ANH CHỊ EM HỌPartie 8

À propos de ce texte. Ce texte provient d’une édition composée puis numérisée : des erreurs de saisie et de numérisation subsistent.

Le texte intégral n’existe qu’en vietnamien.

Con bác, chú, cô, dì, cậu, mợ là anh em họ với nhau. Về họ nội, con nhà bác là anh chị, con nhà chú là em, còn về họ ngoại, con nhà bác, nhà già là anh chị, con nhà cậu, nhà dì là em.

Về đằng họ nội, là anh em thúc bá, còn về họ ngoại là anh em di cữu.

Anh em thúc bá còn gọi là anh em con chú con bác, và anh em di cữu còn gọi là anh em con cô con cậu hoặc con dì con già, còn các anh em họ cháu chú cháu bác, cháu cô, cháu cậu, cháu ngoại các ông bà là anh em chị em với nhau.

Trong gia đình ta xưa, nhiều khi các anh em họ nội vẫn ở chung một nhà dưới quyền của gia đình là ông nội.

THÂN THUỘC TRONG GIA ĐÌNH

Qua các thành phần trên, ta thấy rằng gia đình Việt Nam bao quát rất rộng, và mọi người đều có tình thân thuộc với nhau qua mọi liên hệ, không bởi họ nội, ngoại, nhiều khi bởi cả hai bên nội ngoại.

Trong một gia đình chung sống với nhau, nếu ta lấy tự bản thân ta mà tính lên ta sẽ có:

Trên ta là cha mẹ, gọi là phụ mẫu.

Trên cha mẹ là ông bà, gọi là tổ phụ, tổ mẫu.

Trên ông bà là cụ ông và cụ bà, gọi là tằng tổ phụ, tằng tổ mẫu.

Trên hai cụ là hai kị, gọi là cao tổ phụ, cao tổ mẫu.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 18

Trên nữa thì gọi chung là cao cao tổ, lên mãi cho đến thủy tổ.

Tính từ thân ta đến kị là năm đời.

Năm đời cùng ở với nhau một nhà gọi là ngũ đại đồng đường. Đây là một trường hợp hiếm, vì như vậy nếu ta lên một tuổi, cao tổ phụ hoặc cao tổ mẫu ta ít ra phải tám mươi, ấy là tính ta sinh ra đời lúc cha mẹ ta hai mươi tuổi.

Bốn đời cùng ở với nhau gọi là tứ đại đồng đường, trường hợp này có nhiều.

Ba đời cùng ở với nhau gọi là tam đại đồng đường. Đây là sự thường vì chỉ gồm có ông bà, cha mẹ và các cháu.

Và khi lấy tự bản thân ta tính xuống, ta sẽ có:

Dưới ta là con, chữ là tử.

Dưới con là cháu, chữ là tôn.

Dưới cháu là chắt, chữ là tằng tôn.

Dưới chắt là chút, chữ là huyền tôn.

Còn dưới nữa, đều gọi là viễn tôn.

Tính từ cao tổ đến huyền tôn gọi là cửu tộc.

Trong cửu tộc lại có những hàng ngang nhau, thứ bực trên dưới chỉ như

anh em.

Ngang hàng với cha mẹ ta là chú bác cô dì.

Ngang hàng với ông bà là ông chú, ông bác, bà cô, bà dì.

Ngang hàng với các cụ ta là cụ chú, cụ bác, cụ cô, cụ dì.

Ngang hàng với các kỵ ta là kỵ chú, kỵ bác, kỵ cô, kỵ dì.

Riêng về ta, ngang hàng có các anh chị em ruột, anh chị em họ.

Ngang hàng với các con là con anh, chị em ta, gọi ta bằng bác, bằng chú.

Cứ như thế tính trở xuống cho đến mãi mãi, nhưng càng xuống dưới tình 19

máu mủ ruột thịt càng xa, vì vậy, không còn lệ phải để tang nhau.

LUÂN THƯỜNG

Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì Luân thường là phép tắc chính thường của loài người nên theo.

Trong gia đình, luân thường cấm người cùng họ nội không được lấy nhau. Lấy nhau như vậy là loạn luân, luật pháp cấm mà tục lệ cũng cấm, vả lại sự loạn luân rất tai hại cho nòi giống nữa.

Về họ ngoại, anh em con cô con cậu, con dì con già còn phải để tang nhau không được lấy nhau. Kể từ anh em đời cháu trở đi có thể lấy nhau được.

Ca dao có câu:

Cháu cậu mà lấy cháu cô,

Thóc lúa đầy bồ, giống má nhà ta.

Gia đình là căn bản của xã hội. Trên gia đình là gia tộc, nghĩa là người trong thân thuộc với nhau.

Góp nhiều gia tộc mới thành làng xã, và từ làng xã đi lên mới có quốc gia.

Nói cách khác, gia đình là đoàn thể nhỏ trong đoàn thể lớn là quốc gia.

Đối với quốc gia, con người có nghĩa vụ, thì đối với gia đình, con người cũng có nghĩa vụ. Làm tròn nghĩa vụ đối với gia đình tức là giữ trọn một phần nào nghĩa vụ đối với quốc gia.

Gia đình ngày nay tuy nhỏ hẹp hơn gia đình xưa nhưng trên gia đình còn có gia tộc, và chính mối liên lạc gia tộc là một mối liên lạc đáng quý để

con người đỡ nhìn xã hội bằng một con mắt quá thiển cận.

Nếu gia đình là một bụi cây nhỏ, gia tộc là cả một khóm rừng, khóm rừng che chở cho bụi cây, nhưng bụi cây dù nhỏ cũng góp phần vào để

làm cho khóm rừng thêm rậm rạp.

Muốn biết khóm rừng phải đi từ bụi cây, muốn hiểu xã hội phải đi từ gia đình. Chính vì lẽ đó, muốn hiểu phong tục Việt Nam, phải bắt đầu từ

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 20

phong tục gia đình.

II. SINH CON

Qua thành phần về gia đình, ta thấy rằng muốn trở thành cha mẹ phải có con. Con cái là mầm để nối dõi tông đường, bảo tồn huyết thống.

Chính con cái sẽ giữ việc khói hương phụng thờ tiên tổ, cúng giỗ, cúng Tết.

Có tổ tiên rồi đến ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra mình, đến lượt mình cũng phải sinh con để di truyền nòi giống.

Trong bảy điều theo luật xưa, người chồng có thể bỏ vợ, xin liệt kê ra đây để bạn đọc cùng biết:

1. Không con.

2. Dâm dật.

3. Không thờ cha mẹ chồng.

4. Nhiều lời.

5. Trộm cắp.

6. Ghen tuông.

7. Có ác tật.

Việc sinh con ở Việt Nam rất quan trọng. Những cặp vợ chồng hiếm con tìm đủ mọi cách để cho có thể có con, đi cầu tự, đi tìm ngải, trừ tà, chữa thuốc v.v...

o Hiếm hoi

Không có con là hiếm hoi.

Theo quan niệm khoa học, hiếm hoi do cơ quan sinh dục bất thường, có khi của chồng, có khi của vợ và cũng có khi do bệnh tật của một trong hai người, nhưng qua sự tin tưởng và thói tục của ta, sự hiếm hoi có nhiều duyên cớ về số phận cũng như về phúc đức của vợ hoặc chồng.

Để tránh sự hiếm hoi trong trường hợp này, thường khi theo số phải nuôi con nuôi, rồi mới sinh con đẻ. Cũng có khi số dạy người vợ cả phải 21

cưới vợ lẽ cho chồng rồi mới có thể sinh con được, hoặc giả nếu không, người vợ lẽ sẽ sinh con thay thế cho mình. Nhiều người vợ cả mong mỏi có con đã không nghĩ gì đến sự ghen tuông và chính tự mình đã cưới thiếp cho chồng.

Qua mấy lý do trên nêu ra, ta không thấy nói gì đến sự bệnh tật của chồng hay của vợ, cũng như không nói gì đến sự thất thường của cơ

quan sinh dục của hai người. Tất cả lý do nêu ra đều dựa vào lẽ thần bí và một cặp vợ chồng nào hiếm hoi, bao giờ cũng là lỗi ở vợ, tuy đôi khi cũng có lỗi ở chồng:

-

Hoặc người vợ vì lẽ quả báo mà không con.

-

Hoặc người vợ vì lẽ tiền oan nghiệp chướng mà không con.

-

Hoặc người vợ bị tà ma ám ảnh, tiền phu quấy rối.

-

Hoặc người vợ xung khắc với chồng.

Bởi các lẽ trên, nên người đàn bà nào lấy chồng cũng mong mỏi có con, và muốn có con, nhiều người vợ đã chịu hy sinh mọi mặt, kể cả tình yêu của chồng, trường hợp cưới vợ lẽ cho chồng, kể cả tai tiếng của mình, trường hợp kiếm con bằng lối thả cò.

o Lễ cầu tự

Lễ cầu tự tức là lễ cầu thần thánh ban cho mình đứa con lập tự về sau.

Người ta thường cầu tự ở đình, chùa hoặc đền miếu, nhất là tại những nơi có tiếng là linh thiêng như đền Và ở Sơn Tây thờ Tản Viên Sơn thần, đền Kiếp Bạc ở Hải Dương thờ Hưng Đạo Vương, đền Phủ Giầy ở Nam Định thờ Công chúa Liễu Hạnh, và nhất là chùa Hương ở làng Yến Vĩ, huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Tây, nơi thờ Phật Bà Quan Âm.

Trong những ngày đi trẩy hội ở các đền chùa này, ta thường gặp giữa đám khách đi lễ, một số các bà nạ dòng đi cầu tự. Các bà mang lễ vật tới đền hoặc chùa với một tấm lòng hết sức thành kính.

Muốn đi cầu tự, trước hết phải giữ mình cho thanh khiết, phải ăn chay niệm Phật để tâm thành động tới quỷ thần. Phải tắm nước ngũ vị để tẩy mùi xú uế trần tục. Phải kiêng ăn hành tỏi.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 22

Tới đền chùa với đủ lễ vật gồm vàng hương, hoa quả, trầu rượu, xôi gà. Trường hợp đi chùa, không dùng đồ mặn, các bà đi cầu tự lễ trước bàn thờ thần linh hoặc trước Phật đài chỉ cầu xin một điều: xin Trời Phật Thần Thánh ban cho một mụn con trai.

Tại chùa Hương, nơi chùa Hang thiết lập trong động, có nhiều tảng đá nổi lên, trông hình như các em bé. Khách trẩy hội cầu tự tới xoa đầu các em bé đó, rủ về với mình. Nhiều tảng đá trông nhẵn thín như đầu trọc của các em bé vì trải nhiều bàn tay của các bà xoa cầu con từ bao đời nay.

Những người đi cầu tự, lúc trở về, phải tự coi mình như đã có một em bé đi kèm theo. Trong suốt hành trình từ nơi cầu tự về nhà, những người này, có những hành động như một người mẹ dắt con theo, mua quà bánh, mua đồ chơi, lúc đi đò trả hai suất tiền đò, lúc ăn cơm có thêm thức ăn dành cho em bé.

Khi về tới cửa, những người này gọi người nhà ra đón chú hay đón cậu. Từ buổi đó, đến bữa ăn phải dọn thêm bát đũa cho chú hoặc cho cậu. Người ta sắm sẵn cả nôi để chờ ngày thấy tin lành, nghĩa là ngày người đàn bà thấy những triệu chứng sắp thành mẹ.

Trong những câu chuyện truyền khẩu về cầu tự, người ta thường kể

lại rằng những con cầu tự rất khó nuôi, và thường hay chết yểu khi mới lên năm, lên ba. Đó không phải là con của Thần Thánh Phật ban cho, mà là con của lũ mẹ Ranh[2], đầu thai vào, vì khi người mẹ đi cầu tự lũ mẹ

Ranh ở đền chùa nhận với Thần Thánh Phật để xin cho con mình đi đầu thai, nhưng chỉ sau mấy năm chúng lại bắt về, nên đứa trẻ sinh ra bị chết yểu.

Còn nếu đúng con của Thần Thánh Tiên Phật cho thì đứa trẻ sẽ ở với cha mẹ trọn đời, và suốt đời cha mẹ sẽ luôn luôn chiều chuộng đứa trẻ

cho dẫu khi lớn cũng vậy.

Ta thường dùng ba tiếng con cầu tự để chỉ những đứa trẻ nào được

[2] Con hầu đầy tớ của các vị Thần Thánh.

cha mẹ nuông chiều.

o Có tin mừng

Người đàn bà sau khi lấy chồng chờ đợi ngày có tin mừng nghĩa là ngày bắt đầu có chửa. Ba tiếng có tin mừng đủ nói hết sự hân hoan của người ta khi chắc chắn biết mình sắp được làm mẹ để báo với người chồng sẽ sắp được làm cha.

Mặc dầu, có chửa là có tin mừng, nhiều bà vợ trẻ vẫn lấy làm thẹn thùng và các bà cố giấu càng được lâu càng hay sự có tin mừng của mình bằng cách đánh đai bụng để giữ cho bụng được nhỏ lâu. Tục này, ngày nay với sự hiểu biết về khoa sản phụ, các bà mẹ đã đều bỏ hẳn.

Đối với các bà vợ có chửa là có tin mừng, trái lại đối với các cô không chồng mà chửa, thì điều đó thật là một tai vạ, vì sẽ bị làng nước bắt tội và sự hứng gió nồm nam, để chỉ việc ăn vụng bụng chóng no này, xưa nay vẫn là một điều xấu trong xã hội Việt Nam. Các cô chửa hoang thường tìm cách phá thai, gây ra nhiều điều tai hại cho chính bản thân các cô, cũng như cho đứa trẻ sau này ra đời, một khi sự phá thai không có kết quả.

o Thai giáo

Việt Nam là một nước văn hiến tôn trọng lễ giáo. Con người muốn được quý trọng phải giữ lễ nghi làm đầu. Lễ nghĩa chi phối đời sống của ta từ nhỏ tới lớn.

Và ngay từ lúc còn là bào thai trong bụng mẹ, con người cũng đã phải chịu một sự giáo dục qua người mẹ. Đó là thai giáo.

Vấn đề thai giáo đối với ta cũng rất quan trọng, một phần vì sức khỏe của người mẹ, một phần vì mọi tư tưởng và hành động của người mẹ

trong lúc có thai đều có thể ảnh hưởng tới bào thai trong bụng.

Chính vì vậy, trong lúc mang thai, người đàn bà phải bó buộc làm nhiều việc xưa nay không làm, và phải kiêng nhiều điều xưa nay không cần kiêng.

Mọi người cho rằng sự ăn không ngồi rồi hại cho sức khỏe của người mang thai, và do đó ảnh hưởng tới cả bào thai. Trong lúc có thai người Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 24

đàn bà nên hoạt động chân tay, bằng việc làm. Nhiều gia đình khá giả, xưa nay người đàn bà không phải làm lụng nhiều, trong lúc có thai cũng phải bày đặt công việc ra để cho chân tay cử động.

Việc kiêng cữ, trong lúc mang thai, rất nhiều.

Đầu tiên trong sự ăn uống phải tránh những đồ quá bổ béo, e cái thai quá lớn khó sinh.

Ngoài ra, theo sự mê tín trong dân gian phải kiêng:

- Ăn cua để tránh sinh ngang.

- Ăn trai, sò, ốc, hến để tránh con nhiều dãi nhớt.

- Ăn thịt thỏ để tránh khỏi sinh con sứt môi.

- Ăn những đồ ăn, hoa quả, bánh trái đã cúng ở một đám tang hay một đám cưới, để tránh con khỏi bị chứng sài.

- Ăn những quả sinh đôi, để tránh sự đẻ song thai.

- Ăn những thịt ôi, hoa quả úa, có hại cho sức khỏe và do đó ảnh hưởng tới bào thai v.v...

Trái với sự kiêng ăn những thức kể trên, người đàn bà có thai nên ăn nhiều trứng gà để sinh con có da dẻ hồng hào.

Những điều kiêng cữ nêu trên, tuy có phần do mê tín, nhưng trong sự

mê tín này, có lẫn cả những phương pháp vệ sinh rất cần thiết cho người mẹ cũng như cho bào thai.

Trong vấn đề thai giáo, người đàn bà có thai còn phải tránh:

- Mọi cảnh tượng hãi hùng hay đau đớn.

- Mọi cử động gian tà.

- Mọi ngôn ngữ thô bỉ.

- Mọi sự nổi giận.

- Mọi tranh ảnh bất chính.

- Mọi sự kêu gào để cho cái thai khỏi lây ảnh hưởng xấu.

Đồng thời người đàn bà phải:

- Nói năng dịu dàng.

- Cử chỉ khoan thai.

- Luôn luôn tươi cười.

- Giữ cho tâm hồn ngay thẳng trong sạch.

- Treo trong nhà, để luôn luôn được ngắm tranh ảnh các vị anh hùng, các vĩ nhân, các bà mẹ hiền từ cùng những phong cảnh cao nhã thanh khiết, gây một ảnh hưởng tốt đẹp cho đứa con sau này.

Qua mấy điều trên ta thấy rằng, vấn đề thai giáo rất được chú trọng trong phong tục.

Ca dao ta có câu: Dạy con từ thuở còn thơ.

Nhưng thực ra ta vẫn dạy con ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ, qua người mẹ.

o Sinh trai hay sinh gái

Ngạn ngữ có câu: Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ, có ý nói sinh con nào dù trai hay gái cũng là điều mừng.

Các bà mẹ mang thai, nhất là những người muộn màng thường cầu mộng sinh được con trai, tuy nhiên những người đã có con trai, con gái rồi thì con nào cũng là con, có đủ trai gái để cho có nếp có tẻ.

Nhiều người trong lúc có thai đi lễ bái để cầu xin được đẻ con trai, và trong lúc có thai người nào cũng muốn biết xem mình sẽ sinh trai hay gái. Các thuật và tục quen thường đoán trước một đứa trẻ sẽ sinh ra là trai hay gái:

a) Theo người Trung Quốc thì con trai nằm bên mé trái, con gái bên mé phải người mẹ, nam tả nữ hữu. Vì vậy người ta đoán rằng khi cái thai nằm chếch về mé trái, người mẹ sẽ sinh trai, còn nằm chếch về mé phải, người mẹ sẽ sinh gái.

b) Khi người mẹ đang đi, người ta gọi giật lại. Nếu người mẹ quay về

bên trái sẽ sinh trai, còn quay về bên phải thì sinh gái.

Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 26

c)

Bụng người mẹ dẹp, sinh con trai, bụng tròn sinh con gái.

d) Khi đứa trẻ cựa trong bụng, nếu thấy động ít, sinh con trai, còn thấy động nhiều nặng bụng, sinh con gái.

e)

Nằm mơ thấy những giống vật to mạnh như voi, gấu, beo, cọp sinh con trai; còn thấy những giống vật mảnh dẻ như rắn, rết sinh con gái.

f)

Tín ngưỡng của ta cho rằng nam thuộc dương, nữ thuộc âm. Nên tính theo tuổi chồng, tuổi vợ, tháng có thai và tháng sẽ sinh người ta đoán con trai hay con gái.

Đó là những cách đoán của phương Đông. Từ ngày giao lưu với các nước Âu Tây ta lại có thêm cách sau đây để đoán sinh con trai hay gái nữa.

g) Lấy chiếc nhẫn cưới của người mẹ buộc vào một sợi tóc cũng của người mẹ rồi cầm đầu sợi tóc giơ tòn ten trên rốn người mẹ. Nếu nhẫn lắc lư đưa từ bên nọ qua bên kia là con trai, còn nếu nhẫn xoay tròn là con gái.

Đoán là một chuyện, còn đúng hay sai là chuyện khác. Vì vậy nên nhiều khi theo các sự chiêm nghiệm trên, người ta đoán sẽ sinh trai, mà đến khi sinh vẫn là gái, hoặc trái lại đoán sinh gái đến lúc sinh lại sinh trai.

o Sinh con

Thường thường một người đàn bà mang thai chín tháng mười ngày thì sinh, nhưng theo ta thì có trường hợp có người mang thai quá thời hạn trên vẫn chưa sinh. Có lẽ vì người ta tính nhầm tháng thụ thai, hoặc cũng đôi khi vì lý do bệnh tật sự sinh sản mới chậm hơn những người bình thường, trường hợp này gọi là lên tháng.

o Chửa trâu

Đối với những người mang thai quá thời hạn và lên tháng như vậy ta gọi là chửa trâu và ta gán sự chửa trâu cho một lý do huyền bí, chỉ có thể

chữa khỏi bằng những phương thuật huyền ảo.

Muốn cho người chửa trâu sinh sớm, người chồng phải:

-

Tìm đến một con trâu, lén cắt đứt sợi dây thừng xỏ mũi con trâu, hoặc:

-

Lấy một chiếc cọc đóng vào chân chiếc cối giã gạo ở trong nhà.

Theo sự tin tưởng của bình dân ta, một trong hai hành động trên của người chồng sẽ làm cho người vợ mau sinh.

o Sinh chậm

Việc sinh dễ dàng hay khó khăn tùy theo từng người, có khi chưa đến giờ đến lúc đứa trẻ ra đời, người đàn bà đã vội vàng muốn đẻ sớm, có khi đứa bé ở trong bụng chưa xoay hướng ra kịp. Đối với ta sự chậm sinh như vậy cũng có những phương thuật chữa mẹo, để cho đứa trẻ chóng ra đời. Người chồng phải làm một trong những việc sau đây:

-

Trèo lên cây cau rồi ôm cây tụt xuống.

-

Luồn qua những nấc một chiếc thang dựng đứng.

-

Cầm một chiếc đòn gánh đứng giữa cửa nhà lao ra ngoài đường.

-

Lấy chiếc lông nhím mọc ở khấu đuôi con nhím đưa cho vợ.

-

Lật đít ông đồ rau ở giữa bếp, nhổ nước bọt vào.

-

Lẳng lặng sang nhà hàng xóm, tìm người đàn bà nào dễ sinh, ăn cắp chiếc dải rút quần hoặc dải rút váy mang về quấn vào bụng vợ.

-

Cầm cái thắt lưng của mình vắt qua mái nhà (thắt lưng bằng vải xưa vẫn dùng).

o Sửa soạn cho lúc sinh nở

Người đàn bà có thai, khi sắp tới ngày sinh, thường sửa soạn rất chu đáo, nào sắm sẵn nồi đất để chôn nhau, may tã và quần áo lọt lòng cho đứa bé. Áo lọt lòng được kén may bằng những mảnh áo cũ của những người đàn bà dễ nuôi con. Đôi khi, để lấy khước, người ta đi xin những áo lọt lòng của con các gia đình đông con. Trước ngày sinh, người đàn bà có chửa giữ gìn trong mọi cử động để tránh mọi sự sẩy ngã rất tai hại cho lúc sinh nở.

o Khi sinh con

Tục tin rằng có thai nơi đâu phải sinh tại nơi đó.

Phương ngôn có câu sinh dữ tử lành nên ta cho rằng có người đến sinh Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Nếp cũ gia đình và Lễ - Tết – Hội hè 28

tại nhà mình là một điều không hay và người ta rất kiêng kị.

Chính người đàn bà có thai bao giờ cũng biết vậy, nên gần đến ngày sinh không dám đi đâu xa, e bất thần chuyển bụng khó tìm được nơi sinh nở. Tục kiêng này, ngày nay tuy vẫn còn nhưng đã bớt.

Mỗi lần sinh người ta phải mời bà mụ, những bà cụ già chuyên môn trông việc đỡ đẻ theo những cách thức cổ truyền. Có những trường hợp các sản phụ đã bị uổng mạng cả mẹ lẫn con vì sự lầm lỡ và thiếu học thức của các bà mụ.

Ngày nay, với sự tiến bộ khoa học của mỗi lần sinh nở người đàn bà đều tới các nhà hộ sinh, nếu gặp trường hợp khó khăn đã có bác sĩ.

Đối với bà mụ quê xưa, khi sản phụ khó sinh, các bà cho ăn trứng gà sống để tăng sức rặn và cho ăn cháo vừng để việc đẻ được dễ dàng.

Sau khi đứa trẻ đã sinh, các bà mụ thường cắt nhau bằng mảnh sành, hay cật nứa. Sự cẩu thả này đã khiến nhiều em bé sơ sinh bị chết oan về

bệnh sài uốn ván. Các bà còn vắt chanh vào mắt đứa trẻ để cho sáng và moi móc lỗ mũi, lỗ miệng đứa trẻ để khỏi nhớt dãi. Nhau của đứa trẻ

được đặt vào chiếc nồi đất đậy kín rồi đem chôn.

Chính vì sự chôn nhau này mà có thành ngữ nơi chôn nhau cắt rốn để

chỉ sinh quán của mỗi người.

Nhau phải chôn thật sâu kẻo đứa trẻ hay buồn nôn, lại phải tránh giọt nước mái hiên để đứa trẻ khỏi toét mắt và chốc đầu.

o Sự kiêng khem sau khi sinh nở

Theo phương Tây, sản phụ trong lúc sinh đã tổn hao sức khỏe cần phải tẩm bổ để mau hồi sức, trái lại theo phương Đông ngày xưa, sau khi sinh, người đàn bà phải kiêng khem rất nhiều.

Tục ngữ có câu:

Muốn ăn miếng ngon, chồng con trả người.

Ăn cái gì cũng là độc. Các sản phụ Việt Nam do đó, chỉ dám ăn cơm với muối rang hoặc với nước mắm chưng.