TAY ĐÔ GIỮ GIẢIPhần 1
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Trên đường quốc lộ số 4, Hà Nội đi Tuyên Quang, Hà Giang, vượt khỏi thị trấn Vĩnh Yên chừng ba cây số, nhìn về bên trái, du khách có thể nhận thấy một cây tháp hơi nghiêng, dân chúng địa phương vẫn quen miệng gọi là Tháp Nghiêng, và đây là cây tháp của chùa Cói, chùa làng Hội Hợp, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên.
Vĩnh Yên xưa thuộc đất Văn Lang sau thuộc về Phong Châu. Bạch Hạc ngày nay là Phong Châu thuở xưa, nơi đế đô đời Hồng Bàng, quê hương của Hai Bà Trưng. Đây cũng chính là huyện Mê Linh, nơi Hai Bà đóng đô sau khi đuổi được quân Tô Định. Từ năm 262 đến năm 272, Bạch Hạc là huyện Tân Xương. Năm 548 vua Lý Nam Đế thua quân Tàu ở đây. Lý Phật Tử sau khi tranh giành đất đai với Triệu Quang Phục cũng đóng đô tại huyện này, nơi địa điểm mang tên Hương Nha.
Vĩnh Yên về đời Trần gọi là Tam Đái Lộ, về đời vua Minh Mệnh năm 1822, gọi là Vĩnh Tường Phủ, thuộc tỉnh Sơn Tây. Năm 1890 đổi là Vĩnh Yên đạo, rồi đến năm 1899, tỉnh Vĩnh Yên mới được thành lập, gồm tất cả
phần đất của tỉnh Sơn Tây ở phía tả ngạn sông Hồng Hà.
Sau cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946, khi chính quyền quốc gia1 trở lại mới đây vào năm 1947, Vĩnh Yên được sáp nhập cùng với Phúc Yên thành một tỉnh gọi là tĩnh Vĩnh Phúc Yên. Sau tháng 7 năm 1954, chính quyền cách mạng trở về, hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên được hợp nhất với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú.
Vĩnh Yên là một vùng đất lịch sử. Dân chúng vùng này luôn luôn có tinh thần bất khuất, nhiều anh hùng chống Pháp đã xuất thân ở tỉnh này như Đội Cấn, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính
Dân chúng đa số chuyên về nghề nông, chuộng văn nhưng vẫn yêu võ vì truyền thống trải qua từ thời đuổi quân Tô Định, đánh quân nhà Lương.
Nghề võ được yêu trọng, nhưng dân chúng nhiều làng lại đặc biệt chú ý tới ngành đô vật, một ngành võ không dùng đến khí giới nhưng phải có sức lực và phải có chân tay nhanh nhẹn.
Làng Hội Hợp là một làng có nghề vật cũng như nhiều làng cùng tỉnh: các làng Vị Thanh, Vị Trù, Hội Hà, Địch Đồng, Hán Nữ, Thổ Tang, Hoàng Xá
Để trau dồi tài nghệ cho các đô vật trong làng, để khuyến khích họ cầu tiến, để bắt buộc họ phải luôn luôn luyện tập, để tạo cơ hội cho họ có dịp học hỏi thêm ở nơi các tay đô thiên hạ, và nhất là có dịp thử sức với những tay đô này, hàng năm làng Hội Hợp, nhân dịp hội làng mở vào thượng tuần tháng Giêng, có tổ chức giải vật để các tay đô vật trong làng ganh đua với thiên hạ. Với giải vật này các tay đô tứ xứ kéo nhau tới tranh giải không ít, không kể những lực sĩ các làng trong tỉnh, nhiều tay đô đã từ các làng xã tỉnh xa kéo tới, làng Chung Mầu tỉnh Bắc Ninh, làng Ngọc Lũ tỉnh Nam Định, làng Mai Động tỉnh Hà Đông.
Trong dịp này, bãi cỏ trước Tháp Nghiêng chùa làng được dọn dẹp sạch sẽ và trang trí để biến thành sân vật. Nơi đây khá rộng rãi, không những đủ
rộng để các lực sĩ tranh hùng mà còn đủ rộng để dân chúng trong xã cũng như dân các nơi khác tới dự hội, đứng vây quanh, vòng trong vòng ngoài xem vật.
Năm Giáp Ngọ (1894), Đình nguyên Phan Đình Phùng sau khi đã vây bắt được tên Trương Quang Ngọc để trị tội về việc đã bắt vua Hàm Nghi, giết tướng Tôn Thất Thiệp đêm hôm 26 tháng 6 năm Mậu Tý (1888), lại hiệu triệu đồng bào đứng lên tiếp tục công cuộc chiến đấu chống Pháp giành lại chủ quyền đất nước. Lời hiệu triệu này đã được dân chúng chép lại truyền tay nhau đi từ vùng này qua vùng khác, và nhận được sự đáp ứng
rất nồng nhiệt của mọi giới. Hào kiệt khắp nơi đều kéo về phục tùng dưới trướng.
Khi ấy Đình nguyên2 đóng quân tại một nơi hiểm yếu ở núi Vụ Quang, tục gọi là Ngàn Trươi. Đây là một khu rừng núi bao la hiểm hóc, có thể tiến và lui, ở đây có thể trông thấy được tình hình khắp tỉnh Hà Tĩnh. Hơn nữa phía sau lại có đường bí mật dẫn sang đất Lào và đất Xiêm3
Trong khi quân của Phan Đình nguyên chống Pháp, anh hùng nhiều nơi khác vẫn nổi lên.
Dân chúng, tuy trong cảnh loạn lạc của đất nước nhưng vì sự đàn áp và che đậy của lũ tay sai, nên tại nhiều nơi cuộc sống cũng không gặp xáo trộn, và hàng năm khi mùa xuân tới để bảo vệ tục lệ cổ truyền các làng xã vẫn mở hội xuân, cơ hồ như không biết đất nước đang trong lúc nhiễu nhương và biết bao anh hùng hào kiệt đang cùng với những đám quân Cần Vương tại nhiều nơi, hăng hái chống Pháp giết giặc và giết cả lũ tay sai của giặc, hy sinh xương máu cho dân tộc.
Mùa xuân năm đó, làng Hội Hợp theo thường lệ cũng như mọi năm, mở
hội để dân làng vui xuân cùng với khách thiên hạ tới xem hội.
Trong hội xuân, vẫn có tổ chức giải vật tại bãi cỏ Tháp Nghiêng chùa làng. Giải vật đã kéo các tay đô trong vùng tới tham dự rất đông. Thực ra thì tới đầu năm, các làng vùng Tam Đái không mấy làng là không có hội, và làng nào mở hội mà không có giải vật. Đất Tam Đái xưa nay vẫn là nơi dụng võ, nơi xưa kia một trong thập nhị sứ quân đã xưng hùng, sứ quân Nguyễn Khoan tự tôn là Thái Bình Công. Cái truyền thống dụng võ vẫn còn trong huyết thống của người dân, nơi đây, ngoài nghề nghiệp làm ăn người ta trau dồi võ nghệ. Vả chăng, địa thế miền trung du của vùng này bó buộc con người phải mạnh để còn lấn áp thú rừng qua những cuộc săn bắn.
Nhiều làng có hội vật, nhưng không vì thế mà giải vật ở làng Hội Hợp kém phần quan trọng, các lực sĩ tiếng tăm nhất hàng năm vẫn kéo nhau tới nơi đây trổ tài, và cũng là một dịp thử sức với các tay đô tứ xứ và tìm cách học hỏi qua những cuộc đấu, tiếp thu thêm các miếng hiểm hóc bằng cách
dự kiến các cuộc vật cũng như bằng kinh nghiệm bản thân nếu bị đối phương có những tài nghệ mới áp đảo.
Cũng như mọi năm, năm Giáp Ngọ với hội vật, làng Hội Hợp vẫn đặt ba giải chính: nhất, nhì, ba và nhiều giải bàng. Giải bàng còn gọi là giải thờ, đặt ra để cho ai muốn khảo sức thi vật. Giải thờ vật trước, và mỗi ngày có nhiều giải thờ, đô vật chỉ được làng thưởng một chút quà kỷ niệm hoặc một món tiền nhỏ gọi là của làng phát cho. Những cuộc vật giải thờ này mở đầu mỗi ngày cho một cuộc vật giải chính. Đấu vật mỗi năm ít nhất ba ngày cho ba giải chính, nhưng quan trọng nhất là ngày cuối cùng, ngày vật giải nhất.
Khi vật giải thờ các tay đô không trổ hết tài nghệ và có nhiều khi cả hai bên cùng ngã, họ cùng là một bọn rủ nhau vào vật, trưng ra vài miếng cho tứ xứ trông vào! Họ vật không hăng hái gay go, nhưng mà đẹp. Lúc lên đài, những động tác lừa miếng nhau, đáng lẽ họ chú ý rình nhau, lừa nhau thì họ
múa may cho thật dẻo, thật mềm. Kể nhìn cũng vui vui, hay hay!
Khi vật giải chính thì không vậy. Đôi bên đều gắng sức để đánh đổ đối phương. Lệ vật muốn thắng, một là phải đội bổng bên địch, hai là phải vật cho người ta ngã ngửa trắng bụng. Phải ngã ngửa mới được, ngã sấp không kể. Nhiều người vì lỡ miếng đành phải nằm bò sát đất để tùy cơ đánh lừa địch thủ, mặc cho địch thủ muốn bốc thế nào cũng cứ ôm sát lấy đất. Và nhiều khi vì địch thủ tìm cách bốc địch, thì bỗng chỉ thoắt một cái, địch đã đứng phắt dậy, và có khi cùng với động tác đứng lên, kẻ nằm bò với một miếng bí hiểm đã vật ngã được đối phương!
Ngay từ khi hội vật bắt đầu, người ta đã thấy sẽ có những cuộc vật hào hứng, vì những tay giữ giải đều là những lực sĩ trong vùng.
Giải ba, đô Kế xã Dịch Đông giữ giải, giải nhì do một tay đô từ xã Mai Động, Hà Nội lên giữ, đó là đô Tống, người đã từng nhiều phen tung hoành vùng Tam Đái. Còn giải nhất, nói đến tên người giữ giải, các tay đô kém tài ba, thiếu kinh nghiệm đều lắc đầu tỏ vẻ ngán. Đó là đô Giang xã Vị Thanh, một trung tâm đô vật của vùng này, và đây là lò vật đã sản sinh ra không biết bao nhiêu lực sĩ từng gây sóng gió cho làng vật. Đô Giang đã có lần xuống tận Ngọc Lũ, một làng có nghề vật nổi tiếng của trấn Sơn Nam Hạ
để thử tài, và đã đoạt giải mang về, khiến cho các tay đô làng Ngọc Lũ phải một phen hậm hực.
Và những người lăm le vào phá giải năm nay cũng không phải là những tay vừa. Không kể những lực sĩ chỉ nhằm vào giải nhì, giải ba, chỉ nhắc tới những lực sĩ sẽ vào phá giải nhất: đô Kim, một lực sĩ từ xã Chung Mầu, tỉnh Kinh Bắc tới, đô Thu từ Sơn Nam Thượng lên, đô Vân, tay đô vật tài danh của xã Ngọc Lũ, và những lực sĩ có hạng của Tam Đái như đô Linh, đô Điểu xã Hán Nữ, đô Trình, đô Xuyên xã Hoàng Xá V.V. Kể ra không hết.
Lại còn những tay đô của chính xã Hội Hợp, vài ba người tài nghệ vào hạng đầy hứa hẹn!
Trước khi nói tới những cuộc vật để tranh hùng xưng bá giữa các lực sĩ, xin tả qua đấu trường, nơi các tay đô sẽ cùng nhau phân thắng bại.
Một bàn thờ được dựng lên phía trước Tháp Nghiêng, và ở đây dân làng đã bắc rạp để lấy chỗ cho các nhân viên hàng xã, đứng đầu là cụ Tiên chỉ, rồi đến các Lý trưởng, Phó lý, Trương tuần, cùng các vị khác trong ban điều hành công việc hàng xã. Một chiếc án thư kê trước bàn thờ, hai bên là hai chiếc tràng kỷ và nhiều ghế ngồi dành cho các vị cùng các quý khách của xã.
Thẳng theo hai bên đầu rạp, là hai hàng cờ ngũ hành, biểu hiện của đình đám mùa xuân. Ngay trước rạp, hai bên phía tả hữu có hai chiếc trống cái, một loại trống thật lớn, trong những khi rước xách thường phải hai người khiêng. Hai vị đàn anh trong dân được cử ra cầm trống. Trống đánh mỗi hồi ba tiếng, hồi trống của hội vật. Người bên nọ đánh ba tiếng vừa dứt, người bên kia lại đánh ba tiếng theo.
Sân vật nằm giữa hai hàng cờ đuôi nheo ngũ hành. Ngay ở sân vật, liền trước rạp có trải chiếc chiếu cạp điều để các đô vật lễ thần trước và sau mỗi cuộc. Trông các đô vật vào lễ cũng hay hay! Mình trần trùng trục, mỗi người chỉ mang một chiếc khố màu xanh, đỏ, trắng, nâu- nhưng không có màu vàng, màu riêng biệt của hoàng gia- mà cũng lên gối xuống gối lễ bái rất đứng đắn. Có điều họ chỉ chống lên gối có một tay trái, không lễ bằng cả hai tay như ta vẫn lễ.
Ở giữa sân vật có ba tuần phiên. Hai người, cầm mỗi người một lá cờ
đuôi nheo nhỏ để phất hiệu vật, người thứ ba cầm chiếc trống bưng còn gọi là trống khẩu, có cán cầm, mặt trống chỉ nhỏ vào khoảng gang tay đường kính. Trống này đánh lên lúc đang vật vừa để khuyến khích vừa để thúc giục các lực sĩ.
Khách xem vật đứng vòng trong vòng ngoài, lấy hai hàng cờ đuôi nheo ngũ hành làm giới hạn. Ai chen lấn tới sân vật, hai người tuần phiên cầm cờ, dùng ngay cán cờ để gạt ra.
Mỗi ngày cuộc vật bắt đầu bằng những giải bàng độ mươi lăm giải, thì làng cho vật giải chính. Đô vật giữ giải phải vật ngã hết những người vào phá giải nhưng để tránh sự thông đồng giữa các tay đô kém tế nhị, nhiều làng thay vì số keo thắng đã lấy thời gian mà kết thúc mỗi giải. Người giữ
giải nếu đến quá Ngọ không có ai vật nổi mình sẽ ăn giải, và để tránh sự bất công vì người giữ giải phải vật nhiều người liên tiếp tổn sức, thường cứ sau ba keo vật gay go, người này lại nghỉ một khắc, để các tay đô khác cùng nhau vật những giải bàng, như vậy, các khán giả tuy chờ đợi xem kết quả
cuộc vật chính thức vẫn được xem những keo vật ngoạn mục.
Năm ấy, giải ba do đô Kế xã Dịch Đồng giữ và đã chiếm giải vì những tay đô cừ khôi, chỉ nhắm vào giải nhất.
Giải nhì, do đô Tống xã Mai Động giữ, đã có những keo vật quyết liệt, vì các lực sĩ vùng Tam Đái không muốn để giải của đất mình lọt vào tay người khác. Tuy nói là quyết liệt, nhưng chỉ có sự quyết liệt đối với một số
các đô vật, tuy tài ba, nhưng chưa phải là những lực sĩ tài ba nhất mỗi xã, những lực sĩ này họ chỉ chờ phá giải nhất.
Trong những keo vật, đô Tống đã gặp đô Trác xã Chung Mầu tỉnh Bắc Ninh. Hai bên đồng sức, cuộc vật kéo dài, mãi đến gần quá Ngọ, đô Tống mới đội nổi được đô Trác lên mà thắng cuộc, nhưng vật xong đô Trác chưa phải là hết, đô Tống còn gặp đô Ngọc xã Vị Trù, và trong keo vật này có lẽ
vì đô Tống quá mỏi mệt, đô Ngọc đã thắng, và cho đến hết giờ Mùi, không gặp tay địch thủ nào vào bậc siêu quần, nên đô Ngọc đã ăn giải.
Quan trọng hơn hết là giải nhất. Đô Giang giữ giải này là một tay cự
phách của làng vật, và danh tiếng đô Giang đã vang lừng khắp vùng Tam
Đái, lan tới cả vùng Huy Tuyên về mạn ngược và truyền tới kinh và hai trấn Sơn Nam Thượng và Hạ ở vùng xuôi.
Hôm ấy trời hơi lấm tấm vài dây mưa bụi, mưa bụi mùa xuân tăng vẻ cổ
kính cho ngày hội.
Ngay sau khi cuộc phá giải sắp bắt đầu, ông Tiên chỉ Hội Hợp tuyên bố:
- Hôm nay là ngày chót của giải vật. Dân làng xin cám ơn đô vật tứ xứ
đã tới dự giải làm tăng sự long trọng cho ngày hội. Toàn ban hương chức Hội Hợp mong rằng ngày hôm nay sẽ vui hơn hai ngày trước với những keo vật hào hứng và các anh em đô vật sẽ trổ hết tài cho bà con xem hội thưởng thức.
Cụ vào lễ thần, và sau đó một bánh pháo toàn hồng được đốt lên để mở
đầu cho ngày vật.
Các anh em đô vật cũng kéo nhau vào lễ thần và đô Giang vào lễ sau cùng. Với chiếc khố điều tươi thắm, với những bắp thịt nổi lên, trông anh đô như một pho tượng đồng. Hai con mắt sáng quắc nói lên sự tinh anh, những bước đi thình thịch chứng tỏ sức mạnh kiêu hùng của tay đô vật hữu danh này.
Hai bên dọc thẳng theo đầu rạp vẫn là những tay đô vật mình trần trùng trục với mỗi người một chiếc khố. Ngoài những tay đô có mặt trong hai buổi trước, hôm nay xuất hiện thêm một số những tay đô có hạng, những tay đô sẽ vào phá giải của đô Giang.
Các khách dự khán hôm nay cũng đông hơn. Dân làng Hội Hợp bận gì thì bận, họ cũng phải có mặt ở nơi sân vật để chứng kiến những cuộc vật gay go. Sự hiện diện của nhiều tay đô xuất chúng sẽ hứa hẹn những keo vật kinh thiên động địa. Hôm nay sẽ có kẻ trẹo chân, sai khớp xương vì sự ra tay của các đô vật tranh giải. Nhiều tay đô có thể sẽ tiêu danh dự vì lỡ
miếng sa cơ, nhưng chắc chắn sẽ có một tay đô trở nên anh hùng trong làng vật, và ít ra cũng là lực sĩ vô địch vùng Tam Đái trong một năm! Ai ở làng Hội Hợp mà không đi xem những trận vật hôm nay, là đã bỏ phí cơ hội hiếm có, một năm mới có một lần.
Hội Hợp giải vật vui xuân.
Không đi bỏ phí dấn thân làm gì!
Câu ca dao địa phương trên chứng tỏ tầm quan trọng dân chúng vùng Tam Đái dành cho hội vật xã này.