TRỒNG DÂU CHĂN TẰMPhần 11
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Nếu chúng ta có dịp xuôi theo dòng nước trên các sông miền Bắc, từ
sông Đuống đến sông Cầu, từ sông Nhuệ đến sông Thương, chúng ta sẽ phải chú ý tới những ruộng dâu ở hai bờ ven sông. Nếu phong cảnh hai bên bờ của mỗi dòng sông được thay đổi bởi núi cao rừng rậm ở miền thượng du, thì khi dòng sông chảy tới Trung du, ăn về
đồng bằng những cánh núi rừng cao rậm, đã được thay thế bằng những ruộng ngô, ruộng đậu, và nhất là ruộng dâu. Ruộng dâu có nhiều về mạn Trung du hơn. Có lẽ đất nửa núi nửa sông ở mạn này hợp với cây dâu, và khí hậu ở nơi này cũng thuận tiện với nghề tầm tang nhiều.
Nông tang là hai nghề cốt cán của những xứ nông nghiệp nhất là những xứ kém mở mang về kỹ nghệ như nước ta. Người dân quê Việt Nam, trăm người như một, đã thạo nghề nông họ lại biết cả nghề tầm tang nữa.
Sách có câu “Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”, thì người dân quê Việt Nam, nhất là ở miền Bắc, khi đã lo đến đói, tất nhiên họ phải phòng tới rét. Bởi thế cho nên, muốn có ăn họ cấy lúa cày ruộng, và muốn có mặc họ phải trồng dâu chăn tằm.
Trồng dâu chăn tằm liên quan rất nhiều tới đời sống hàng ngày của người dân, nên ruộng dâu và guồng tơ đối với họ cũng quí giá như đồng lúa và bịch thóc.
Người dân quê sống giữa ruộng dâu, cũng như sống bên ruộng lúa, cạnh lạch nước, trên đám đậu, nương khoai.
Nhà em ở dưới đám mây,
Thân trên đám đậu, đầu cầu ngó qua.
Ngó qua nhà trống bên sông,
Thấy con bìm bịp khãn hồng quay tơ.
Dâu trồng bằng cành. Người trồng dâu, đốn cành ở các cây dâu khác, dâm xuống đất, những cành đó nẩy mầm, bén rễ, rồi mọc cây.
Mỗi năm dâu phải đốn hai lần để chặt hết những cành già, thân cỗi, cho những mầm non mọc lên, nẩy ra nhiều chồi nhiều lá. Lá dâu xanh um, trông mơn mởn như lụa nõn. Lá dâu hái để nuôi tằm lấy tơ.
Vuờn dâu xanh ngắt, liên tiếp nhau ở cạnh những bờ sông, đón tia nắng sớm, hứng ánh sương đêm, hút hơi ẩm bốc từ mặt sông khiến lá dâu thêm tốt, tằm ăn sẽ đượm tơ.
Du khách xuôi dòng sông chỉ thấy những ruộng dâu bát ngát, xanh xanh rồi lại xanh xanh. Giá có những buổi tiễn đưa chắc người đi kẻ ở
sẽ:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Chi xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.
Bao nhiêu dâu xanh là bấy nhiêu tiền bạc của người dân. Người trồng dâu mong lá dâu tốt cho tằm hơn tơ.
Thường thường hái dâu chăn tằm là công việc của phụ nữ. Chỉ phụ
nữ mới có đức tính chịu khó, nhẫn nại cần cù để theo dõi việc nuồi tằm, bận rộn và vất vả hơn nuôi con mọn.
Người nuôi tằm tùy theo số tằm đang gây, đã ăn ngủ mấy lượt, phải đi dạm mua dâu từ trước. Họ đến từng chủ các vườn dâu đặt tiền mua lá dâu sắp tới, và khi cần đến họ mới cắt người đi hái dâu.
Trồng dâu ở ven bờ sông, nhưng người ta trồng cả trong vườn nữa.
Một vườn dâu, một năm bán được nhiều lứa. Loạt lá dâu này hái đi, vài tháng sau, loạt lá dâu khác đã mọc lên, cũng xanh nõn rậm rạp như lứa trước.
Đi hái dâu, các cô thường rủ nhau vài ba người, như thể để vườn dâu nào đã hái thì hái cho xong hẳn, và công việc làm có bạn bao giờ
cũng nhanh chóng nhẹ nhàng hơn.
Vườn dâu xanh xanh, ánh nắng bình minh tía chói, những hạt sương sớm lóng lánh như muôn ngàn hạt trai trên những lá dâu. Cơm gió nhẹ làm rung cành lá, để bóng các cô hái dâu thấp thoáng hiện ra như những nàng tiên trong vườn. Má các cô ửng hồng dưới nắng mai, môi các cô thắm, mắt các cô trong. Chiếc khăn mỏ quạ để lộ khuôn mặt trái xoan xinh xắn. Các cô cười có hai hàm răng đều như hạt lựu và đen nhức như hạt na già. Tay các cô thoăn thoắt đưa ngắt những lá dâu. Cành dâu lay động theo ngón tay cô hái lá. Mỗi khi các cô vít cành cây dâu cao lại làm rung rinh cả bụi dâu, khiến những hạt suơng rơi lả tả. Gió sớm như muốn vờn vài sợi tóc của các cô phơ phất ngoài nếp khăn. Những con bướm đậu trong đám lá khi thấy động bay vụt ra và là lượn quanh khóm dâu trước khi đậu vào một cành khác. Vài con chim khuyên líu lo hót ở một bụi xa xa. Mây trên trời giăng hàng lững thững. Tia nắng mặt trời tỏa từ thấp lên cao. Dòng sông bên cạnh vườn dâu chảy lững lờ. Vài con thuyền đủng đỉnh trôi theo dòng nước.
Các cô ham với công việc. Mỗi lá dâu các cô hái đều là món ăn của tằm, và mỗi con tằm sẽ nhả tơ kết kén, kéo kén dệt lụa, các cô sẽ có những chiếc áo đẹp.
Em đi hái dâu,
Lá dâu xanh xanh,
Nuôi tằm dệt áo dâng anh chờ ngày.
Trúc mai có đó có đây,
Có tay nguyệt lão buộc dây tơ hồng.
Vừa hái dâu các cô vừa nghĩ đến công việc chăn tằm ươm tơ. Lá dâu xanh, tằm ăn dâu, tằm nhả kén vàng, kén ra tơ nõn.
Các cô cùng trò chuyện, nào chuyện làm ăn, nào chuyện làng trên xa dưới, nào lứa kén này được, lứa kén kia hỏng. Các cô làm quên mỏi.
Đôi bàn tay trắng muốt đưa đi trên đám dâu xanh. Hết nhánh dâu này các cô hái sang cành dâu khác, hết khóm dâu này, các cô tới khóm dâu kia. Bao giờ cho lá dâu đầy dành đầy giỏ các cô mới rủ nhau ra về.
Có khi các cô hát cùng nhau vài câu để quên mệt. Giọng các cô vút trên cành lá, văng vẳng xa đưa, lan trên dòng sông. Có những câu hát tâm tình, có những câu hát cổ tích, có những câu ca dao dịu dàng và cũng có những câu hát khôi hài ý nhị. Một cô hát lên, vài ba cô hát đáp, vườn dâu như trở nên linh hoạt hơn. Rồi có tiếng cười hồn nhiên xen vào vài câu chuyện vui vẻ.
Dâu hái về hoặc để nguyên cả lá cho tằm ăn, hoặc phải thái nhỏ từ
khi tằm mới nở cho tới khi đã ngủ ba. Tằm có khi ăn khi ngủ. Lúc tằm nhỏ, phải cho ăn đầy bữa, và lá dâu phải thái thật nhỏ. Tằm lớn dần thì dâu thái bớt nhỏ đi; đến khi tằm ăn rỗi tức là lúc tằm sắp chín, có thể cho tằm ăn cả lá dâu.
Nuôi tằm lúc tằm nhỏ tuy vất vả nhưng không phải chạy dâu, nhưng lúc tằm lớn, phải có sẵn dâu, không thể để tằm thiếu ăn đuợc.
Một bát trứng tằm nở ra, lúc nhỏ chỉ để trong một cái mẹt, rồi theo với sức lớn của tằm phải chuyển sang một chiếc nia, một chiếc nong
rồi nhiều chiếc nong. Một nong tằm khi chín, kéo kén, số kén sẽ được nhiều nong:
Một nong tằm là năm nong kén,
Một nong kén là chín nén tơ,
Công em trăm đợi nghìn chờ,
Mà anh rứt chỉ guồng tơ cho đành.
Nuôi tằm rất khó khăn, phải che nắng che gió, phải phòng nóng phòng lạnh. Trời đang tự nhiên, nếu chuyển gió tây, tằm sẽ bị hỏng.
Có thể tằm mắc bệnh nghệ, nghĩa là toàn thân con tằm vàng như
nghệ, hoặc mắc bệnh ủng, nghĩa là thân con tằm mọng những nước mà chết:
Lạy giời đừng chuyển gió tây,
Lứa tằm em đã đến ngày nhả tơ.
Tằm đã ăn rỗi nghĩa là tằm đã sắp chín. Lúc này là lúc rất cần nhiều dâu cho tằm ăn. Mỗi lá dâu lúc này là một sợi tơ. Thiếu ăn, khi kéo kén, thân kén sẽ mỏng, ươm kén sẽ thiệt tơ. Lúc này là lúc bao nhiêu vườn dâu đặt trước, người nhà phải chia nhau đi hái để đủ cho tằm ăn. Như vậy tằm mới đầy kén, và đượm tơ.
Phương ngôn có câu “Ăn như tằm ăn rỗi”, để chỉ sự ăn nhiều, ăn nhanh, ăn bỗ bã, thật là đúng. Tằm cắn vào lá dâu sào sạo. Lượt dâu vừa vứt vào nong tằm, không mấy chốc đã hết veo, lại phải vứt luôn lượt dâu khác. Thân những con tằm trong óng ánh mọng những tơ.
Người nuôi tằm đã phải vất vả, nhưng nhìn đến kết quả người ta càng chịu khó hơn.
Các cô gái chia lượt nhau đi hái dâu và săn sóc cho tằm ăn. Người nhà cũng phải ngừng nhiều công việc khác để ý giúp đỡ vào lứa tằm.
Rồi đến lúc tằm chín. Loáng thoáng trong nong vài con tằm nhả tơ
cuộn kén. Bấy giờ là lúc phải cho tằm lên né.
Chiếc né tằm giống như một chiếc vỉ lớn bằng chiếc nong, đan bằng tre hoặc nứa. Ở các mắt chiếc vỉ lớn này, có ken rơm. Những con
tằm chín được nhặt từ nong đặt lên trên né, bám vào những cụm rơm để làm kén.
Cảnh bắt tằm chín đặt lên né trông rất linh động. Ở những chiếc nong to, tằm còn đang ăn, người ta chọn những con nào đã bắt đầu nhả tơ kéo kén, nhặt để trên né. Một dãy nong dài đầy tằm, lẫn lá dâu đặt ngay trên mặt đất. Vài cô thiếu nữ tiếp tục vứt dâu cho tằm ăn. Bà nội trợ và vài bà già nữa lựa tằm mang lên né. Lũ trẻ con chạy quanh, bí bô chỉ chỏ, như hình chúng chia vui với kết quả tốt đẹp của lứa tằm sẽ mang lại cho gia đình.
Một dãy né treo theo xà nhà, chừng hai chục chiếc, song song cùng nhau khẽ lắc lư theo sự đụng chạm của người đặt tằm vào né. Những con tằm bám vào cụm rơm, cuộn tổ. Đầu tiên là những chiếc kén vàng mờ mờ mong mỏng, còn để cho ta thấy rõ con tằm qua lượt tơ vàng óng ánh. Rồi chiếc kén đầy dần, hình con tằm không còn lờ mờ qua lượt tơ nữa. Những chiếc kén vàng ánh nằm bên nhau, phủ lên chiếc né. Thật là trồng cây đến ngày ăn quả. Người ta sung suớng nhìn những ổ kén đậm tơ vàng.
Tằm đã lên né hết, và trên né, mỗi con tằm đều là cuốn kén. Người ta bắt đầu gỡ kén để vào nong. Người ta khe khẽ nhặt từng chiếc kén một khỏi cụm rơm để xuống nong. Những chiếc kén dày tơ nhặt trước, và những con tằm bám trên né tiếp tục nhả tơ kéo cho xong chiếc kèn của mình.
Những nong kén đầy, màu vàng óng ánh. Mùi tơ thơm thơm. Từng nong kén một, người ta xếp lên cũi tằm, thay cho những nong tằm không còn nữa. Mỗi nong kén là chín nén tơ, và mỗi nén vài con tằm yếu không kéo tơ nổi, bị rơi xuống đất.
Một lứa tằm xong, người ta như trút xong một gánh nặng. Bao nhiêu là vất vả, bao nhiêu là sự săn sóc, bao nhiêu công trình. Nào thức đêm, nào dãi dầu mưa nắng để hái dâu.
Nhũng nong kén đã xếp lên cũi tằm, lứa tằm mới thật là xong.
Từ nay người ta có thể nghỉ vài bữa để lấy sức và người nhà đã phải phục dịch khi tằm chín, nay có thể quay lại công việc cũ của mình.
Số kén thu hoạch được, người ta có khi đem bán cạ, và sau vài ngày nghỉ lại tiếp tục nuôi lứa tằm mới. Mọi công việc hái dâu, thái dâu cho tằm ăn, lo tằm ngủ lại bắt đầu. Cũng có khi người ta chỉ bán một phần kén, người ta để lại một số để ươm tơ dệt lụa.
Kén cho vào nồi nước sôi, rút cho những sợi tơ gốc và sau đó cho vào guồng ươm để quay lấy tơ nõn. Chỗ tơ gốc kéo ra, lại phải cho vào guồng tơ để quay thành từng con tơ, tiện cho việc dệt lụa nái, đũi hoặc sại. Còn chỗ tơ nõn sẽ dệt ra lụa nõn.
Thường thường những người trồng dâu chăn tằm không tự ươm lấy tơ, nhưng những khi cần có áo quần mặc, họ cũng dành lấy một số kén nhỏ để tự ươm kén kéo tơ.
Xưa kia, họ thường guồng tơ về ban đêm. Trong những lúc phụ nữ
guồng tơ thì các ông chồng đọc sách, ngâm thơ: Sáng trăng giải chiếu hai hàng,
Cho anh đọc sách cho nàng quay tơ.
Quay tơ phải giữ mối tơ,
Dù dăm bảy mối vẫn chờ mối anh.
Thật là một cảnh nên thơ. Chàng ngồi đọc sách, nghĩ tới ngày võng anh đi trước, võng nàng đi sau, trong khi nàng guồng tơ đều tay, sợi tơ theo đà tay cuốn lên chiếc guồng quay lạch cạch một nhịp đều đều.
Ngọn đèn le lói như soi tỏ sự cố gắng của đôi người. Chàng lo làm sao cho kinh sử làu thông, một ngày kia danh chiếm bảng vàng, trước là bõ công đèn sách, sau là báo đền công sinh dưỡng của mẹ cha, và sau nữa là làm vinh dự cho người vợ cần cù, nuôi chồng ăn học, mải đêm lo ngày với chiếc guồng tơ, với nong tằm chín, với bao nhiêu sự
vất vả nhọc nhằn. Nghĩ đến ngày vinh qui bái tổ, làng nước mừng, họ
hàng khen, chàng càng cao giọng đọc sách.
Còn nàng cố công lo làm ăn, guồng tơ cho đều tay, dệt những tấm lụa nõn. Lụa sẽ may áo cho chồng, lụa sẽ đem bán, thêm tiền cho chồng kinh sử. Có phút nào nhàn, nàng lại lo việc thêu thùa may vá, như suốt từ thời con gái:
Gái thì giữ việc trong nhà
Khỉ vào canh cửi khi ra thêu thùa.
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dùi mài kinh sử để chờ dịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân.
Cái thời xưa đã qua, nay không còn nửa. Không còn câu chuyện: Trai thì đi học đỗ ba khoa liền
Khoa trước thì đỗ trạng nguyên
Khoa sau tiến sĩ đỗ liền ba khoa
Vinh qui bái tổ về nhà
Ăn mừng hai họ đủ ba tháng tày
Hàng phủ, hàng huyện đông tây
Rủ mừng quan Trạng tới ngày hiến vinh.
Những người dân quê miền Bắc dù xưa hay nay, bản tính vẫn không bao giờ thay đổi.
Đàn ông thì ham học, phụ nữ ham làm. Nam nữ đều lo tới bổn phận của mình. Những bản tính thuần chất Việt Nam mặc mọi cuộc biến thiên vẫn tồn tại với xứ sở. Người dân quê vẫn trồng dâu chăn tằm, guồng tơ dệt lụa, vẫn có mối tình thắm thiết với xứ sở, cái mối tình nó đã làm cho dân tộc Việt được trường tồn.