CHUNG QUANH ĐẦM VẠCPhần 10 · trang 97–108
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 97CHUNG QUANH ĐẦM VẠC Nếu chúng a có dip đứng trên núi Tam Đảo nhìn xuống Vĩnh Yên, chúng ta sẽ thấy sát ngay tỉnh ly Vĩnh Yên một làn nước trắng bao la, giống hình một chiếc vạc ba chân: đấy là đầm Vạc.
Đầm Vạc làm một chiếc đầm lớn, ở kế tỉnh lỵ Vĩnh Yên, giống chiếc vạc ba chân, ăn qua chín làng, từ xã Vĩnh Thịnh, Tịch Sơn, Đông Đạo, Vị Thanh, Vị Trù, Khai Quang thuộc huyện Tam Dương, suốt đến mấy xã Quất Lưu, Ngọc Canh, Hương Canh và Tiên Hương thuộc huyện Bình Xuyên, thông với hai con sông Cà Lồ và Tiểu Đáy. Nước sông Cà Lồ trước kia chảy vào đầm Vạc và trút ra sông Tiểu Đáy do một nhánh sông đào nhỏ, nhưng ngày nay nước sông Cà Lồ chảy thẳng GÁI ĐẸP XỨ BẮC
Trang sách 98qua sông Đuống, và nơi ăn thông với Đầm Vạc cũ bị ngăn lấp. Nước đầm Vạc trong suốt và mát; cá đầm Vạc béo và ngon, dân làng sống quanh đầm Vạc chỉ cần chịu khó đôi chút là được hưởng tất cả những nguồn lợi thiên nhiên của tạo hóa chứa đựng trong đầm này.
Thật vậy, đầm Vạc rộng và sâu, nước lên xuống theo mùa mưa nắng, khiến cá ở sông Đáy, khi nước lên, theo giòng nước vào đầm, và lúc nước ra, ở lại đầm, biến thành một nguồn lợi cho chín làng ở quanh đấy. Ngoài ra, đất ở đáy đầm là đất sét quánh, dùng để nặn nồi rất tốt, người lạ vẫn thường lấy để mang bán cho các nơi làm gốm như Thổ Hà ở Bắc Giang, Bát Tràng ở Bắc Ninh, Định Trung ở Vĩnh Yến v.v....
Ven bờ đầm, những đám rong xanh dùng cho lợn ăn rất lợi, có thể thay bèo và rau được. Sống ở chung quanh đầm Vạc, lẽ tất nhiên người dân biết khai thác phải được hưởng những nguồn lợi vô tận của đầm này.
Người ta đánh cá, người ta nuôi lợn, người ta đào rạch để lấy nước trong những năm hạn hán, người ta lặn xuống đáy đầm để lấy đất sét dùng cho nghề nặn. Cỏ mọc ở bờ đầm rất xanh tốt, trẻ con các làng vẫn cho trâu gặm cỏ, các cô gái vẫn cùng nhau cắt cỏ nơi đây.
Từ lúc tinh sương, trên mặt đầm đã có người, nhất là ở khu giáp mấy làng Vị Thanh, và Vị Trù. Dân mấy TOAN ÁNH
Trang sách 99làng này ra đầm đánh cá. Đánh cá ở đầm cũng vất vả như đánh cá ở sông và cũng cần đủ những dụng cụ như chài, lưới, thuyền. Ngoài ra còn đặt đó, lờ ở chỗ nước chảy vào đầm, từ đầm chảy ra ruộng để đón cá.
Đầm Vạc tuy rộng và sâu, nhưng khu sâu nhất là ở ven xã Vị Thanh, mé bên kia tính ly Vĩnh Yên, và các cá lớn vẫn tập trung ở khu này. Mỗi buổi sáng dân xã Vị Thanh đánh được rất nhiều cá. Cá ở đây có tiếng là ngon và sạch, nên phường buôn thường tranh mua.
Cảnh đánh cá trên mặt đầm hoạt động và vui vẻ lắm. Sáng tinh sương, ánh bình mình vừa hé ở phương đông, những người dân chài đã có mặt ở ngoài đầm.
Mặt trời tự phương đông chiếu đỏ xuống mặt đầm. Gió sớm làm làn nước bạc rung rinh, gây nên những con sóng nhỏ gợn hồng dưới dương quang. Những con thuyền đi ngang đi dọc trên mặt nước. Bơi chèo khua xuống nước, nước bắn lên mạn thuyền tóe trắng như bạc. Thuyền từ từ đi, người thuyền chài chiếc lưới gai đen tỏa ra rơi xuống mặt nước, chùm một bề mặt khá lớn rộng, rồi khép dần lại ở dưới nước theo sức nặng của những thỏi chì, khiến những đàn cá ở trong vòng lưới đành chịu mắc nghẹt để chờ lôi lên khỏi mặt nước.
Có những chiếc thuyền chài lội hẳn dưới nước chăng ra quây hẳn lấy một vùng đầm. Trong khi đó thì có GÁI ĐẸP XỨ BẮC
Trang sách 100những thiếu nữ, những ông già chở những chiếc thuyền nan đi đuổi cá về phía chăng lưới. Thuyền nan bơi nhè nhẹ, thiếu nữ hoặc ông già dùng hai miếng gỗ gõ mạnh vào nhau tạo nên tiếng động xua cá về một hướng.
Lưới dần dần khép lại. Đàn cá bị đuổi, mắc vào lưới.
Mỗi lần một chiếc lưới kéo lên, những con cá bạc quẫy như muốn trốn. Chiếc lưới kéo dần dần, đàn cá mắc lưới nhoi dần lên khỏi mặt nước, được các người trên thuyền gỡ dần ra ném vào khoang. Có cá to, cá nhỏ, cá chép, cá chắm, cá mè, có cả cá mương, các điếc, cá bống, cá mại là những con cá nhỏ. Người ta sẽ chọn để riêng từng loại cá để tiện bán cho những hàng buôn đang chờ đợi trên bờ đầm.
Vừa đánh cá người ta vừa trò chuyện nói cười với nhau. Mặt trời dần dần lên cao, cuộc đánh cá hàng ngày cũng xong dần. Những chiếc thuyền được đưa vào bờ. Mặt đầm vẫn nhuộm hồng ánh tía của mặt trời.
Cá được các hàng buôn mua ngay tại bờ, hoặc có khi vợ con các nhà chài tự mang bán tại chợ Vĩnh Yên.
Sau buổi đánh cá sớm ngày, đầm Vạc trở nên hoang vắng, tuy nhiên vẫn còn một đôi người đơm cá hoặc úp cá ở ven bờ, nhất là ở các thửa ruộng sát liền với đầm, và mấp mé mặt nước đầm. Một vài ngư ông có tuổi, với chiếc cần câu, thủng thỉnh buông câu, dưới TOAN ÁNH
Trang sách 101nắng sớm một cách thật là nhàn nhã. Đầu đội chiếc nón mê che nắng, ngư ông ung dung mắc mồi, thả câu mặc cho thời gian đi, tưởng chừng như không biết tới đời là gì nữa. Thỉnh thoảng chiếc phao nhấp nháy, ngư ông dật cần câu, thường là một con cá bạc đã cắn câu, đương vùng vẫy ở đầu giây để tìm lối thoát thân.
Trong lúc một vài ngư ông già còn buông câu một cách thanh bình như vậy, thì những người đánh cá ban sáng đã người nào việc ấy rồi. Các bà nội trợ, các cô gái mang cá đi bán tại chợ tỉnh Vĩnh Yên; các thanh niên sau khi kéo thuyền vào một chỗ trên bờ, đang xem lại thuyền, đang sửa lại lưới để dùng ngày hôm sau.
Những người đàn ông có lẽ đã đi thăm đồng, có lẽ đang đôn đốc công việc trong nhà, hoặc có khi đang nghĩ đến việc khơi mương cho cá theo nước chảy vào ruộng.
Cũng như tất cả dân quê miền Bắc người dân ở đây rất siêng năng khó chịu, ham công ham việc. Có việc tại dân số miền Bắc quá đông, cuộc sống quá chật vật nên người ta phải vất vã chăm làm.
Có làm thì mới có ăn, Không dưng ai dễ mang phần tới cho.
Người dân ở đây, sáng dậy từ tinh sương, làm lụng suốt ngày, mãi thật khuya mới đi nghỉ, và việc nọ vừa làm xong, họ làm ngay tới việc khác.
GÁI ĐẸP XỨ BẮC
Trang sách 102Những người đánh cá ban sáng, sau buổi chài, lại săn sóc ngay tới công việc cày cấy của mình, nào tát nước, nào làm cỏ, nào phát bờ. Có nhiều gia đình lại lợi dụng đất gần đầm tiện việc tưới bón để trồng rau.
Các thiếu nữ những gia đình này, trừ những buổi chợ, thường ngày luôn ở ruộng rau. Các cô bắt sâu, các cô tưới nước, các cô bón phân, và khi rau ăn được, lại cũng chính các cô cắt rau mang bán. Các cô không nề hà công việc tỉ mỉ hay nặng nhọc. Quần sắn cao, các cô gánh nước đầm lên tưới rau, rồi các cô lại vén tay áo bắt từng con sâu, bón rau từng gốc. Ruộng rau chia làm nhiều luống, mầu rau xanh nổi lên màu đất nâu. Những cây rau ngày một tốt, màu xanh xanh biến dần sang màu xanh đậm. Rồi rau trổ hoa. Những luống rau để bán đã cắt dần, những luống rau để giống thì có hoa rồi có hạt. Ngoài công việc trông nom các vườn ra, các cô cũng để ý tới công việc đồng ruộng nữa, vì nguồn lợi chính của gia đình các cô hàng năm là hai vụ gặt.
Các cô cũng như người nhà, theo từng tháng trong năm phải làm công việc ngoài đồng. Nào gieo mạ, cây lúa, bón phân trồng màu, gặt hái v.v...
Chiều chiều những ngày mùa xuân, sau khi công việc khác đã vãn, các cô thường cùng lũ trẻ dắt trâu cho gậm cỏ non vươn mình mơn mởn. Đường bờ đầm TOAN ÁNH
Trang sách 103quanh co, mươi con trâu thủng thỉnh đi bước một hoặc đang cúi đầu gặm những đám cỏ non. Lũ trẻ có đứa đang thổi sáo theo một bài hát cổ tự bao giờ; có đứa dắt trâu lững thững và thỉnh thoảng lại kêu một tiếng "họ" rất dài trước một bãi cỏ non. Các cô gái quê cũng chăn trâu, các cô cũng theo sự vui sướng hồn nhiên của các em bé, nói cười với chúng. Các cô cũng ngồi trên mình trâu hoặc cũng đang bước theo con trâu của mình.
Chăn trâu cũng lắm cái thú. Nhìn con trâu ăn cỏ một cách ngon lành, dưới bầu trời rộng rãi, bên làn nước trắng trong, cạnh những cánh đồng bát ngát, làm sao lòng người ta không rộn ràng say sưa được. Gió nhẹ như đùa mái tóc mây, mùi lúa xanh bốc lên ở cánh đồng chiều ngào ngạt. Ánh mặt trời xuân tía úa ở non Đoài chiếu lan trên đồng rộng tô điểm cho lúa xanh nước trắng. Xa xa chuông chùa thu không, thong thả buông từng tiếng êm dài. Đàn chim chiều bay về tổ hiện rõ trên không trung nổi bật lên nền trời xám đục.
Tiếng ca của em bé vắng lên:
Ngày xưa Nịnh Thích chăn trâu.
Mà rồi đeo ấn công hầu trâu ơi!
Ngày này lưng ghé ta ngồi Mai sau ta có một thời hiển vinh?
Bên đám trẻ và các thiếu nữ chăn trâu, có những GÁI ĐẸP XỨ BẮC
Trang sách 104cô khác đi cắt cỏ. Lưỡi liềm sắc bén cứa vào cỏ soèn soẹt. Tay trái các cô nắm ngọn cỏ, tay phải các cô đưa liềm đều đều. Các cô xếp cỏ vào đội quang gánh, lớp nọ trên lớp kia. Các cô lom khom trên bãi cỏ xanh, in bóng đen xuống nền cỏ. Có khi các cô hát vài câu.
Không xa đấy, bên những thửa ruộng, nông phu đang xẻ mương lấy nước, phát lờ hoặc đang cuốc ruộng màu.
Mặt trời dần khuất. Chàng nông phu ngừng tay, nhìn đàn chim bay về tổ. Chàng thở ra khoan khoái vì kết quả của một ngày vất vả. Bỗng tầm mắt chàng bắt gặp cô cắt cỏ ở trên bờ đầm. Chàng hhát ghẹo các cô:
Mặt trời đã xế về Tây, Hỡi cô cắt cỏ bên đầy bên vơi, Cô còn cắt nữa hay thôi, Để tôi cắt với làm đôi vợ chồng?
Nghe chàng nông phu hát cô gái có khi mỉm cười, có khi nguýt dài chàng một cái. Cô bảo:
- Sao nhà bác nói dễ nghe thế! Này bác:
Giầu vàng còn để trong cơi Anh kia đũa mốc chớ trèo mâm son!
Bị câu nói chanh chua, chàng nông phu mỉm cười, chàng chẳng lạ gì các cô gái làng nữa, các cô khẩu xà tâm Phật. Chàng lại hỏi nói trêu hát ghẹo. Chàng nói:
TOAN ÁNH
Trang sách 105- Sao nhà chị chua ngoa thế.
Giàu vàng đâu mãi trong cơi, Sợ mai giàu héo, giàu ơi là giàu!
Trời tối dần dần. Đàn trâu trên bờ đầm lần lượt đi về làng. Các cô cắt cỏ cũng xếp lại quang gánh ra về, và các chàng nông phu cũng vác cuốc trên vai lững thững đi theo các cô trên nẻo đường làng. Vừa đi có chàng vừa tiếp tục nói chuyện dở dang, đem nhưng lời ong bướm trêu cợt người thiếu nữ vừa cùng chàng đối đáp. Trước những lời tròng ghẹo của chàng trai, nhiều khi cô gái đã cự tuyệt một cách tinh tế.
Bao giờ trạch đẻ ngọn đa, Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình Bao giờ rau riếp làm đình Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
Trời tối hẳn, bóng lẫn vào bóng tối: bờ đầm, bãi cỏ trở nên vắng vẻ. Mọi người đã về làng, cho đến sáng sớm hôm sau ngoài đồng mới lại có bóng người. Và đầm Vạc, với ánh bình minh, trên bờ dưới nước lại có cảnh hoạt động hàng ngày.
Có làng như làng Khai Quang tuy ở gần đầm Vạc, nhưng không sống về nghề đánh cá. Hoạt động của dân làng này ngoài công việc đồng áng, họ chuyên GÁI ĐẸP XỨ BẮC
Trang sách 106việc nặn và nung các đồ sành. Hàng ngày trong khi đàn bà trẻ con ở nhà nặn đồ nung thì có những người đàn ông ra đầm lấy đất sét. Họ rủ nhau từng bọn hai ba người, mang thuyền ra giữa đầm để lấy đất. Đất sét ở đáy đầm Vạc quánh và mềm, dùng trong nghề nung rất tốt, nhưng việc lấy đất rất công phu. Chiếc thuyền gỗ không mui chèo ra giữa đầm được cột chặt vào chiếc sào cắm sâu xuống đáy đầm. Một người ở lại trên thuyền còn mấy người khác chỉ quấn mỗi người một chiếc khố lặn xuống nước dí chiếc mai để đào đất. Đất họ xén thành từng tảng vuông. Mỗi lần được một tảng đất, họ lại nhoi lên đưa cho người ở thuyền đỡ lấy, xếp vào khoang thuyền. Người lấy đất lại ngụp xuống và một lát sau họ lại mang một tảng đất khác lên. Từng tảng đất một, họ kiên tâm lấy cho tới chất vừa thuyền họ mới thôi. Những tảng đất xét lấy ở dưới đầm lên còn ướt nước ở bên ngoài, trông như bôi mỡ. Ánh mặt trời chiếu vào nước ngoài óng ánh những tia đỏ chói.
Khi đã lấy đất xong, họ thủng thỉnh bơi thuyền vào bờ. Những tảng đất xét đó, qua bàn tay đàn bà con gái ở nhà, sẽ biến thành chiếc nồi đất màu ngói, chiếc chậu màu da lươn hoặc những chiếc chum màu gạch già.
Những người dân chung quanh đầm Vạc mỗi làng mỗi nghề. Họ quanh năm làm lụng để lo sao cho gia TOAN ÁNH
Trang sách 107đình không những đủ tiêu, lại sung túc hơn người. Họ làm việc không quản ngại thời tiết nóng hay lạnh, mưa hay nắng, sớm hay trưa.
Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa, Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày.
Đầu năm chí cuối họ làm ăn cần cù chăm chỉ, chỉ giải trí nghỉ ngơi trong dịp Tết và dịp hội. Trong những ngày này thì trai cũng như gái, trẻ cũng như già, đều nghỉ ngơi, để dự hội cũng như để vui chơi. Ngày thường họ quần áo lam lũ thì ngày hôm nay, có bộ quần áo nào đẹp nhất họ mang ra mặc. Họ cũng vui vẻ tươi tỉnh hơn, gặp nhau ở hội, hớn hở chào đón ngợi khen nhau.
Mỗi làng ở quanh đầm Vạc có tục lệ riêng của mình. Làng Tích Sơn thì ngày mồng bốn tháng giêng có tục thi cơm. Các cô gái làng phải lo thổi nồi cơm cho thật dẻo, thật ngon. Các trai làng kén vợ thường kén qua nồi cơm thi các cô thổi cho cha hoặc anh em để trình làng. Ngoài thi cơm còn có thú kéo co, tục chém gà và lễ rước thần từ đền làng đến chân Bàu.
Làng Vị Thanh có tục đánh vật có tiếng ở Vĩnh Yên.
Các đô vật làng này đã nắm nhiều giải ở các làng trong tỉnh trong dịp đầu xuân. Làng Động Đao cũng có tục Vật và tổ chức hội làng vào ngày rằm tháng giêng tại chùa Cói, là một ngôi chùa cổ của miền Bắc. Các làng GÁI ĐẸP XỨ BẮC
Trang sách 108khác đều có mở hội vào tháng giêng. Hội có rước thần, đánh vật, có đánh cờ. Hội ở mấy xã Ngọc Canh, Hương Canh và Tiên Hường hàng năm mở to lắm. Ba làng này là ba làng giầu nhất ở quanh đầm Vạc, nhiều ruộng, lại có nghề buôn bán rất phát đạt. Hàng năm nước lên, đem màu mỡ vào ruộng, đồng lúa càng thêm tốt.
Quanh đầm Vạc, mỗi xã có mỗi nghề. Ai tới vùng này có lẽ đã được nghe câu đồng dao:
Vị Thanh đánh vật Đào đất Khai Quang Làng cánh (") Tiên Hường Lắm tiền nhiều ruộng.
Có thế lời đồng dao còn dài, và còn có ghi đến các xã khác, nhưng vì lâu ngày người ta chỉ truyền khẩu được có bốn câu trên; cũng có thể vì các làng khác không được người ta chú ý bởi không có gì đặc sắc, nên không được truyền vào lời đồng dao chăng? Nhưng dù làng đó có tên hay không ở lời đồng dai, thì những người dân quê chịu khó ở quanh đầm Vạc, vẫn suốt đời tận tụy với việc mình. (1) Để chỉ hai xã Ngọc Canh và Hương Canh, tục là làng Cánh.
TOAN ÁNH