải là những câu trữ tình, thường đem đến kết quả tốt đẹp, không nên vợ nên chồng thì cũng thành đôi bạn tâm giao, xa nhau không đặng.
Nửa về nửa muốn ở đây về thì nhớ bạn ở đây nhớ nhà !
Minh về để võng ai nắm ?
Để chăn ai đắp, đề trầm ai đeo?
Ai về Đức Thọ chợ Cầu, Để thương, để nhớ, để sầu cho ai !
Cái buồn của đêm tàn phường vải cũng (lưu
Trang sách 262TOAN ÁNH luyến bao tình) không khác chi. « Đêm tàn bến Ngự » cũng ngao ngán chán chường như ngày tàn của mùa gặt.
Rồi mùa thóc rũ rơm khô Bạn về quê bạn, biết lộ mô mà tim !
Cảnh sầu ly biệt đó, thiết tưởng cũng không kém gì cảnh " dương hoa sâu sát đọ giang nhân » của Trịnh Cốc đời Đường, hay cảnh giọt ngắn giọt dài của chàng Kim phải xa cô Kiều sau một đêm trắng thề quạt ước, để về đất « Liêu dương cách trở sơn khế ».
Ngại ngùng một bước một xa, Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.
Buộc yên quầy gánh vội vàng, Mỗi sầu sẻ nửa bước đường chia đôi.
Buồn trông phong cảnh quê người Đầu cành uyên nhặt, cuối trời nhạn thưa.
Não người cữ gió tùng mưa, Một ngày nặng gánh tương tư một ngày.
Vì thế mà đôi trai gái thường phải qua nhiều trở ngại để được gần nhau, trở ngại lớn nhất hồi đó thường là cha mẹ:
Muốn ăn kẹo lạc với đường Dú cha, dủ mẹ ngược Lường với anh • Chợ Lường tức là chợ Đô Lương có nơi gọi là Chợ Lạng.
Chợ Lường sản xuất một thử bánh dầy đặc biệt
Trang sách 263CẦM CA VIỆT NAM gọi là bánh Di Lạng. Bánh Di Lạng ngọt như bánh tổ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi nhưng dẻo như bánh dày của người Bắc và lại bùi vì ở trong còn có lạc (đậu phụng) nữa. Ở Vinh gọi là bánh bìa.
Kẹo lạc chợ Lường cũng đặc biệt ngon, vì làm bằng đường chứ không phải bằng mật như mấy chợ khác. Ăn kẹo lạc chợ Lường rồi nhấm nhấm đọi nác chè Giăng thì thủ thật, nhất lại được đi với anh nữa không gì bằng nhưng phải dấu cha dấu mẹ thì khó lắm anh ơi !
Các trở ngại ấy thường phát nguyên từ môn đăng hộ đối, hoặc vi tôn giáo gây nên. Ở vùng Đức Thọ những làng như Nghĩa Yên, Yên Phú, Thọ Ninh, Thọ Tường phần đông dân theo Thiên Chúa Giáo. Theo tục lệ thì người bên giáo không được phép dựng vợ gả chông với người bên lương. Hồi cụ Đình Nguyên Phan đình Phùng khởi nghĩa văn thân, dân mấy làng ấy với dân kẻ lạ vùng Đông Thái, nơi quê cụ xô xát nhau dữ dội, Cụ Đình chống Pháp mà các cố Đạo hồi đó lại là người Pháp, và thường làm gián điệp nên nhiều cố bị giết, rồi con chiên cũng bị vạ lây, Sau khi Cụ Phan đình Phùng mệnh chung quân. Cần Vương tan rã, việc xung đột giữa lương giáo không còn nữa, nhưng việc hôn phối giữa đôi bên vẫn không thế được. Vì thế một anh chàng đã hát :
Chộ em anh cũng muốn thương Ngặt vi bên giáo bên lương khó lòng !
Trang sách 264TOAN ÁNH Thì được cô ả trả lời một cách tình tứ, dịu dàng :
Quý hồ anh có lòng thương A men mặc thiếp, khói hương mặc chàng Trả lời như thế là trả lời ẩu, vì thương quá mà nói liêu. Các vị Giám Mục đâu có chịu sự lộn xộn Trong một trường hợp khác cũng có cô trả lời một cách rất dễ thương:
Quý hồ anh có lòng thương Em có lòng đợi như rương khóa rồi !
Ở nhà quê, rương khoa rồi thì không ai có thể mở được, nghĩa là một khi đã hỏi, dầu chưa cưới xin, chưa chung chăn gối, vẫn như đã là nghĩa vợ chồng. Nói chi bây giờ thời đại « văn miêng» nhất là ở Đô thành thiếu gì « passepartout » rương có khóa rồi dầu có khóa chữ đi nữa, họ cũng dám mở như thường.
Hoặc giả đã yêu thương nhau, mà anh chàng, lo sợ về cảnh nghèo của mình, thậm chí không sắm nổi một cái giường gỗ, một cải chỗng tre để cưới vợ, thì cô ả cũng bất chấp, liền năn nỉ :
Quý hồ anh có lòng thương Trải chiếu nằm trửa đất cũng được, phải chọng giường mần chỉ !
Thưa các bạn trên đây là mấy câu hát ân tình của quê hương yêu dấu chúng ta, mà ba anh em chúng tôi đã cùng nhau chấp nối lại để cống hiến
Trang sách 265CẦM CA VIỆT NAM quý bạn. Mong rằng các bạn sẽ tiếp đón nó như tiếp đón một người bạn chung tình đã theo dỗi chúng ta từ lúc tấm mẻn cho đến khi khôn lớn và mãi đến lúc về già. Nó không đài các nghiêm trang như thơ Bà Huyện Thanh Quan, không chải chuốt công phu như mấy bài Sonnet của Malherbe hay Arvers, nó cũng không nỉ non thánh thót như tiếng đàn tỳ bà nơi « bến Tầm dương canh khuya đưa khách »
đề Giang Châu, Tư Mã mà cũng phải mượn mùi áo xanh. Nhưng nó thật thà giản dị tả đúng tâm trạng thật thà. Nếu ai có hỏi, thì xin các bạn cứ hiên ngang mà trả lời rắng: chúng ta có Đoạn trường tận thanh có hát nói của Nguyễn Công Trứ, chúng ta có Tỷ bà hành, có truyện Hoa tiên, có Mai đình mộng ký, có thơ Hồ xuân Hương, có Phú Nguyễn hữu Chỉnh ... đã đành chúng ta còn có cả hát dặm và hát phường vải nữa, nhất là hát phường vải, một lối văn chương đặc biệt của xứ Nghệ đã bị văn minh cơ khí đào thải gần nửa thế kỷ nay.
NGUYỄN ĐÌNH KHUÊ TRẦN XUÂN TUY VÕ TƯ NHƯỢNG TRƯỜNG VINH Nội San của Hội Ai Hữu Cựu Học sinh trường Vinh Xuân GIÁP THÌN. 1964
Trang sách 266MỤC LỤC Số trang TỰA THỨ VUI TAO NHÃ I5 CẦM 2I Bát âm Lục ky Thất bất đàn Sự tích Bá Nha, Tử Kỳ Bát tuyệt NHẠC KHÍ Các loại đàn Đàn bàu Nhị hay đàn cò Đàn cầm Đàn sắt Đàn tranh Đàn Tỳ bà Dương cầm Đàn nhật Đàn nguyệt Đàn tam
Trang sách 267Đàn cầm Nam Đàn đay Các loại sáo Hoàng Tiêu Địch Quản Tri Huân Kèn Sinh tiền Phách Bát Trống Trống cái Trống cơm Trống bưng Trống ếch Trống bản Trống ngũ bộ Tiu Cảnh Lệnh Mõ Cồng Khánh NHẠC Ở VIỆT NAM Nhạc lễ Nhạc tiêu khiên
Trang sách 268NHẠC CUNG BẮC Cô bản Lưu thủy Hành vân Kim tiền Bình bán Tâu mã Tứ đại cảnh NHẠC CUNG NAM Nam ai Nam thương Nam xuân Nam bình Tài liệu đọc thêm : ÂM NHẠC XỨ THƯỢNG CA HÁT CÁC GIỌNG CA HÁT BÌNH DÂN NỘI DUNG CÂU HÁT NHỮNG GIỌNG HÁT TRONG KHI LÀM VIỆC 82 Hát đò đưa Hò kéo gỗ Hò tát nước Hát ru em Hát chăn trâu NHỮNG GIỌNG HÁT TRAO TÌNH Hát ví Hát ví Nghệ Tĩnh IOI Hát quan họ III Giọng sống I12
Trang sách 269Giọng vặt II3 I15 Giọng Bỉ Năm giọng trên II7 Nguồn gốc tục hát quan họ I19 Mùa quan họ I20 Tại sao lại gọi hát quan họ I21 Một bọn quan họ Mời hát ở hội I25 Hát ở hội Mời bạn tới nhà hát trắng đêm I27 Hát giải I3I Kết bạn Hát trống quân Những lối hát trống quân Hát vận Hát đố Nguồn gốc tục hát trống quân Hát cò lả I47 HÁT CÁC PHƯỜNG I49 I50 Hát phường củi Hát phường cấy Hát phường vải I58 Hát phường buôn Iбİ HÁT GIẶM Hát giặm ứng khẩu Hát giặm thời sự i67 Hát giặm vè HÒ HUẾ Hò mái nhì, mái đưa, mái đây
Trang sách 270Hồ giã gạo CA HUẾ Cồ bản I75 Kim tiền Lưu thủy Hành vân Nam ai Nam thương Nam bình I8I Tứ đại cảnh Bình bán Tầu mã Nam xuân I86 Phú lục Liễn bộ thập chương I88 HÒ MIỄN NAM Hồ cấy Hò chèo thuyền I90 HÁT VỀ Vè trái cây I98 Vè các loại cá I98 Vè các loại bánh Vè dạy trẻ I99 HÁT TÔN GIÁO 20I Hát chầu văn Hát sai bảo lệnh truyền Những câu hát thờ Các giọng hát tôn giáo khác NHỮNG GIỌNG HÁT VỀ NGHỀ NGHIỆP
Trang sách 271Hát xầm Hát tuồng Hát chèo Nói lối Nói sử Nói hồng Hát cải lương Ca vọng cổ NHỮNG LỐI CA HÁT TRÍ THỨC Ngâm thơ Ca trù Bắc phản Hát mưỡu Hát nói Hát gửi thư HÁT TRẺ EM 24I Chi chi chành chành Thả đỉa ba ba HÁT TÂN NHẠC Thời kỳ sáng tác KẾT LUẬN Tài liệu đọc thêm: TỤC HÁT TRỐNG QUÂN GIỮA GIAI XUÂN CẦU, GÁI KHÚC LỘNG 251 HÁT PHƯỜNG VẢI MỤC LỤC
Trang sách 272NHỮNG TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN của Toan Ánh Bước đầu, kịch vui (Hết) Phong lưu đồng ruộng, khảo cứu phong tục, in lần thứ ba. (Hết) Bó hoa Bắc Việt, khảo cứu phong tục. (Hết) Tiết tháo một thời, chuyện khi tiết của sĩ phu Việt Nam (Hết) Người đẹp thời Chiến Quốc, tiểu thuyết lịch sử. (Hết) Thanh gươm Bắc Việt, tiểu thuyết lịch sử. (Hết) Trong lũy tre xanh, truyện ngắn phong tục, in lần thứ hai. (Hết) Ký văng, tiêu thuyết phong tục. (Hết) Nếp xưa, tiểu thuyết phong tục.
Múa thiết lĩnh, ném bút chi, tài liệu võ thuật.
Nghệ thuật ăn trộm và bắt trộm của người xưa, tài liệu.
Tỉnh thần trọng nghĩa phương Đông, những truyện trọng nghĩa của ba quốc gia Nhật, Hoa và Việt.
Phong tục Việt Nam với phụ nữ, khảo cứu. (Hết) Phong tục Việt Nam, khảo cứu.
Nếp cũ : Con người Việt Nam, khảo cứu phong tục. (Hết) Tín ngưỡng Việt Nam I Tín ngưỡng Việt Nam II Làng xóm Việt Nam Hội hè đình đám I CẤM CA VIỆT NAM
Trang sách 273XIN ĐÓN ĐỌC TRONG BỘ THÚ VUI TAO NHÃ Sau Cầm Ca Việt Nam sẽ xuất bản : * KỲ, THI, HỌA, ẨM VIỆT NAM * MẤY THỨ PHONG LƯU Cả ba tập sách trên trong bộ THÚ VUI TAO NHÃ đều nằm trong toàn bộ NẾP CŨ của soạn giả.
Trang sách 274BẢNG ĐÍNH CHÁNH (những chữ sai hoạc thiếu sót) TRANG DÒNG THAY VÌ XIN ĐỌC vẻ tao nhã vẽ tao nhã não bạt nạo bạt nào bạt bằng đất to, như bằng đất, to như đánh cờ bỏi hoặc đánh đánh cờ bơi hoặc đánh cờ người trên sân cờ cờ người trên sân khấu phổ biến nhất nhiều ở Huế phổ biến nhiều ở Huế nhưng sự giống nhau nhưng trong sự giống nhau hát bội ở miền Trung hát bộ ở miền Trung Hay là anh để Hay là em để Cùng có nhừng câu Cũng có những câu yếm thủy tầy giần yếm thủng tầy giần cũng cả hứng cũng cảm hửng mẹ ru con chị ru em mẹ ru con ; chi ru em Anh về van đất, đấy ơi Anh về van đất, đất ơi Thi sĩ Tản đà là Thi sĩ Tản Đà đã là trong buổi hát thờ trong những buổi hát thờ Nguyệt lặng sao rời Nguyệt lặn sao đời Bỏ công gắn bó Bõ công gắn bó Nên chẳng tình Nêa chăng tình làng Hữu Thấp làng Hữu trấp ai ui xem có ai đi xem hội có đã góp tiền nhau để đã góp tiền để mâm cổ xuân mâm cỗ xuân ghen tương ghen tuông là cháy hay họ hàng vi đó là cháu hay họ hàng gi đỏ bên hát một câu bên nọ hát một câu mấy ới ha hạ mấy tiếng ới ha hạ làng quê trước đây trước đây tùy người đi người hát tùy người hát luân phiên nhau hò hát luân phiên nhau hát đâu cồn đa đoan dâu cồn đa đoan vẻ mày rồng vẻ mây rồng bùn rượu túi thơ bàu rượu túi thơ / xã Trúc lương xã Trúc cương nhân ho sư học nhà sư nho học hát nhỏ tơ hát nhà tơ cõi tướng vàng cõi tương vàng nhưng cùng lại vi nhưng cũng lại vi
Trang sách 275CẦM CA VIỆT NẠM CỬA TOAN ÁNH BÌA ĐINH CƯỜNG VÀ NGUYỄN, GIA TRÍ LÁ BỐI XUẤT BẢN GIẤY PHNT NGÀY 22-9-1969 IN TẠI TRÍ ĐĂNG 21 NGUYỄN THIỆN THUẬT SAIGƠN NGOÀI NHỮNG BẢN THƯỜNG CÒN IN, THÊM 50 BẢN ĐẶC BIỆT DÀNH CHO TÁC GIẢ THÂN VÀ NHÀ XUẤT BẢN