THỬ VĂNPart 6

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Ông Tiên chỉ sau bữa tiệc ở đình làng, ngay chiều hôm đó đã mời cả Vũ

Cảnh lẫn đô Giang về nhà mình. Ông lại sai người nhà làm cơm để thết đãi quý khách, tuy ba người vừa mới dứt bữa tiệc làng chưa được mấy giờ.

Đêm hôm đó, đô Giang cũng ngủ lại nhà ông Tiên chỉ để cùng ông và Vũ

Cảnh đàm luận hầu như gần suốt sáng về thời cuộc về những công việc mỗi người chia nhau sẽ làm để đáp ứng lời hiệu triệu Cần Vương của cụ Phan Đình nguyên, và cũng tạo một sức mạnh cho đội quân của ông Đề Thám ở

vùng Yên Thế.

Một già, hai trẻ, câu chuyện sao mà tâm đầu ý hợp, và họ chỉ ngừng câu chuyện để thỉnh thoảng hút điếu thuốc lào hoặc chiêu ngụm nước. Ồng Tiên chỉ, một bậc túc nho, từ trước vẫn có tâm với đất nước, nhưng chung quanh chẳng có ai đồng chí, nên lòng yêu nước của ông chỉ âm thầm, không phát hiện, may được Vũ Cảnh nói rõ việc làm của mình, việc làm này lại được đô Giang hưởng ứng, ông tự thấy lòng phấn khởi và cũng tự

có bổn phận phải tham gia vào công việc của hai bạn trẻ. Ông nhận sẽ đài thọ mọi chi phí cho nghĩa quân do đô Giang sẽ đứng lên triệu tập, và ông sẽ

bỏ tiền để Vũ Cảnh và đô Giang tìm mua khí giới cho nghĩa quân. Chính nhà ông sẽ là nơi liên lạc của Vũ Cảnh với các thanh niên hưởng ứng lời kêu gọi của cụ Phan. Ông vuốt râu bảo hai bạn trẻ:

- Lão già rồi, rất tiếc không đảm nhiệm được những công việc của anh em thanh niên, nhưng tài sản của lão đấy lão không tiếc, miễn làm sao đóng góp được ít nhiều vào việc lớn! Cần, lão sẽ bán trâu, bán ruộng và có thể

bán cả nhà để lấy tiền cho anh em tiêu dùng vào việc phải làm.

Vũ Cảnh và đô Giang rất thán phục thái độ của ông, và cả hai đều nguyện đem thân mình hy sinh. Một người trong công việc vận động thanh niên trong hai vùng Tam Đái và Kinh Bắc, còn một người liên lạc với các tay đô vật trong vùng để thực hiện lớp huấn luyện võ nghệ và quân sự cho những ai sẽ gia nhập đoàn nghĩa quân.

Sáng hôm sau, đô Giang về ngay Vị Thanh xúc tiến việc thành lập lớp huấn luyện, còn Vũ Cảnh thì lưu lại tạm trú nơi nhà ông Tiên chỉ.

Ông Tiên chỉ dành cho họ Vũ một gian phòng riêng ở ngay đầu nhà ngang, trông ra một vườn hoa rất trang nhã. Ở đây, Vũ Cảnh có thể ở riêng biệt với sự tĩnh mịch và sự kín đáo cần thiết cho công việc. Hàng ngày hai bữa cơm, thường có rượu, ông Tiên chỉ mời Vũ Cảnh cùng dùng với mình, và trong những lúc này Vũ Cảnh trình bày cùng ông về những việc mình làm.

Nhà ông Tiên chỉ lại có nhiều sách, sách cổ và cả sách kim để Vũ Cảnh có thể đọc trong những lúc ở nhà.

Thường thường Vũ Cảnh sáng sớm đã ra đi, chiều tối mới về, có khi chàng đi vắng năm ba ngày liền, cũng có khi chàng ở nhà đôi ba ngày.

Chiều nào ông Tiên chỉ cũng có ý chờ Vũ Cảnh về mới ăn cơm uống rượu.

Vũ Cảnh không về ông ăn cơm rất muộn, và cơm nước xong, ông đọc sách hoặc có khi ông yên lặng trầm tư hàng giờ.

Những ngày Vũ Cảnh ở nhà thường hay có khách tới, và những khách này đều được ông Tiên chỉ đón tiếp như chính khách của mình với đủ cơm rượu thịnh soạn và có những khách chỉ mới gặp lần đầu, do lời giới thiệu của Vũ Cảnh, ông Tiên chỉ đã chuyện trò thân mật ngay với họ như với những bạn cố tri. Người nhà chỉ hầu hạ trong việc tiếp đãi khách, không biết khách là ai và cũng không hiểu câu chuyện thân mật giữa chủ khách là chuyện gì.

Những hôm nào không có khách, Vũ Cảnh thường đọc sách ngâm thơ.

Những lúc này, chàng thật là một nho sĩ thuần túy với khăn lượt, áo the dài và quần lụa bạch và đôi giày Gia Định. Không ai dám bảo chàng là một tay đô vật tài ba đã khiến đô Giang phải phục và tự nhận là thua.

Nói chuyện với ông Tiên chỉ, ngoài những câu chuyện về thời cuộc và những hoạt động của mình, nhiều lúc hai người lại bàn chuyện văn chương sách vở, chuyện đạo đức thánh hiền qua Tứ thư, Ngũ kinh.

Ông Tiên chỉ- một chân Nhị trường, lẽ tất nhiên phải biết nhiều hiểu rộng về tinh hoa đạo đức và nghĩa lý Đông phương, nhưng Vũ Cảnh cũng luôn tỏ ra mình là người học nhiều, đã tham bác đủ cổ kim. Có nhiều điều chàng biết mà ông Tiên chỉ không biết tới, những học thuyết Tây phương đã được dịch sang chữ Hán ông Tiên chỉ chưa có dịp đọc tới.

Giọng ngâm thơ chàng sang sảng, đúng giọng của những thầy Khóa bình văn đã từng quyến rũ biết bao nhiêu nhan sắc. Ngâm thơ, nhưng Vũ Cảnh ít ngâm những bài thơ về tình cảm, dù đó là những danh tác thời xưa, chàng thường hay ngâm những vần thơ xã hội của Đỗ Phủ hoặc những bài thơ

hùng tráng của những danh sĩ Việt Nam. Chàng hay ngâm bài thơ của Đặng Dung và lòng chàng cũng rất kính phục Đặng Dung, người đã hết lòng phò Trần Quý Khoách, tức là vua Trùng Quang chống lại quân Trương Phụ nhà Minh sang xâm lấn nước Việt ta. Khi yếu thế, Đặng Dung đã bị bắt và tử

tiết, ông cũng như cha ông là Đặng Tất, hết lòng với vua và nước, tuy không thành công, nhưng tiếng thơm còn lưu muôn thuở làm gương cho hậu thế.

Bài thơ của Đặng Dung rất được truyền tụng và Vũ Cảnh thường ngâm thơ, muốn nhắc nhở mình phải trông gương người xưa, không được thoái chí trước mọi khó khăn:

Thế sự du du nại lão hà?

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca!

Thời lai đồ điếu thành công dị,

Sự khứ anh hùng ẩm hận đa!

Trí chủ hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn Thiên hà!

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma

Bản dịch của Trần Trọng Kim:

Việc đời bối rối tuổi già vay Trời đất vô cùng một cuộc say Bần tiện gặp thời lên cũng dễ

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay

Vai khiêng trái đất mong phò chúa

Giáp gột sông trời khó vạch mây

Thù trả chưa xong đầu đã bạc,

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

Cũng đôi khi chàng ngâm một vài bài Đường thi có giá trị như bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu và cả bài Đăng Kim Lăng Phượng hoàng đài của Lý Bạch nữa. Chàng tưởng nhớ đến quê hương trong lúc gót mãi phong trần trên đất nước để lo nhiệm vụ của người dân trong lúc quốc gia gặp thời điên đảo. Chàng hay ngâm những bài thơ này vào lúc xế chiều, lúc lòng nhớ quê hương nổi dậy:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch Vân thiên tải không du du

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Dịch nghĩa:

Người xưa cưỡi hạc tếch đâu đâu

Mảnh đất trơ trơ chiếc Hạc lầu

Một tếch hạc vàng biền biệt mãi,

Ngàn năm mây trắng lững lờ trôi

Hán Dương cây thắm sông yên lặng

Anh Vũ cồn xanh cỏ dãi dầu

Quê quán nơi nào chiều bảng lảng

Mặt sông khói gợn ngắm thêm sầu

Vũ Cảnh ngâm thơ, chịu cái hay của bài thơ. Trong lúc cao hứng đôi khi chàng nói cùng các bạn khen ngợi bài thơ.

Hoàng Hạc lâu ở gần Vũ Xương còn Phượng Hoàng đài nay ở trong Thành Kim Lăng. Tương truyền vào khoảng đời Nam Bắc Triều, người ta thấy giống chim ngũ sắc đậu ở gần Kim Lăng, bèn gọi chim là Phượng Hoàng, và dựng ở chỗ đó một cái đài gọi là Phượng Hoàng Đài.

Thôi Hiệu vịnh lầu Hoàng Hạc, bất tử với bài thơ. Sau này Lý Bạch có một lần lên Hoàng Hạc lâu, muốn đề thơ thấy Thôi Hiệu đã vịnh trước một bài, còn đề ở trên tường, khen là tuyệt, liệng bút không đề nữa. Sau tới Phượng Hoàng Đài ông làm bài thơ Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài có ý muốn ganh với Thôi Hiệu.

Ngâm bài thơ của Thôi Hiệu, Vũ Cảnh cũng thường ngâm luôn bài thơ

của Lý Bạch:

Phượng Hoàng đài thượng Phượng hoàng du

Phượng khứ đài không giang tự lưu

Ngô cung hoa thảo mai u kính

Tấn đại y quan thành cổ khâu

Tam san bán lạc thanh thiên ngoại,

Nhị thủy trung phân bạch lộ châu

Tổng vị phù vân năng tế nhật

Tràng an bất kiến sử nhân sầu

Bản dịch của Nguyễn Văn Ba 8 9 10

Phụng Hoàng đến chơi đài Phụng Hoàng

Phụng đi, đài trống, sông tự trôi

Hoa thảo cung Ngô vùi lối vắng.

Y quan đời Tấn thành gò xưa

Tam sơn nửa lọt ngoài trời xanh.

Nhị thủy trong chia Bạch lộ châu

Những vì mây nổi che khuất nhật.

Không thấy Trường An, khiến người sầu.

Là con người văn tự thì Vũ Cảnh ngâm thơ đọc phú, thật ra chàng cũng không chú ý nhiều lúc này tới văn thơ. Có thể đôi khi chàng dùng văn thơ

để tiện việc liên lạc với anh hùng hào kiệt, rồi nhân đó chàng mới đề cập tới vấn đề hiện tại, và nhiệm vụ của mỗi người dân trước cái họa mất nước.

Cũng đôi khi, chàng dùng thơ phú để giải khuây, và trong lúc ngâm thơ, miệng ngâm nhưng đầu óc thường suy tính tới những việc chàng phải làm.

Ở nhà ông Tiên chỉ xã Hội Hợp thỉnh thoảng chàng cùng ông Tiên chỉ

bàn luận văn chương, nhưng bàn luận đấy rồi bỏ đấy, rất ít khi chàng lưu tâm tới những câu chuyện này.

Chàng không lưu ý tới, nhưng dường như ông Tiên chỉ hằng để tâm tới tài văn học của chàng và cũng xét chí khí chàng qua những câu chuyện vãn chương.

Ông Tiên chỉ có nói về thi cử để dưỡng thanh danh hiển phụ mẫu. Chàng vẫn nhắc lại quan niệm của chàng đối với thi cử lúc đó, như lời chàng đã trình bày trong bữa rượu làng, lần đầu tiên hội kiến với ông Tiên chỉ có cả

sự hiện diện của ông Thứ chỉ và đô Giang. Tuy nhiên chàng cũng tỏ bày cùng ông Tiên chỉ là sau này chàng sẽ ứng thí nếu có sự thành công của những đạo quân Cần Vương, giặc Pháp sẽ phải rời bỏ đất nước và chủ

quyền lại thực sự về tay người Việt qua triều đình. Chàng nói:

- Lúc đó vãn sinh mới ứng thí, và thiên tử cầu hiền mới thực sự tìm nhân tài giúp nước, chứ còn giờ đây, thi cử có đỗ đạt, thì lại đi làm tay sai cho lũ

giặc ngoài, điều này thưa lão bá, vãn sinh không bao giờ làm!

Ông Tiên chỉ phục chàng là người có chí khí và đã từng luôn luôn khen chàng học rộng văn hay và kiến thức đáng kể.

Ông Tiên chỉ để ý đến tài học của chàng đã đành, mà hình như ngoài ông Tiên chỉ ra, ở đây còn có người khác cũng lưu ý tới văn chương và cũng từng nghe chàng ngâm thơ hoặc thầm theo dõi chàng đọc sách. Chàng chỉ

đọc sách về đêm, còn ban ngày chàng luôn luôn đi vắng để theo đuổi công việc của mình.

Một hôm, chàng đi Bạch Hạc, tức là Phong Châu cũ. Buổi sáng trước khi ra đi, uống trà cùng Tiên chỉ, chàng nói rõ mình đi đâu và cho biết ngay chiều hôm đó chàng sẽ trở về.

Cũng như mọi ngày ra đi chàng khép cửa phòng, vì sự tế nhị chàng không tiện khóa phòng, nhưng bao nhiêu giấy tờ cần giữ kín, chàng đã giấu vào một nơi kín trong phòng.

Chiều hôm ấy, khi từ Bạch Hạc trở về, chàng rất ngạc nhiên thấy dán trước cửa phòng một vế câu đối viết trên giấy hồng điều. Chữ viết bằng một thứ mực tốt đen lánh, và nét chữ trông tuy già giặn nhưng lại rất mềm mại, chứng tỏ đây là nét chữ đàn bà. Vế câu đối đề rằng: Hán mạt nhất thời vô nghĩa sĩ

Nghĩa:

Nhà Hán lúc mạt vận một thời không nghĩa sĩ.

Người viết câu đối có ý chê chàng không phải là một nghĩa sĩ, nhắc lại giai đoạn Hán mạt, giai đoạn tiền Tam quốc, đã không xuất hiện anh hùng nghĩa sĩ để phò vua cứu nước, đến nỗi hết loạn Khăn Vàng, họa Thập Thường thị lại đến họa Đổng Trác, và sau cùng là Tào Tháo uy hiếp nhà vua.

Có lẽ người ra vế câu đối muốn thử tài văn chương nhưng đồng thời cũng muốn hiểu biết chí khí của chàng. Có lẽ người này không rõ công việc chàng đang theo đuổi nên dùng vế câu đối để khích chàng!

Đọc xong vế câu đối, chàng gật gù mỉm cười. Vì trời còn sớm, chàng nhờ một người nhà ông Tiên chỉ ra ngôi hàng xén đầu làng mua giúp chàng một tờ giấy hồng điều.

Không hiểu sau bữa cơm chàng đã loay hoay thế nào với xấp giấy hồng điều, nhưng sáng hôm sau, người nhà ông Tiên chỉ đã thấy dán thêm hai vế

câu đối nữa, một vế để đối vế ra. Vế đó như sau: Nguyễn suy tam kỷ hữu anh hùng.

Nghĩa:

Nhà Nguyễn khi suy vi ba kỷ có anh hùng.

Mỗi kỷ là 12 năm, ba kỷ là 36 năm. Ý Vũ Cảnh muốn nói, nhà Nguyễn trong khi suy yếu, từ 36 năm nay vẫn có anh hùng với các đội quân Cần Vương, và giờ đây với những nghĩa quân của cụ Phan Đình Phùng và của ông Đề Thám. Và chàng cũng có ý tự nói về mình, trong lúc non sông

nghiêng ngửa, chàng đâu có sợ nguy nan, chàng vẫn mạo hiểm đi chiêu dụ

nghĩa quân cho đạo quan của ông Đề.

Ý trong vế đối trên lại được bổ túc qua một vế câu đối chàng ra cho người đã ra đối trước. Vế này như sau:

Điểu thê cát địa ngôn phi mậu.

Nghĩa:

Đất lành chim đậu, lời nói không sai.

Với vế câu đối này, Vũ Cảnh có ý bảo cho người ra câu đối biết, đây là đất lành, chàng ngừng chân lại để hoạt động. Dừng bước ở Hội Hợp, không phải để chàng hưởng thú an nhàn với ngâm thơ, đọc sách. Chàng dừng bước nơi đây, vì đây là đất lành, thuận tiện cho công việc của chàng. Đất Tam Đái lắm anh hùng hào kiệt, người Tam Đái vốn dũng cảm và nghĩa khí!

Chàng dán hai vế câu đối, vế đối song hàng với vế đã ra trước, còn vế ra, chàng dán riêng biệt, và dành chỗ cho người đối dán vế đối của mình.

Sáng hôm ấy, chàng cũng được ông Tiên chỉ mời sang uống trà. Chén trà nóng làm chàng ấm lòng giữa trời xuân còn lạnh. Chàng yên trí thế nào trong lúc dùng trà, ông Tiên chỉ cũng đề cập tới vế câu đối dán trước cửa phòng chàng từ chiều hôm trước, nhưng suốt buổi trà, ông Tiên chỉ nói những chuyện đâu đâu và chỉ hỏi han về công việc của chàng, không hề đả

động gì tới vế câu đối, ông không nhắc tới nên chàng cũng không tiện hỏi.

Sau buổi trà sớm, chàng từ biệt ông Tiên chỉ để đi Vĩnh Tường gặp mấy người đã hẹn. Vĩnh Tường không xa Hội Hợp bao nhiêu, nên độ cuối giờ

Mùi, chàng đã trở về. Lúc này, ba vế câu đối đỏ dán trước cửa phòng đã thành bốn, vì người ra cho chàng vế câu đối hôm trước đã đối lại vế câu đối chàng mới dán sáng nay. Đối rằng:

Nhân hữu đồng thanh chí bất cô 11

Nghĩa:

Người có bạn đồng thanh chí không cô quạnh

Vẫn nét chữ mềm mại, đẹp và già giặn với vẫn thứ mực đen lánh trên giấy hồng điều. Qua nét chữ mềm mại, Vũ Cảnh nhận thấy cái gì rất tâm

tính của tác giả vế đối.

Chàng đọc kỹ lại cả hai câu đối gật gù bước vào, vừa đi vừa như có dáng suy nghĩ. Chàng chắc đây là một phụ nữ, không hiểu nhiều hay ít tuổi, mà rất có chí khí. Phụ nữ này biết rõ công việc chàng làm, và vế câu đối ra hôm trước chỉ là để thử tài chàng.

Đọc câu đối lại vế đối chàng mới dán ngoài cửa phòng buổi sáng, chàng thấy văn tài của người đối đọc thấy cả qua bẩy chữ, ý muốn của nàng là hưởng ứng công việc chàng đang làm.

Chàng rất cảm phục, và chàng cũng lại rất muốn gặp mặt để bày tỏ cảm tình.

Dù trong lòng nung nấu ý chí giết giặc ngoại xâm, nhưng chàng trẻ tuổi nhiều lúc cũng tự cảm thấy cô đơn trong bước giang hồ. Những buổi chiều mặt trời dần khuất, gió lạnh thổi lên, làn khói lam bốc từ một mái rạ xa xa, đó là những lúc chàng nhớ nhà, nhớ mẹ già và mấy em nhỏ. Những lúc này, chàng cảm thấy trơ trọi vô cùng. Giá có một giai nhân để đàm luận có lẽ

cũng là một điều chàng muốn, nhưng dù muốn, chàng cũng chỉ gạt cái muốn sang một bên, đặt nhiệm vụ lên trước hết. Trong bước đường nguy hiểm gian lao chàng đang tự chuốc lấy, đã biết bao lần chàng bắt gặp những nụ cười, những khóe mắt, nhưng bắt gặp để mà qua đi, không chút gì lưu luyến.

Chàng nhớ lại, trước khi dấn thân trên đường khó khăn, cha chàng đã khuyên:

- Việc con định làm là việc lớn, và rất nguy hiểm. Cha chẳng biết bảo con nên là thế nào, con phải tùy hoàn cảnh mà ứng phó, nhưng có một điều cha căn dặn: con phải biết sợ những cái nhìn quyến rũ, những nụ cười tươi thắm của đàn bà con gái, nhất là của những người có nhan sắc. Đấy là cái bẫy và đấy cũng là vực thẳm nghe con!

Mẹ chàng không muốn con ra đi, muốn con ở nhà rồi bà cụ sẽ lo cưới vợ

cho con để sớm có cháu bồng. Bà cụ bảo con:

- Con còn trẻ người non dạ, tài lực bao nhiêu sao dám lo việc triều đình!

Thôi con ở nhà theo nghiệp nhà, cố học hành mà thi cử rồi mẹ lo tiểu đăng khoa cho con.

Chàng không nói gì, sợ mẹ buồn, nhưng cha chàng đã bảo vợ:

- Làm tài trai gặp lúc nước non nguy khốn, không tự dấn thân cứu nước, còn đợi ai! Thôi bà để con nó đi! Việc lớn, bà đừng gàn.

Chàng ra đi, lời cha dặn luôn luôn văng vẳng bên tai và hình bóng mẹ

cũng luôn luôn hiện trong trí óc. Những lúc chàng mải mê với công việc, chàng không nghĩ đến gia đình, nhưng con người dù bận đến đâu, thỉnh thoảng cũng có đôi lúc rỗi rãi ngắn, và những lúc này chính là lúc chàng cảm thấy trong lòng trống rỗng.

Chiều hôm nay, ở Vĩnh Tường về, chàng đã giải quyết xong cùng các đồng chí vài công việc khó khăn đã gặp phải. Chàng vui sướng vì sự thành công trong hoạt động, nhưng sau phút vui vì nhiệm vụ ấy, lòng chàng lại thấy mang mang buồn nhớ thương trấn Sơn Nam Hạ, chàng nhớ quê nhà với những cánh đồng bát ngát, cha mẹ già chắc đang ngóng trông mình.

Về đến trước phòng, những nét chữ mềm mại trên hai vế câu đối, và nhất là ý xuất ra từ vế đối lại câu của chàng ra! Người phụ nữ nào mà chí khí nam nhi thế; với chí khí ấy, lại thêm văn tài ấy, chàng đoán đây chắc là một thiếu nữ, mà lại là một thiếu nữ xinh đẹp.

Chàng dừng chân trước cửa phòng ngắm những nét chữ mềm mại, màu mực đen càng tăng vẻ già giặn của nét chữ. Chàng lẩm nhẩm đọc cả đôi câu đối, vế của chàng và vế đối:

Điểu thê cát địa, ngôn phi mậu. Nhân hữu đồng thanh, chí bất cô

Và chàng tự dịch:

Đất lành chim đậu lời xưa đúng. Tương ứng đồng thanh chí chẳng riêng!

Chàng thấy vế đối thật hay và thật có ý nghĩa!

Ngắm chán những hàng chữ đen trên giấy hồng, chàng thong thả đẩy cửa, từ từ bước vào phòng.

Việc đầu tiên, chàng với chiếc điếu bát hút điếu thuốc lào cho ấm bụng.

Tiếng điếu kêu ròn ròn làm chàng như cảm thấy có cái gì êm ái hài lòng, và tự nhiên chàng linh cảm như sẽ có cái gì tốt đẹp sắp tới với chàng.

Chàng khe khẽ ngâm thơ, vừa ngâm thơ vừa thay bộ áo ngoài quá nặng, ra ngoài chống cái lạnh của trung du, chàng mặc áo ấm, thường là áo bông, thứ áo có lõi bông giữa hai làn vải trong và ngoài.

Chàng hút thêm điếu thuốc lào thứ hai, với chiếc ấm nhỏ, rót chén nước để chiêu hơi thuốc. Chỉ tiếc nước không được nóng lắm, để phù hợp với cái khí ấm tạo ra bởi điếu thuốc lào.

Vào lúc ấy, ông Tiên chỉ đẩy cửa bước vào, Vũ Cảnh nghiêng mình chào.

Ông Tiên chỉ nói:

- Hôm nay thầy Khóa về sớm nhỉ!

- Thưa lão bá, hôm nay vãn sinh đi Vĩnh Tường gần đây, nên công việc xong về được sớm. Vãn sinh gặp mấy anh bạn đồng chí để bàn về việc đưa thêm nghĩa quân lên Yên Thế và cũng nghiên cứu vấn đề huấn luyện quân sự của những người này. Mọi việc đều tốt đẹp. Vãn sinh hy vọng có sự

thành công.

Ông Tiên chỉ nói:

- Thế thì lão cũng mừng! Sự thành công của thầy Khóa là sự thành công của đất nước! Nếu thanh niên nước nhà ai cũng có tâm huyết như thầy Khóa, đất nước lo gì sự đô hộ của ngoại bang. Chợt ông nhìn đến chén nước đã nguội Vũ Cảnh đang uống dở. Ông bảo Vũ Cảnh:

- Lũ trẻ tệ thế, biết thầy Khóa về mà chúng không mang lên ấm nước nóng để thầy Khóa dùng.

- Thưa lão bá, nước chưa nguội hẳn, còn ấm ấm, ở ngoài lạnh vào, uống cũng thấy ấm bụng rồi! Xin lão bá chớ quan tâm, e phiền người nhà quá.

- Có gì mà phiền! Thầy Khóa ở đây với lão là một điều hân hạnh cho lão, lão rất mến phục chí khí và tài năng của thầy Khóa.

Vũ Cảnh đoán ông Tiên chỉ sắp đề cập tới hai đôi câu đối nơi ngoài cửa, nhưng ông tuyệt nhiên không đả động gì tới, ông lại bảo chàng:

- Hôm nay lão tới đây để muốn khoe với thầy Khóa một bài thơ và muốn nhờ thầy Khóa xem có chỗ nào thiếu sót thì phủ chính giùm.

Vũ Cảnh nói:

- Lão bá chớ dạy quá lời! Vãn sinh học hành được bao nhiêu mà dám nói chuyện thơ văn với lão bá!

Ồng Tiên chỉ cười và nói:

- Thầy Khóa khiêm tốn quá! Văn tài xã Mộ Trạch từng vang lừng khắp trong nước, nhất là văn tài họ Vũ! Mấy lại bài thơ này của lão là một bài thơ Nôm. Nôm na là cha mách qué, nhưng không làm thơ chữ Hán được lão làm thơ Nôm vậy.

- Thưa lão bá, thơ Nôm mới khó, và chữ Nôm mới chính là chữ của dân tộc. Vãn sinh thấy Hoàng đế Quang Trung quả thật là người sáng suốt muốn dùng chữ Nôm thay chữ Hán! Chỉ tiếc ngài mất quá sớm, con ngài lại là người bất tài, nếu không đất nước ta đâu đến nỗi như ngày nay.

Rồi chàng chép miệng. Ông Tiên chỉ, dáng chừng lạnh với cái điếu rít một hơi thuốc lào dài! Rít xong hơi thuốc, ông ngửa mặt, thở hơi khói dài, khói tỏa bay như con rồng vờn không khí.

Vũ Cảnh nói tiếp:

- Bài thơ của lão bá chắc phải hơn người và phải đầy ý nghĩa, xin lão bá đọc cho vãn sinh được thưởng thức!

Ông Tiên chỉ cười nói:

- Chẳng biết có hơn người và có ý nghĩa không, nhưng lão muốn diễn tả

tâm tư của lão qua mấy vần thơ. Lão đọc thầy Khóa nghe nhe! Lão đặt tựa đề bài thơ là ĐÊM SÂU VẮNG:

Trằn trọc giường khuya nỗi nhớ nhà

Tủi chăn, hổ gối, thẹn lòng ta!

Trăng vào du12 ngủ, màn ngăn lại.

Sương đến chung buồn, gió hắt ra.

Ngoài muỗi than van chia cảnh vắng,

Trong tim thao thức đợi canh tà.

Đêm dài đêm hỡi sao dài quá

Cám cảnh non sông, hận tuổi già13

- Ấy, thơ lão nôm na, thầy Khóa đừng chê nghe!

- Vãn sinh đâu dám! Với lời thơ, lão bá đã nói lên được tâm sự mình. Đêm dài đây, đâu có phải lão bá có ý muốn nói đêm từ tối đến sáng, mà chính

lão bá đang mong sự thành công của công cuộc cách mạng Cần Vương, sự

thành công lâu tới, kéo dài sự thống trị của người Pháp qua lũ tay sai!

Ông Tiên chỉ gật gù nói:

- Thầy Khóa thực đoán trúng tâm tư của lão!

Vừa lúc ấy, một tên người nhà xách lên siêu nước nóng, hắn thay trà pha ấm nước cho Vũ Cảnh, ông Tiên chỉ hỏi:

- Thế nào, cô mày sửa soạn mâm rượu xong chưa?

- Bẩm cụ, cô con sắp cho dọn lên, mời cụ và thầy về phòng!

Ông Tiên chỉ quay lại bảo Vũ Cảnh:

- Người nhà nó vừa đánh bẫy được con gà rừng, lão bảo chúng làm mâm rượu để lão với thầy Khóa ta cùng nhắm! Trời hôm nay lạnh uống rượu cho nóng người, thầy Khóa ạ! Tửu năng dẫn huyết, uống rượu cho khí huyết lưu thông, kẻo lạnh quá, máu chảy không đều mình sinh mệt mỏi!

Mời thầy Khóa sang phòng tôi.