ĐOẠN KẾTPartie 14
À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.
Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.
Trên bãi đất rộng phía sau chùa xã Mộ Trạch, một đám thanh niên tuổi từ
mười lăm, mười sáu đến gần ba mươi đang cùng nhau luyện vật, cứ từng đôi một quần nhau khiến đất bụi mù lên. Mỗi khi một chàng bị ngã, hoặc bị
đội bổng lên lại có tiếng ồn ào khen hoặc chê, nhưng dù có lời khen chê, kẻ
được hay thua keo vật vẫn được nhận thấy cái hơn hoặc cái kém của mình.
Đấy là tinh thần thượng võ, con nhà luyện tập võ nghệ, thắng càng cố gắng để tiến bộ thêm, thua lại phải cố gắng hơn để một ngày mai đổi thua thành được, không bao giờ có sự ấm ức, oán hận hoặc kiêu ngạo, khinh người qua những keo thua được.
Giữa đám thanh niên luyện tập môn vật với nhau luôn luôn có các bậc đàn anh đã từng được thua hàng trăm keo vật chỉ dẫn, đã từng giữ từ giải nhất tới giải ba trong nhiều hội vật danh tiếng. Trong số các bậc đàn anh có cả Vũ Cảnh, người đã từng vật ngã nhiều tay đô kiệt hiệt, và cũng là người được dân làng coi là một tay văn học và thường gọi một cách kính trọng là NHO SĨ ĐÔ VẬT.
Trước đây có một thời gian đến trên mười năm, Vũ Cảnh bỏ làng đi đâu vắng, Vũ ông và Vũ mẫu nói rằng con đi làm ăn nơi xa, nhưng dân làng đôi khi có người xì xào là họ Vũ đi làm cách mạng đánh Tây. Lời bàn tán thì như vậy nhưng cũng không ai biết đích xác chàng Cảnh đi đâu và làm ăn gì?
Gần đây Vũ Cảnh trở về làng sống với cha mẹ và vợ là Giáng Thu theo nền nếp cổ truyền của dân làng Mộ Trạch. Ai hỏi chàng trả lời vì công việc làm ăn nơi xa thất bại, chàng phải trở về để giúp đỡ cha mẹ trông nom ruộng nương, và cũng để vợ chồng được đoàn tụ thường xuyên. Hơn nữa,
vợ chàng cần có chàng bên cạnh để nương tựa khi trái gió trở trời và dạy dỗ
đứa con thơ.
Nhiều người trong làng đã đề nghị chàng mở lớp dạy học để con trẻ
trong thôn xóm có thể đến ăn mày dăm ba chữ của Thánh Hiền, chàng còn đang ngần ngại, mặc dù Vũ Công nể lời ông Tiên chỉ và các cụ đã nhận lời khuyên bảo chàng. Chàng định nghỉ ngơi ít lâu rồi sẽ chọn ngày tốt để tuân lời mở lớp dạy đóng vai anh đồ, để Giáng Thu cũng hãnh diện trong vai chị
đồ với thôn xã.
Đối với chồng, với một đứa con thơ bốn năm tuổi, Giáng Thu sống rất hòa thuận. Trong những lúc rỗi rãi vợ chồng lại đem chuyện văn thơ ra bàn với nhau, đôi khi có những ý kiến trái ngược, nhưng rút cuộc vẫn là tâm đầu ý hợp.
Trong khi chưa mở lớp học, lại nhân ngày thanh niên trong làng kéo nhau ra bãi đất sau chùa luyện vật dưới sự hướng dẫn của các tay đô kinh nghiệm. Vũ Cảnh theo lời yêu cầu của các anh em đô vật cũng luôn luôn có mặt để giúp đỡ cho đàn em trong xã.
Hôm đó, Vũ Cảnh đang chỉ dẫn thanh niên cách nằm bò bám đất ra sao khi lỡ thất thế, và cách bốc kẻ nằm bò ra sao để có thể thắng cuộc vật thì có người nhà tới nói là có khách tới thăm. Vũ Cảnh xin lỗi mấy tay đô vật khác để ra về tiếp khách. Tưởng khách là ai, chẳng hóa ra đây cũng là hai tay đô vật trứ danh, đô Giang xã Vị Thanh tỉnh Vĩnh Yên, lúc này Vĩnh Yên đã thành tỉnh, và đô Kim xã Chung Mầu tỉnh Bắc Ninh.
Kể từ ngày giặc Pháp nắm vững quyền hành trên hầu hết xứ Bắc và truy lùng gắt gao tất cả các nhóm cách mạng hoạt động chống Pháp thì bọn Vũ
Cảnh ở Tam Đái cũng phải tạm thời giải tán. Lúc đó, quân đội cụ Phan ở
Ngàn Trươi không còn nữa, cụ Phan đã ốm rồi mệnh chung ngay tại chiến khu, và chiến khu Yên Thế đang trong lúc dưỡng quân, ông Đề Thám đã hòa hoãn với Pháp và cho quân lính tạm thời ngưng súng dùng cuốc cày thay khí giới để khai thác đồn điền.
Trước khi chia tay, các anh em cùng Vũ Cảnh còn hứa hẹn ngày gặp lại, và mỗi người đều ra đi với hoài vọng một thời cơ khác sẽ tới để được đem nhiệt huyết phụng sự non sông!
Trong những đám anh em vùng Tam Đái, Vũ Cảnh chỉ thường gặp đô Giang. Anh đô mến tài và mến đức họ Vũ, thỉnh thoảng lại tìm đến xã Mộ
Trạch sống vài bữa để cùng Vũ Cảnh ôn lại chuyên cũ với lòng mong mỏi sẽ trở lại hoạt động trong tương lai.
Ngoài Vũ Cảnh, đô Giang lại vẫn luôn luôn gặp gỡ các tay đô đã từng đứng chống Pháp trong nhóm Tam Đái qua những hội vật. Tay đô vật thân mật nhất với đô Giang là đô Kim, và dù nhóm Tam Đái tuy thất bại, nhưng bầu nhiệt huyết vẫn luôn luôn sôi sục trước những hành động dã man của giặc Pháp cũng như lũ tay sai. Gặp gỡ đô Giang, nhiều lần trong câu chuyện đô Kim đã từng nhỏ lụy trước những sự việc oan ức đau khổ của dân Việt, nhất là trong nhiều trường hợp đô Kim đã được chứng kiến tận mắt!
Lần này, đô Kim vừa từ Chung Mầu tới thăm đô Giang, đô Giang rủ
chàng cùng đi Mộ Trạch để thăm Vũ Cảnh. Lúc ấy vào khoảng đầu tháng chín âm lịch. Đô Giang định rủ Vũ Cảnh đi chơi hội làng Hành Thiện tổ
chức ngày mười hai đến rằm tháng chín, và nhân thể nếu cần thì anh em vật thử một vài keo để thử sức với các tay đô thiên hạ.
Vũ Cảnh mừng rỡ khi gặp hai bạn đồng chí cũ. Bao nhiêu câu chuyện buồn vui được cùng nhắc trong bữa rượu, trong lúc uống trà nhìn trăng lên ở hoa viên nhà họ Vũ. Giáng Thu cũng niềm nở ra chào hai bạn của chồng nhưng cũng từng là đồng chí của vợ chồng mình.
Nàng đã sửa soạn một mâm rượu thịnh soạn để ba người cùng nhắm.
Rượu vào hơi nóng bốc lên, ba tráng sĩ nhắc lại ngày oanh liệt và nguyện quyết cùng nhau sẽ có một ngày tái xuất trên đường cứu quốc diệt thù.
Giáng Thu đứng hầu rượu nói góp:
- Các anh làm gì em cũng xin tham dự!
Đô Giang gạt đi:
- Chị đi sao được! Chị phải ở nhà thay anh hầu hạ bác và nuôi cháu.
Vũ Cảnh tiếp:
- Anh đô nói phải, nhưng dù sao rồi ra cũng sẽ có dịp để em góp công chẳng trực tiếp thì gián tiếp!
Bữa rượu của ba đồng chí kéo dài không biết mấy tiếng đồng hồ, nhưng ba người đều cảm thấy thống khoái vì được gặp gỡ nhau và cùng bàn tới việc lớn.
Đô Giang và đô Kim ở nhà Vũ Cảnh liền mấy ngày, cho đến ngày mồng chín tháng chín, theo đề nghị của đô Giang ba người cùng kéo nhau đi Hành Thiện để dự giải vật tại xã này. Giải vật làng Hành Thiện hàng năm tổ
chức nhân ngày hội là một giải vật có tiếng nên được các tay đô tứ xứ kéo tới tranh tài rất đông. Trước đây Mộ Trạch và Hành Thiện cùng nằm trong trấn Sơn Nam, nhưng ngày đó, ranh giới hành chánh bị bọn Pháp thay đổi, Mộ Trạch thuộc tỉnh Hải Dương còn Hành Thiện nằm trong địa hạt tỉnh Nam Định. Từ Mộ Trạch tới Nam Định cũng hơi xa, đi bộ cũng mất hơn một ngày đường. Họ tính khi tới Nam Định họ sẽ nghỉ ngơi một vài bữa trước khi vào giữ giải hoặc phá giải. Dọc đường đói nơi đâu tìm quán ăn nơi đó.
Chiều hôm ấy, lúc nắng đã xiên khoai, ba người đi qua một ngôi chợ, không hiểu của xã nào. Có lẽ họ cũng cảm thấy đói, nên khi một người đề
nghị vào chợ kiếm bữa ăn, cả ba đều đồng ý. Đây là một ngôi chợ quê nhưng quán chợ xây bằng ngói, và có lẽ chợ họp về chiều, nên tuy nắng xiên khoai mà chợ còn đang đông. Ba người đang lững thững đi trong quán chợ bỗng nghe tiếng gọi thật lớn: Thầy Khóa! Thầy Khóa! Các anh đô! Cả
ba đều ngoái đầu nhìn lại phía tiếng gọi. Thì đây là tiếng gọi của một người đàn bà bán thịt lợn. Thấy ba người quay lại, bà hàng thịt vội từ phía phản thịt chạy ra! Đây là vợ đồ Vẹo. Thấy chị, ba người cả mừng và chị cũng rất mừng khi gặp ba người. Chị tíu tít hỏi:
- Ba bác đi đâu lại đến đây! Mời các bác vào nhà em đi, nhà em ở gần đây, trong xóm kia!
Vừa nói chị vừa chỉ tay về một thôn gần đó. Chị quay lại phản thịt bảo con gái, lúc đó đang đứng phụ giúp chị bán hàng:
- Con trông hàng cho u! u đưa ba bác về gặp thầy.
Rồi chị nhặt một chiếc chân giò cộc và một tảng thịt khá lớn mang đi.
Chị nói với ba người rõ:
- Sau khi công cuộc cách mạng thất bại, anh em mỗi người đi một nơi, vợ
chồng chị không dám về làng, vì ngày ra đi anh chị đã giết chính tên thu thuế chợ và tên trương tuần, nay nếu trở về làng Ngưu Đại, thế nào họ hàng hai tên này cũng cáo giác. Khi chị đang không biết tính đi đâu thì được một nghĩa quân trong đám giải tán rủ về nơi đây, và đến đây anh chị nhờ sự
giúp đỡ của gia đình anh nghĩa quân lại quay về nghề cũ, chồng mổ lợn và vợ bán thịt. Anh chị lại cho người về quê đón hai con tới ở với mình, đứa lớn là một đứa con gái năm đó mười bảy tuổi. Con gái chị nối tiếp nghề của chị, và nó xả thịt những con lợn cũng không kém gì chị. Đã có những lần bố nó mắc bận, mẹ nó đau, nó đã tự tay lấy tiết và làm lông những con lợn, tuy không bằng bố mẹ, nhưng cũng không lúng túng vụng về. Sau này, nếu hoàn cảnh đưa đẩy, nó đi theo bố mẹ trên con đường cách mạng, nó cũng sẽ
dám: gái cắt tai, trai cắt cổ những tên bán nước làm tay sai cho giặc ngoại.
Khi chị đồ đưa ba ông khách tới nhà, anh đồ Vẹo đang sửa soạn đi bắt lợn để sáng hôm sau mổ thịt cho vợ con bán. Thấy đồ Vẹo hai ống quần xắn móng lợn, tay áo vén tới trên khuỷu, đầu chít khăn tai chó, tay cầm chiếc thòng lọng, Vũ Cảnh liên tưởng nghĩ tới Chu Hợi thời Chiến quốc cũng chỉ là một đồ tể giết lợn mà sau này đã lưu tiếng anh hùng chỉ vì đã cứu Ngụy Vô Kỵ trong hành động nghĩa hiệp. Thể mà việc làm của đồ Vẹo, có thua gì Chu Hợi, có thể còn khó khăn hơn việc làm của Chu Hợi, Chu Hợi làm rồi chết, nhưng đồ Vẹo làm việc này xong còn phải sống để tiếp tục làm những việc khác! Chết trong trường hợp này thật dễ, sống mới khó.
Thấy ba người tới, đồ Vẹo vứt chiếc thòng lọng, vào trong nhà thay quần áo rồi tiếp khách. Anh bảo chị đồ:
- Này, mày liệu sửa soạn cho tao mâm rượu thịt đích đáng để tao với ba bác say một trận cho đã. Tao có nhiều chuyện muốn nói với ba bác.
- Nhà đừng lo, tôi đã xách về một chiếc giò cộc và một tảng thịt to, tha hồ
bốn ông nhắm!
Đồ Vẹo lại bảo vợ:
- À, rồi mẹ con phải liệu bảo nhau tới nhà Ba Hót mà bắt lợn; rồi sáng mai lo mà mổ với nhau. Nhớ hãm tiết đánh cho chúng tao mấy đĩa tiết canh và có đủ lòng lợn để chúng tao nhắm rượu ngày mai nghe!
Chị đồ Vẹo nhất nhất vâng lời chồng, tỏ ra là một người vợ rất dễ bảo.
Khăn áo chỉnh tề, đồ Vẹo tiếp ba ông khách nơi nhà lớn. Sau mấy câu hỏi thăm, đồ Vẹo nói:
- Thưa ba bác, đàn em bây giờ không phải là đồ Vẹo nữa, đàn em được người làng ở đây gọi là Lái Vênh. Lái là lái lợn, mua lợn về mổ thịt, còn Vênh là tên em tự đặt thay cho Vẹo, Vẹo hay Vênh cũng vậy. Từ khi nhóm ta giải tán, về đây em buồn lắm tuy làm ăn không túng thiếu, nhưng hai vợ
chồng em cứ luôn luôn nhớ tới những ngày ở chiến khu Yên Thế, nhất là những ngày ở Tam Đái. Đã mấy lần đàn em toan lên Vĩnh Yên, đến Vị
Thanh tìm anh đô, vừa nói anh vừa hướng về phía đô Giang, nhưng không biết anh đô có nhà không, hay lại lang bạt kỳ hồ đi đâu mất. Hôm nay gặp bác, đàn em thật thỏa lòng mong đợi, và đàn em tin chắc các bác cũng đã nhớ tới việc làm lại những việc đã làm. Các bác chớ quên đàn em!
Vừa lúc ấy, chị đồ Vẹo xách siêu nước lên pha trà. Nghe chồng nói với ba ông bạn, chị nói góp:
- Các bác có đi cho nhà em đi, em cũng đi theo. Sống với các bác, nhiều lúc nguy hiểm nhưng em thấy cũng vui. Bây giờ lắm lúc em thật nhớ những ngày ấy. Ở đây bình an, có ăn có mặc, vợ chồng em làm ăn cũng được, nhưng em vẫn thấy buồn buồn, và đôi khi thấy lũ lính tráng hỗn hào em giận lắm!...
Chị đang nói, anh đồ ngắt lời:
- Đàn bà chỉ hay ba hoa! Xuống bếp mau lo làm mâm cơm để chúng tao nhắm rượu!
Chị nguýt chồng bảo:
- Anh hay nhỉ, anh nói tôi cũng nói chứ! Mà tôi muốn đi với anh thật chứ
đâu có phải tôi ba hoa! Anh chỉ được cái hay lấn át!
Chồng chị nói:
- Mày lại đi nữa, bây giờ hai đứa con ai trông? Để lại cho chúng nó về làm phiền ông bà nội chăng?
- Làm gì phải ai trông! Chúng nó lớn rồi, con chị trông thằng em là đủ. Con chị nó cứ tiếp tục bán hàng, thằng em giúp đỡ, sẽ xong hết!
Vũ Cảnh nghe hai vợ chồng đồ Vẹo nói với nhau, liền bảo:
- Chị cứ yên chí! Chúng tôi trở lại hoạt động chống Pháp sẽ có anh chị đi theo, và chị sẽ lại có dịp gái cắt tai, trai cắt cổ lũ thân Tây bán nước, cõng rắn cắn gà nhà!
Chị đồ cười, lẳng lặng bưng ấm nước đá đã pha trà đặt lên bộ ngựa để
chồng mời khách, rồi xách chiếc siêu không đi xuống bếp.
---------------------------------------------------
Chú thích
Thực ra là chính quyền bù nhìn, thân Pháp (BTV)
Phan Đình Phùng
Thái Lan bây giờ
ngàn
Sống ta cũng ham muốn, nhưng có cái ham muốn còn hơn sinh mệnh nữa, cho nên không chịu cẩu thả mà giữ lấy sinh mệnh. Chết ta vẫn ghét, nhưng có cái đáng ghét còn hơn sự chết nữa, cho nên gặp hoạn nạn không trốn tránh.
Tên này là một tên phản bội, sau này đã ăn tiền của Pháp phản lại ông Đề, ám hại ông.
Cuộc chống Pháp của ông Đề Thám kéo dài tới năm 1919, ở đây chúng tôi chỉ thuật lại tới đầu năm 1894.
Tác giả hai tập thơ cũ: Sơn Nhân nhã bút và Bút Linh Động.
Theo Nguyễn Hiến Lê trong Đại cương văn học sử Trung Quốc, cuốn II thì bài này kém bài của Thôi Hiệu, song như vậy không phải tài Lý Bạch kém tài Thôi Hiệu đâu (Trang 113)
Theo Nguyễn Văn Ba trong nho văn thì “Lý Bạch làm thơ tả tình cũng như Thôi Hiệu. Tình mỗi người mỗi khác tuy cảnh có thể giống nhau. Đi sâu vào tâm hồn của tác giả, ta nhận thấy hai nỗi buồn của hai nhà thơ được gởi trong hai câu kết. Nỗi buồn của Thôi Hiệu là nỗi buồn của người xa xứ, bâng khuâng với tình nhà. Còn nỗi buồn của Lý Bạch là nỗi buồn của con người trung kiên, tha thiết với vận nước, buồn vì thấy đám tiểu nhân thao túng triều đình khiến cho kẻ hiền tài không được trọng dụng, mà lại còn thấp thỏm lo sợ cho vận mệnh của chính mình”. (Trang 301)
Câu đối của Đông Xuyên, chúng tôi thay chữ Đức của tác giả bằng chữ Chí cho hợp với câu chuyện.
du ngủ = ru ngủ (người Bắc xưa không đọc uốn lưỡi chữ du).
Thơ của tác giả (Toan Ánh)
Bản dịch Toan Ánh
Quy lát: theo chữ Pháp - Culasse, sác- giơ theo chữ Pháp - Chargeur là băng đạn.
của quý
bát chiết yêu = bát nhỡ múc canh, bún..., thắt nhỏ ở phía đáy.
Theo bản dịch của Nguyễn Văn Ba trong Nho văn giáo khoa toàn thư.
En avant, à l-assaut (Tiến lên xung phong)
136 (cent trente six)
92 (quatre vingt douze)
Chú thích
Chú thích